cơ hội và thách thức của ngành chăn nuôi heo việt nam trong khối tpp - Pdf 43

z

1


TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP.HCM
KHOA KINH TÊ



BÁO CÁO KINH TÊ PHÁT TRIỂN
CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC CỦA NGÀNH CHĂN NUÔI HEO
VIỆT NAM TRONG KHỐI TPP

GVHD: ThS. TRẦN MINH TRI

TP. Hồ Chí Minh, tháng 5 năm 2016

MỤC LỤC
2


3


PHẦN 1: GIỚI THIỆU
I.

Tổng quan về Hiệp định Đối tác Kinh tế Chiến lược
xuyên Thái Bình Dương TPP
Hiệp định Đối tác Kinh tế Chiến lược xuyên Thái Bình

Hiệp định TPP có phạm vi điều chỉnh rộng, bao gồm cả hàng
hóa, dịch vụ (chưa bao gồm dịch vụ tài chính do được đàm phán
sau), vệ sinh an toàn thực phẩm (SPS), rào cản kỹ thuật (TBT), chính
sách cạnh tranh, sở hữu trí tuệ, mua sắm chính phủ và minh bạch
hóa. Ngoài ra, còn có một chương về hợp tác và 02 văn kiện đi kèm
về Hợp tác Môi trường và Hợp tác Lao động.
Theo thỏa thuận, các bên tham gia P4 sẽ tiếp tục đàm phán và
ký 02 văn kiện quan trọng về đầu tư và dịch vụ tài chính, chậm nhất
là sau 02 năm kể từ khi P4 chính thức có hiệu lực (tức là từ tháng 3
năm 2008).
Điểm nổi bật nhất của P4 là tự do hóa rất mạnh về hàng hóa.
Thuế nhập khẩu được xóa bỏ hoàn toàn và phần lớn là xóa bỏ ngay
từ khi Hiệp định có hiệu lực.
Về dịch vụ, P4 thực hiện tự do hóa mạnh theo phương thức
chọn-bỏ. Theo đó, tất cả các ngành dịch vụ đều được mở, trừ những
ngành nằm trong danh mục loại trừ.
2. Hiệp định TPP mở rộng

Từ năm 2008 - 2013, từ 4 nước ban đầu, P4 đã thu hút thêm 8
nước tham gia là Mỹ (9/2008), Australia, Peru (11/2008), Malaysia
(10/2010), Việt Nam (11/2010), Mexico, Canada (6/2012) và Nhật
Bản (7/2013), nâng tổng số thành viên lên 12 nước.
3. Quá trình đàm phán

Sáng 4/2/2016, tại thành phố Auckland, New Zealand, dưới sự
chứng kiến của Thủ tướng nước chủ nhà John Key, Bộ trưởng Thương
mại và Kinh tế của 12 nước thành viên tham gia Hiệp định đối tác
xuyên Thái Bình Dương (TPP) đã đặt bút ký vào văn bản này, đánh

5

chuyên gia pháp lý.
6


Những điều chỉnh này nhằm đảm bảo nội dung được đưa ra ký
kết chính thức phù hợp hơn với quy định pháp lý quốc tế cũng như
quy định trong nước của các nước TPP, không ảnh hưởng đến bản
chất nội dung đã cam kết.

7


II.

Ngành nông nghiệp Việt Nam khi tham gia TPP
1.

Cơ hội

Trải qua 30 năm đổi mới, từ một nền kinh tế phải tái thiết sau
chiến tranh với bộn bề những khó khăn, Việt Nam đã lột xác vươn
mình ra thế giới. Trong đó phải kể đến ngành Nông nghiệp Việt Nam
đã có những bước phát triển vượt bậc khi tăng trưởng GDP của khu
vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản đạt bình quân 3,7%/năm, là
mức cao trên thế giới và toàn khu vực.
Ngành Nông nghiệp còn được kỳ vọng sẽ phát triển vượt bậc
hơn nữa trong tương lai khi tham gia Hiệp định TPP. Bởi vì, Hiệp định
TPP cho phép nông nghiệp Việt Nam tiếp cận thị trường 15.300 tỷ
USD của Mỹ và 300 tỷ USD của Canada, Peru và Mexico, dự báo sẽ
giúp tăng thêm 35,7 tỷ USD, tương đương 10,5% GDP cho riêng Việt


Theo đánh giá của các chuyên gia kinh tế, bên cạnh những cơ
hội, TPP cũng tạo ra những thách thức không nhỏ đối với nền kinh
tế Việt Nam, trong đó là áp lực cạnh tranh gay gắt.
Ngoài các mặt hàng nông sản chủ lực có lợi thế như thủy sản,
cà phê, tiêu, gạo… ngành Chăn nuôi Việt Nam nằm trong nhóm ít có
thuận lợi nhất trong 12 nước tham gia TPP. Do đó, khi TPP mở cửa thì
những sản phẩm chăn nuôi của Việt Nam sẽ chịu sự cạnh tranh khốc
liệt. Nếu như sản xuất ngành chăn nuôi duy trì quy mô nhỏ như hiện
nay thì chắc chắn sẽ thua. Không những vậy, việc giảm thuế đối với
các nước thành viên TPP sẽ dẫn đến sự gia tăng nhanh chóng nguồn
hàng nhập khẩu từ các nước TPP vào Việt Nam do giá thành rẻ hơn,
chất lượng và mẫu mã đa dạng, phong phú hơn. Sản phẩm nông
nghiệp và các doanh nghiệp, nông dân Việt Nam đứng trước sự cạnh
tranh gay gắt trong khi đó, các hàng nông sản và nông dân là những
đối tượng dễ bị tổn thương nhất trong hội nhập…
Khi các nước thực hiện cam kết TPP, hàng rào thuế quan sẽ bị
xóa bỏ. Lúc này, hàng rào phi thuế quan sẽ trở nên phổ biến hơn,
yêu cầu về chất lượng sản phẩm cũng khắt khe hơn. Đây cũng là
một trong những điểm yếu đối với sản xuất nông nghiệp của Việt
Nam. Thực tế cho thấy, trong giai đoạn vừa qua, hàng hóa nông sản
của Việt Nam đang gặp khó khăn trong việc tiếp cận thị trường thế
giới do vướng phải hàng rào kỹ thuật thương mại và biện pháp vệ
sinh dịch tễ. Để bảo hộ hàng hóa trong nước, Việt Nam tất yếu cũng
sẽ áp dụng các hàng rào phi thuế quan. Rào cản kỹ thuật chưa có
hoặc rào cản kỹ thuật kém cũng sẽ khiến cho thị trường nội địa gặp
bất lợi. Theo đó, nếu các biện pháp vệ sinh dịch tễ không hiệu quả,
Việt Nam sẽ trở thành thị trường tiêu thụ các sản phẩm chất lượng
kém, ảnh hưởng tới sức khỏe người tiêu dùng trong khi lại không bảo
vệ được sản xuất trong nước…

Dịch cúm trên ra cầm đã xẩy ra trên 57/64 tỉnh thành gây thiệt hại
nặng nề trong sản xuất cũng như ảnh hưởng lớn đến thị trường tiêu
dùng, giai đoạn 2003-2008 Việt Nam phải chi 236 triệu USD trong
việc phòng chống cúm gia cầm. Đến nay chúng ta vẫn chưa ngăn
chặn và khống chế được dịch bệnh.
- Đối với dịch tai xanh, từ năm 2007 đến nay dịch bệnh xảy ra
trên 38 tỉnh thành, năm nào cũng có dịch bệnh xảy ra, hiện nay
chưa có một con số nào thống kê được tổng số ngân sách mà nhà
nước phải bỏ ra để hỗ trợ dịch bệnh, nhưng hậu quả của nó thì được
thể hiện rất rõ. Năm 2007, dịch bệnh đã xảy ra trên 13.355 hộ gia
đình (trên 14 tỉnh, thành) với gần 30.000 đầu lợn bị tiêu hủy, đến
năm 2008, dịch bệnh đã xảy ra trên 28 tỉnh, thành, số lợn bị tiêu hủy
cao gấp 10 lần năm 2007.
(2) Quy mô chăn nuôi nhỏ, thiếu bền vững: Hình thức chăn
nuôi manh mún, nhỏ lẻ, hầu hết đều được nuôi ở quy mô hộ gia
đình, tận dụng thức ăn thừa, không quan tâm tới công tác tiêm
phòng hay phòng chống dịch bệnh theo quy trình của cơ quan thú y.
Đó là bức tranh cơ bản của chăn nuôi Việt nam hiện nay.
(3) Thiếu con giống và nguồn cung cấp con giống chất lượng:
Trong thời điểm khan hiếm con giống như hiện nay do ảnh hưởng
của dịch bệnh người dân khó khăn tỏng việc tìm kiếm nguồn giống
chất lượng để khôi phục đàn chăn nuôi
(4) Ô nhiễm môi trường trong chăn nuôi: Chỉ tính riêng năm
2007, lượng chất thải từ chăn nuôi khoảng 61 triệu tấn, nhưng chỉ
40% trong số này được xử lý, còn lại xả trực tiếp ra môi trường. Chất
gây ô nhiễm môi trường không chỉ là phân mà còn có lượng lớn chất
12


độn chuồng, thức ăn thừa, xác gia súc, gia cầm chết. Ngoài ra, còn

Chăn nuôi là một bộ phận quan trọng trong nền nông nghiệp
Việt Nam. hiện nay khi đất nước ta đang trong quá trình chuyển dịch
cơ cấu kinh tế, khi tỷ trọng giá trị sản phẩm trong GDP có xu hướng
giảm đi thì tỷ trọng giá trị sản phẩm chăn nuôi lại có xu hướng tăng
lên trong tổng giá trị sản phẩm nông nghiệp, đặc biệt là tỷ trọng giá
trị sản phẩm thịt lợn. Xu hướng này xuất phát từ hai nguyên nhân
chủ yếu sau:
Thứ nhất, với sự trợ giúp của công nghệ hiện đại, năng suất
chăn nuôi ngày càng tăng lên, thời gian nuôi được rút ngắn, do đó lợi
nhuận thu được từ chăn nuôi đang có xu hướng tăng nhanh hơn lợi
nhuận thu được từ trồng trọt.
Thứ hai, mức sống của con người ngày càng tăng lên kéo theo
sự thay đổi trong cơ cấu tiêu dùng thức ăn, xu hướng tiêu dùng sản
phẩm trồng trọt giảm đi nhanh chóng nhường chỗ cho sản phẩm
chăn nuôi. Nhu cầu về thịt trên thị trường ngày càng tăng lên, đặc
biệt là nhu cầu về sản phẩm thịt lợn.
Hai lý do chủ yếu trên chính là động lực để thúc đẩy ngành
chăn nuôi lợn ngày càng phát triển. Chăn nuôi lợn là ngành chăn
14


nuôi không mới nhưng trong điều kiện Việt Nam hiện nay, đó lại là
ngành chăn nuôi có triển vọng nhất. Nếu được đầu tư đầy đủ về vốn,
công nghệ, chăn nuôi trên quy mô lớn thì hiệu quả thu được của
ngành thực sự là không nhỏ.
Năm 2011, tổng đàn lợn cả nước là 27,06 triệu con, ước tính
năm 2014 giảm xuống còn 2,7 triệu con và kế hoạch năm 2015 là
27,1 triệu con, tăng trưởng bình quân đạt 0,04%/năm và giảm
17,88% so với kế hoạch của cả giai đoạn.
Phân bổ đàn heo theo vùng như sau: Vùng Đông bằng sông

673 kg/nái/năm.
Chăn nuôi lợn phát triển tốt do giá lợn hơi có xu hướng ổn định
cho người chăn nuôi. Theo số liệu điều tra của Tổng cục Thống kê,
cả nước có khoảng 27,75 triệu con, trong đó lợn nái có 4,06 triệu
con, tăng 3,69% so với cùng kỳ 2014. Sản lượng thịt lợn hơi xuất
chuồng năm 2015 ước tính đạt 3,48 triệu tấn, bằng 104,2 % so với
cùng kỳ năm trước.
3. Hiện trạng phát triển của ngành chăn nuôi heo tại Việt

Nam
Tại hội thảo, các chuyên gia về phát triển nông nghiệp đều có
chung một nhận định, chăn nuôi lợn là một trong những lĩnh vực có
nhiều điểm yếu, chịu nhiều tác động tiêu cực khi Việt Nam ngày
càng hội nhập sâu vào nền kinh tế khu vực và thế giới, nhất là trong
bối cảnh Hiệp định Kinh tế đối tác chiến lược xuyên Thái Bình Dương
(TPP) được ký kết.
Khi đề cập đến thực trạng, nhiều đại biểu đều khẳng định,
ngành chăn nuôi lợn của Việt Nam vẫn đang ở trong tình trạng manh
mún, nhỏ lẻ; chủ trang trại, doanh nghiệp chủ yếu vẫn áp dụng khoa
16


học kỹ thuật và công nghệ chăn nuôi lạc hậu; chịu sự chi phối về
nguồn nguyên liệu thức ăn chăn nuôi từ nước ngoài.
Ngành chăn nuôi Việt Nam theo định hướng từng bước tái cơ
cấu ngành, chuyển từ chăn nuôi nhỏ lẻ sang phát triển chăn nuôi tập
trung theo mô hình trang trại. Duy trì chăn nuôi nông hộ nhưng theo
hướng công nghiệp và ứng dụng công nghệ cao, khuyến khích sản
xuất khép kín, liên kết giữa các khâu trong chuỗi giá trị để cắt giảm
chi phí, tăng hiệu quả giá trị gia tăng.

gần đây có xu hướng chững lại. Mỗi năm chỉ tăng bình quân 0,2%,
trong khi đó lượng heo cả nước lại tăng 5,4 %. Nhưng nếu xét về mặt
sản lượng thịt hơi thì đàn heo thành phố có mức tăng trưởng tương
đối cao, khoảng 74%. Đặc biệt là tỷ lệ nạc cao, chất lượng thịt tốt,
trọng lượng bình quân heo thịt xuất chuồng là 80kg/con (cao hơn
21% so với cả nước).

18


4. Hiện trạng phát triển trên thế giới và tại các nước thuộc

TPP
Ở nhiều nước, chăn nuôi lợn có công nghệ cao và có tổng đàn
lợn lớn như: Nga, Anh, Pháp, Mỹ, Nhật, Canada, Hà Lan, Đan Mạch,
Thụy Điển, Đức, Ý, Úc, Trung Quốc, Singapore, Đài Loan… Nói chung
ở các nước tiên tiến có chăn nuôi lợn phát triển lợn theo hình thức
công nghiệp và đạt trình độ chuyên môn hóa cao.
Tuy vậy, đàn lợn trên thế giới phân bố không đồng đều ở các
châu lục. Có tới 70% số đầu lợn được nuôi ở châu Á và Âu, khoảng
30 % ở các châu lục khác. Trong đó, tỷ lệ đàn lợn được nuôi nhiều ở
các nước có chăn nuôi lợn tiên tiến. Nơi nào có nhu cầu thịt lợn cao,
nơi đó nuôi nhiều lợn. Tính đến nay chăn nuôi lợn ở các nước châu
Âu chiếm khoảng 52%, châu Á 30,4%, châu Úc 5,8%, châu Phi 3,2
%, châu Mỹ, 8,6 %.
Nhìn chung, sản phẩm của ngành chăn nuôi lợn được sử dụng
rộng rãi khắp nơi trên thế giới (trừ ở các các nước theo tín ngưỡng
Hồi giáo). Giá trị dinh dưỡng cao của thịt lợn là nguồn thực phẩm tốt
cho con người, không những thế nghề chăn nuôi lợn đã đem lại lợi
nhuận không nhỏ cho nền kinh tế của các nước này.

Đồng thời, tạo ra hành lang pháp lý, hàng rào kỹ thuật để tăng
cường quản lý các loại giống đang lưu hành trên địa bàn cả nước.
Cơ hội vàng về thời gian: Đây là cơ hội vàng về thời gian để
ngành chăn nuôi đẩy nhanh tổ chức lại sản xuất và hạ giá thành sản
phẩm, kiểm soát tốt an toàn vệ sinh thực phẩm.

20


2. Thách thức

Cơ hội mà hội nhập mang lại cho ngành nông nghiệp không
nhiều và chưa rõ ràng nhưng hội nhập lại đặt ra nhiều thách thức
không nhỏ đối với chăn nuôi trong nước do trình độ phát triển ngành
này ở nước ta hiện chỉ ở mức trung bình thấp so với thế giới.
Sức cạnh tranh yếu: Sức cạnh tranh sẽ gay gắt hơn giữa sản
xuất, dịch vụ trong nước với hàng hóa, dịch vụ nước ngoài, cũng như
trong việc bảo hộ các quyền sở hữu trí tuệ, các vấn đề lao động, môi
trường khi mà hàng hóa, dịch vụ hay đầu tư từ các nước TPP sẽ được
ưu tiên khi tiếp cận thị trường Việt Nam. Tham gia sân chơi TPP đồng
nghĩa với việc chúng ta phải chấp nhận quy định mức thuế nhập
khẩu thịt lợn vào Việt Nam sẽ giảm từ 5% xuống còn 0%. Điều này
dấy lên lo ngại về sức cạnh tranh của sản phẩm chăn nuôi trong
nước khi mà so sánh tương quan hiện nay, giá sản phẩm chăn nuôi
trong nước vẫn còn cao so với sản phẩm cùng loại của một số nước.
Đơn cử, tại Mỹ hiện nay, chỉ có 3 bang chăn nuôi lợn nhưng giá thịt
của Mỹ đang rẻ hơn ở Việt Nam 40%. Khi còn hàng rào thuế quan
bảo vệ, chúng ta vẫn bảo hộ được chăn nuôi trong nước, song khi
thuế xuất nhập khẩu 0% được áp dụng, đây sẽ là một thách thức rất
lớn cho ngành chăn nuôi nội địa.

chưa hiểu về TPP là gì cũng như tác động và ảnh hưởng của TPP ra
sao. Trong quá trình tư vấn mô hình chăn nuôi cho các hộ dân thì có
đến 95% bà con nông dân chưa từng nghe đến TPP. Không chỉ riêng
người dân mà ngay cả chính quyền địa phương ở nhiều nơi cũng
chưa thực sự quan tâm đến các vấn đề khi hội nhập (trong khi nông
dân các nước khác được chính phủ phổ biến rất sâu sắc).
Từ trước đến nay chăn nuôi của Việt Nam luôn được đánh giá là
ngành yếu thế và có thể bị “nhấn chìm” khi gia nhập TPP, cụ thể:
- Nguy cơ thứ nhất đến từ Mỹ với các sản phẩm như thịt lợn,
thịt bò, thịt gà…(dự kiến sẽ rẻ hơn so với thịt trong nước từ 15-20%).
Việt Nam có 7,5 triệu hộ dân chăn nuôi trong đó nuôi lợn chiếm 4,1
22


triệu hộ, ở góc độ này chăn nuôi lợn ở Việt Nam khó có thể cạnh
tranh nổi và sẽ bị ảnh hưởng ở mức độ nhất định.
- Nguy cơ thứ hai đến từ các biện pháp SPS – TBT( các rào cản
kỹ thuật đối với thương mại).
+ TBT (Technical Barriers to Trade): là hiệp định liên quan
đến việc dự thảo, xây dựng và ban hành các tiêu chuẩn, quy chuẩn
kỹ thuật và quy trình đánh giá sự phù hợp tại các nước thành viên
của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) với mong muốn chúng
không được tạo ra trở ngại không cần thiết cho thương mại quốc tế.
+ SPS (Sanitary and Phytosanitary Measures): Biện pháp
xác định các thành viên có thể hoặc không thể áp đặt các hạn chế
như thế nào đối với những hàng hóa nhập khẩu nhất định nhằm mục
đích bảo vệ:
(1) Sức khỏe con người hoặc động vật từ những nguy cơ qua
đường thực phẩm.
(2) Sức khỏe con người khỏi các bệnh lây qua động vật, thực

thiện, nhanh chóng góp phần phát triển ngành chăn nuôi nói chung
và tăng thu nhập cho nền kinh tế quốc dân.

24


II.

Định hướng phát triển
Tái cơ cấu sản xuất để nâng cao khả năng cạnh tranh. Trong

đó, các sản phẩm nông nghiệp phải sản xuất theo chuỗi, tạo được sự
cạnh tranh về giá cả, chất lượng, kiểm soát tốt vệ sinh an toàn thực
phẩm. Đồng thời, phải có sự liên kết giữa doanh nghiệp và nông dân.
Nhà nước phải khuyến khích, thu hút doanh nghiệp lớn đầu tư
vào nông nghiệp theo cả chuỗi. Đặc biệt là ngành chức năng phải
giải quyết tồn tại lớn nhất của ngành Nông nghiệp Việt Nam là an
toàn vệ sinh thực phẩm.
Bên cạnh việc đảm bảo tốt hơn vệ sinh an toàn thực phẩm,
ngành Nông nghiệp Việt Nam cần thực sự thay đổi một số khâu cơ
bản như sản xuất, chế biến, phân phối… Muốn xuất khẩu thắng lợi,
nông dân cần nâng tầm năng suất và chất lượng nông sản, phải sản
xuất sao cho đạt bốn yêu cầu: Chất lượng sản phẩm phải đạt chuẩn
chất lượng an toàn quốc tế, giá thành cạnh tranh với đối thủ, khối
lượng lớn, và giao hàng đúng lúc theo hợp đồng.
Mặt khác, cần chú trọng đến vấn đề truy xuất nguồn gốc. Nếu
không chú ý đến vấn đề này thì nông sản Việt Nam thậm chí còn
không tiêu thụ được ngay tại thị trường nội địa khi Việt Nam đã cam
kết bãi bỏ thuế suất đối với nông sản nhập từ các nước thành viên
TPP hay từ các nước ASEAN.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status