ĐỀ TÀI:
Nội dung chính sách cổ tức của công ty cổ phần. tác động của các hình thức
chi trả cổ tức đến giá cổ phiểu và tình hình TCDN. Liên hệ với thực tế 1
doanh nghiệp cụ thể.
DANH SÁCH NHÓM
Họ và tên
Mã Sinh Công việc
Viên
Nhóm đánh giá
Chữ Ký Nhóm Trưởng
Chữ ký giáo viên
PHẦN I: LÝ THUYẾT
1.1
Khái niệm cổ tức và chính sách cổtức
1.1.1 Khái niệm về cổ tức
Chữ Ký
Cổ tức cổ phần hay lợi tức cổ phần là một phần lợi nhuận sau thuế được công
ty cổ phần phân chia cho các chủ sở hữu của mình bằng nhiều hình thức khác
nhau chẳng hạn như bằng tiền mặt hoặc bằng cổ phần.
1.1.2 Quá trình chi trả cổ tức
Chính sách cổ tức là chính sách ấn định mức lợi nhuận của công ty được đem ra
phân phối như thế nào.Lợi nhuận sẽ được giữ lại để tái đầu tư cho công ty hay
được trả cho các cổ đông. Lợi nhuận giữ lại cung cấp cho các nhà đầu tư một
nguồn tăng trưởng lợi nhuận tiềm năng trong tương lai, trong khi đó cổ tức cung
cấp cho họ một phân phối hiện tại. Chính sách cổ tức hay còn gọi là chính sách
phân phối là một trong ba quyết định tài chính quan trọng trong một doanh
nghiệp và nó có liên hệ mật thiết với hai chính sách tài chính còn lại là chính
sách tài trợ và chính sách đầu tư.
1.1.3.2 Tầm quan trọng của chính sách cổ tức
Trong công ty cổ phần, việc quyết định phân chia lợi tức cổ phần cho các cổ
đông là điều hết sức quan trọng, nó không đơn thuần chỉ là việc phân chia lãi
cho các cổ đông, mà nó còn liên quan mật thiết đến công tác quản lý tài chính
của công ty cổ phần. Những lý do được đưa ra để giải thích cho tầm quan
trọng của chính sách cổ tức như sau:
Thứ nhất, chính sách cổ tức ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của các cổ đông. Cổ
tức cung cấp cho cổ đông một lợi nhuận hữu hình thường xuyên và là nguồn thu
nhập duy nhất mà nhà đầu tư có thể nhận được ngay trong hiện tại khi họ đầu tư
vào công ty. Do vậy, việc công ty có duy trì trả cổ tức ổn định hay không ổn
định, đều đặn hay giao động thất thường đều làm ảnh hưởng đến quan điểm
của nhà đầu tư về công ty, do vậy nó có thể dẫn đến sự biến động giá trị cổ phiếu
của công ty trên thị trường.
1.2 Công ty cổ phần
1.2.1 Khái niệm về công ty cổ phần
Công ty cổ phần là loại hình thức doanh nghiệp mà vốn điều lệ chia thành nhiều
phần bằng nhau là cổ phần và được phát hành ra ngoài thị trường nhằm huy
động vốn tham gia đầu tư từ mọi thành phần kinh tế. Người sở hữu có phần
được gọi là các cổ đông
đông. Thực chất, đây là việc phân bổ theo tỷ lệ các cổ phần bổ sung của một
công ty cho các cổ đông. Nó liên quan đến việc chuyển tiền từ tài khoản lợi
nhuận giữ lại sang các tài khoản vốn cổ phần thường khác của các cổ đông.
Tác động ròng của giao dịch này là tăng số cổ phần đang lưu hành, và tái phân
phối vốn giữa các tài khoản vốn của doanh nghiệp. Tổng vốn cồ phần thường và
trái quyền của mỗi cổ đông đối với lợi nhuận của doanh nghiệp được giữ
nguyên không đổi.
Các công ty tiến hành trả cổ tức bằng cổ phần vì những lý do sau đây. Thứ nhất,
vì các cổ đông thường bán cổ phần mà họ nhận được từ cổ tức, nên một cổ tức
cổ phần làm thoáng hơn quyền sở hữu các cổ phần của một doanh nghiệp. Thứ
hai, khi doanh nghiệp đã chi trả cổ tức tiền mặt, một cổ tức cổ phần làm gia
tăng trên thực tế trong cổ tức tiền mặt. Thứ ba, một cổ tức cổ phần sẽ làm giảm
giá cổ phần so với lúc trước nên làm tăng tính hấp dẫn của cổ phiếu trong mắt
các nhà đầu tư vì các nhà đầu tư dễ mua hơn do giá thấp hơn.
1.3.3 Trả cổ tức bằng tài sản khác
Mặc dù không có tính chất phổ biến, song các công ty cổ phần cũng có thể trả
cổ tức bằng các tài sản khác. Chẳng hạn, cổ đông có thể nhận cổ tức bằng các
tài sản khác của công ty như các thành phẩm, hàng hóa, các chứng khoán của
một công ty khác mà công ty sở hữu, bất động sản,…. Việc trả cổ tức bằng tài
sản khác sẽ làm giảm tài sản đó với một bút toán tương ứng trong lợi nhuận giữ
lại.
Theo Luật doanh nghiệp năm 2005, các công ty cổ phần ở Việt Nam được phép
chi trả cổ tức bằng tài sản khác. Nhưng việc trả cổ tức bằng tài sản khác tại
Việt Nam hiện nay gặp phải một số vướng mắc nhất định. Thứ nhất, các
văn bản pháp luật chưa có hướng dẫn cụ thể, gây khó khăn cho doanh nghiệp
và các cơ quan quản lý trong các thủ tục làm hồ sơ xin phép chi trả cổ tức
bằng tài sản. Thứ hai, các cơ quan quản lý gặp khó khăn trong công tác định giá
tài sản khác đó, cũng như định giá khoản cổ tức đó để điều chỉnh giá tham chiếu
với cổ tức tiền mặt (hoặc ít ra vì thu nhập lãi vốn có thể được hoãn thuế đến các
thời điểm trong tương lai). Mua lại cổ phần còn được dùng để phát ra các tín
hiệu tích cực cho các cổ đông về các dự kiến của ban điều hành rằng lợi nhuận
và dòng tiền của doanh nghiệpsẽ cao hơn trong tương lai.
Thứ hai, chính sách cổ tức ảnh hưởng đến chính sách tài trợ của công ty.
Thông qua việc quyết định chính sách cổ tức mà công ty cũng quyết định luôn
chính sách tài trợ. Vì lợi nhuận giữ lại là nguồn quan trọng cho việc tài trợ vốn
cổ phần cho khu vực tư nhân. Nên từ đó, chính sách cổ tức ảnh hưởng đến số
lượng vốn cổ phần thường trong cấu trúc vốn của một doanh nghiệp, và mở rộng
ra, ảnh hưởng đến chi phí sử dụng vố n của doanh nghiệp. Ngoài ra, nếu chi trả
cổ tức thì các doanh nghiệp phải bù trừ lại nguồn tài trợ thiếu hụt do lợi nhuận
giữ lại ít bằng việc huy động vốn từ bên ngoài với nhiều thủ tục phức tạp, và tốn
nhiều chi phí hơn.
Thứ ba, chính sách cổ tức ảnh hưởng tới chính sách đầu tư của công ty. Với
nguồn tài trợ có chi phí sử dụng vốn thấp từ lợi nhuận giữ lại, sẽ làm cho chi phí
sử dụng vố n của doanh nghiệp ở mức tương đối thấp. Và đồng thời, lợi nhuận
giữ lại luôn sẵn có tại doanh nghiệp. Từ đó, doanh nghiệp có thể linh hoạt lựa
chọn đầu tư vào các dự án cótỷ suất sinh lợi cao. Như vậy, lợi nhuận giữ lại có
thể kích thích tăng trưởng lợi nhuận trong tương lai và do đó có thể ảnh hưởng
đến giá trị cổ phần của doanh nghiệp trong tươnglai.
1.4 CHÍNH SÁCH CỔ TỨC
1.4.1 Chính sách lợi nhuận giữ lại thụ động
Được sử sụng khi mà DN có các cơ hội đầu tư hấp dẫn và có mức sinh lợi cao
hơn mức sinh lời của các cổ đông đòi hỏi. Nếu DN có thể đầu tư lợi nhuận của
mình để đạt được tỷ suất sinh lợi cao hơn tỷ suất mong đợi mà các cổ đông kỳ
vọng thì DN không nên chi trả cổ tức (theo chính sách giữ lại thụ động) bởi vì
việc chi trả cổ tức dẫn đến DN phải hi sinh các cơ hội đầu tư hoặc phải huy động
thêm vốn từ bên ngoài và sẽ có chi phí cao hơn so với chi phí của nguồn lợi
trưởng thường có tỷ lệ chi trả cổ tức thấp hơn các DN đang trong giai đoạn sung
mãn, ngược lại có DN tăng trưởng cao thường có tỷ lệ chi trả cổ tức thấp.
1.5.2 Chính sách chi trả cổ tức tiền mặt ổn định
Hầu hết các DN và các cổ đông thường thích chính sách cổ tức tương đối ổn định.
Các cổ đông cảm thấy khi cổ tức thay đổi có hàm chứa thông tin, một mức cắt
giảm cổ tức có thể là một tín hiệu lợi nhuận dài hạn của DN giảm và ngược lại.
các giám đốc tài chính cho rằng một chính sách cổ tức tăng trưởng và ổn định
thường có xu hướng làm giảm sự bất trẵc cảu nhà đầu tư về các dòng cổ tức trong
tương lai nên nhà đầu tư sẽ sẵn lòng trả một mức giá cao hơn nên sẽ làm chi phí sử
dụng vốn cổ phần của DN thấp hơn.
1.5.3 Một số chính sách khác
Chính sách cổ tức có tỷ lệ chi trả không đỏi theo lợi nhuận của DN qua các năm
Chính sách chi trả cổ tức thấp hàng quý cộng với cổ tức thưởng vào cuối năm
2. Tác động của chính sách chi trả cổ tức
2.1 Trả cổ tức bằng tiền mặt
Hầu hết cổ phiếu của công ty được trả bằng tiền mặt, bởi điều này sẽ thuận lợi cho
cổ đông trong việc sử dụng vào các mục đích có tính chất tiêu dùng cá nhân. Mức
cổ tức tiền mặt được trả có thể được tính rên cơ sở mỗi cổ phần, hoặc theo tỷ lệ %
so với mệnh giá cổ phiếu. Từ công thức xác định giá cổ phiếu theo phương pháp
chiết khấu cổ tức:
P= +
Trong đó:
P là giá cổ phiếu ở thời điểm hiện tại
Dt là cổ tức dự kiến nhận được ở cuối năm thứ t
r là tỷ suất lợi nhuận đòi hỏi của nhà đầu tư
Pn là giá bán cổ phiếu ở cuối năm thứ n
Từ công thức trên có thể thấy, với mức tỷ suất lợi nhuận xác định mức cổ tức dự
tính trong tương lai có quan hệ trực tiếp tới giá cổ phiếu. Tuy nhiên trả cổ tức cao
nguy cơ pha loãng quyền điều hành do tỷ lệ sở hữu thay đổi sau khi phát hành cổ
phiếu nội bộ.
P1 =
Trong đó:
P1 là giá tham chiếu cổ phiếu vào ngày giao dịch không hưởng quyền
P0 là giá cổ phiếu trước khi tăng vốn ( giá giao dịch bình quân ngay
phiên trước ngày giao dịch không hưởng quyền hoặc giá đóng cửa )
p là giá phát hành cổ phiếu
N và n lần lượt là số cổ phiếu trước khi tăng và số phát hành thêm
2.3) Tài sản khác
Mặc dù không có tính chất phổ biến, song các công ty cổ phần cũng có thể trả cổ
tức bằng các tài sản khác: chứng khoán của các công ty khác, khoản đầu tư tài
chính ngắn hạn, thành phẩm, hàng hóa, bất động sản,…Việc trả cổ tức bằng tiền
mặt sẽ làm giảm các khoản đầu tư, giảm lượng hàng hóa, thành phẩm,…Từ đó làm
giảm tài sản,vốn chủ sở hữu của công ty và đặc biệt nó làm giảm nghiêm trọng uy
tín của công ty kéo giá cổ phiếu sụt giảm mạnh. Vì vậy việc trả cổ tức bằng tài sản
khác chỉ được thực hiện trong trường hợp công ty không thể sử dụng các phương
án trả cổ tức khác
PHẦN 2 THỰC TRẠNG CHI TRẢ CỔ TỨC TẠI CÔNG TY BẢO VIỆT
1.1 Quá trình ra đời và phát triển của DN
Tổng Công ty Bảo hiểm Bảo Việt (Bảo hiểm Bảo Việt - Baoviet Insurance) là công
ty thành viên được Tập đoàn Tài chính - Bảo hiểm Bảo Việt đầu tư 100 vốn.
Trải qua chặng đường gần nửa thế kỷ hình thành và phát triển (từ 15/01/1965 đến
nay), Bảo hiểm Bảo Việt tự hào là doanh nghiệp bảo hiểm lâu đời nhất tại Việt
Nam, luôn khẳng định vị trí dẫn đầu thị trường cả về thị phần, doanh thu phí bảo
hiểm gốc lẫn quy mô vốn điều lệ. Bảo hiểm Bảo Việt đã nỗ lực không ngừng
chất lượng sản phẩm, dịch vụ với slogan “Phục vụ khách hàng tốt nhất để
pháttriển”.
• 2007: Tổng Công ty Bảo hiểm Việt Nam đổi tên thành Tổng Công ty Bảo hiểm
Bảo Việt (tên giao dịch là Bảo hiểm Bảo Việt) với slogan Niềm tin vững chắc,
cam kết vững bền
• 2013: Bảo hiểm Bảo Việt tăng vốn điều lệ từ 1.800 tỷ đồng lên 2.000 tỷ đồng,
trở thành doanh nghiệp đứng đầu về quy mô vốn điều lệ trong lĩnh vực Bảo
hiểm Phi Nhân thọ tại Việt Nam.
Với hệ thống mạng lưới gồm 67 công ty thành viên và hơn 300 phòng kinh doanh
phục vụ khách hàng trên toàn quốc, hơn 3.000 cán bộ nhân viên có trình độ
chuyên môn cao, tiềm lực tài chính vững mạnh, sản phẩm đa dạng và ưu việt, năng
lực quản trị – kinh doanh, quản lý rủi ro và giải quyết bồi thường tốt, Bảo hiểm
Bảo Việt tự tin về khả năng tư vấn và đáp ứng mọi yêu cầu bảo hiểm của khách
hàng cá nhân và khách hàng doanh nghiệp.
Trong những năm gần đây, Bảo hiểm Bảo Việt là một trong những doanh nghiệp
tiên phong trong việc triển khai mô hình kinh doanh theo định hướng quản lý tập
trung, đa dạng hóa sản phẩm và kênh phân phối, đẩy mạnh công tác quản lý rủi ro
và xây dựng hệ thống công nghệ thông tin tiên tiến nhằm mang đến cho khách
hàng những dịch vụ hoàn hảo và giá trị lâu bền.
1
Chức năng nhiệm vụ
Sứ mệnh: Cung cấp dịch vụ bảo hiểm tốt nhất để quản lý rủi ro trong cuộc
•
sống, mang đến sự bình an và nâng cao chất lượng cuộc sống của khách hàng
được kiểm toán), theo đó tổng doanh thu hợp nhất đạt 19.050 tỷ đồng, tăng trưởng
11,5%; Lợi nhuận sau thuế hợp nhất đạt 1.331 tỷ đồng, tăng 7,9% so với năm
2013.
Doanh thu hợp nhất năm 2015 ước đạt 20.808 tỷ đồng, bằng 110% kế hoạch, tăng
trưởng 9,2% so với cùng kỳ 2014. Lợi nhuận trước thuế hợp nhất ước đạt 1.455 tỷ
đồng, bằng 101% kế hoạch; Lợi nhuận sau thuế hợp nhất ước đạt 1.171 tỷ đồng,
bằng 102,7% kế hoạch kinh doanh năm 2015. Tổng tài sản hợp nhất tại thời điểm
31/12/2015 đạt 58.596 tỷ đồng, tăng 23,2%; vốn chủ sở hữu đạt 13.195 tỷ đồng,
tăng 2,9% so với cùng kỳ năm 2014.
Trong Quý I/2016 vừa qua, Tập đoàn Bảo Việt đã tiếp tục ghi nhận kết quả kinh
doanh khả quan với Tổng doanh thu hợp nhất Quý I/2016 đạt 5.547 tỷ đồng, tăng
trưởng 17,2% so với cùng kỳ năm 2015, lợi nhuận sau thuế thu về 387 tỷ đồng,
hoàn thành 32,5% kế hoạch năm.
2. Đánh giá tình hình chi trả cổ tức tại công ty Bảo Việt
Tập đoàn Bảo Việt chi trả hơn 544 tỷ đồng cổ tức bằng tiền mặt
(CLO) Lãnh đạo Tập đoàn Bảo Việt cho biết, theo định hướng Chiến lược phát
triển giai đoạn 2016 – 2020, Tập đoàn Bảo Việt sẽ thực hiện chính sách chi trả cổ
tức với mức tối thiểu bằng 50% lợi nhuận sau thuế nhằm phân bổ lợi nhuận nhiều
hơn cho tái đầu tư phát triển doanh nghiệp, gia tăng giá trị tích lũy cho cổ đông.
Theo đó, 544.377.147.200 đồng, tương đương 54,31% lợi nhuận sau thuế sẽ được
Tập đoàn Bảo Việt chi trả cho cổ đông kể từ ngày 29/7/2016. Như vậy, kể từ sau
cổ phần hóa đến nay, Tập đoàn Bảo Việt đã chi trả tổng cộng khoảng 6.300 tỷ
đồng cổ tức bằng tiền mặt cho các cổ đông.
Hơn 544 tỷ đồng cổ tức bằng tiền mặt, tương đương 54,31% lợi nhuận sau thuế sẽ
được Tập đoàn Bảo Việt chi trả cho cổ đông.
Với đặc thù là doanh nghiệp cổ phần với hơn 70% vốn Nhà nước, Công ty mẹ –
Tập đoàn Bảo Việt duy trì vị trí là một trong những doanh nghiệp có đóng góp lớn
cho ngân sách Nhà nước thông qua nộp thuế và cổ tức từ kết quả hoạt động kinh
3.2 Chínhsáchcổtức tiền mặt ổn định
Hầu hết các doanh nghiệp và cổ đông đều thích chínhsáchcổtức tương đối ổn
định.Tính ổn định được đặc trưng bằng một sự miễn cưỡng trong việc giảm lượng
tiền mặt chi trả cổ tức từ kỳ này sang kỳ khác.Tương tự, những gia tăng trong tỷ lệ
cổtức cũng thường bị trì hoãn cho đến khi các giám đốc tài chính công bố rằng các
khoản lợi nhuận trong tương lai đủ cao đến mức độ thỏa mãn cổ tức lớn hơn.
Chính sách cổ tức vậy, tỷ lệ cổ tức có khuynh hướng đi theo sau một gia tăng trong
lợi nhuận và đồng thời cũng thường trì hoãn lại trong một chừng mực nào đó.
Có nhiều lý do tại sao các nhà đầu tư thích cổ tức ổn định.Chẳng hạn, nhiều nhà
đầu tư thấy các thay đổi cổ tức có nội dung hàm chứa thông tin.Ngoài ra, hiều cổ
đông cần và lệ thuộc vào một dòng cổtức không đổi cho các nhu cầu tiền mặt của
mình. Dù họ có thể bán bớt một số cổ phần như một nguồn thu nhập hiện tại khác
nhưng do các chi phí giao dịch và các lần bán với lô lẻ cho nên phương án này
không thể thay thế một cách hoàn hảo cho lợi nhuận cổtức đều đặn.
3.3. Các chính sách chi trả cổ tức khác:
Ngoài chínhsách lợi nhuận giữ lại thụ động và cổ tức tiền mặt cố định, các doanh
nghiệp còn có thể sử dụng một số các chính sách cổ tức khác như:
• Chính sách cổ tức có tỷ lệ chitrả không đổi. Nếu lợi nhuận của doanh nghiệp
thay đổi nhiều từ năm này sang năm khác thì cổtức cũng có thể dao động theo
• Chính sách chi trả một cổtức nhỏ hàng quý cộng với cổtức thưởng thêm vào cuối
năm.
Chính sách này đặc biệt thích hợp cho những doanh nghiệp có lợi nhuận hoặc nhu
cầu tiền mặt biến động giữa năm này với năm khác, hoặc cả hai. Ngay cả khi
doanh nghiệp có mức lợi nhuận thấp, các nhà đầu tư vẫn có thể trông cậy vào một
mức chitrảcổtức đều đặn của họ; còn khi lợi nhuận cao và không có nhu cầu sử
dụng ngay nguồn tiền dôi ra này, các doanh nghiệp sẽ công bố một mức cổtức
thưởng cuối năm.Chínhsách này giúp ban điều hành có thể linh hoạt giữ lại lợi
nhuận khi cần mà vẫn thỏa mãn được nhu cầu của các nhà đầu tư là muốn nhận
được một mức cổ tức “bảo đảm”.