thực trạng hoạt động cấp tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại ngân hàng thương mại việt nam giai đoạn năm 2011 2013 - Pdf 43

1

BỘ TÀI CHÍNH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI CHÍNH – MARKETING

ĐỀ TÀI:
“THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CẤP TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP
VỪA VÀ NHỎ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN
NĂM 2011-2013”
TIỂU LUẬN TIỀN TỆ - NGÂN HÀNG

GVHD: PGS. TS. Trần Huy Hoàng

TP. Hồ Chí Minh, tháng 06 năm 2017


2

MỤC LỤC
CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG CẤP TÍN DỤNG.......................5
ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ.........................................................5
1.1.2. Đặc điểm của doanh nghiệp vừa và nhỏ:
5
1.1.3. Vai trò của doanh nghiệp vừa và nhỏ:
5
1.2. Khái niệm tín dụng ngân hàng:...............................................................................................................6
1.3. Đặc điểm của tín dụng ngân hàng:
6
1.4. Hoạt động tín dụngcủa ngân hàng thương mại:
6
1.5. Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động cấp tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ:....................8

1. Tính cấp thiết của đề tài:
Ở mỗi nền kinh tế quốc gia hay lãnh thổ trên thế giới, các doanh nghiệp vừa và nhỏ
(DNVVN) luôn đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội và Việt Nam cũng
không phải là ngoại lệ. Với đặc thù năng động, linh hoạt và thích ứng nhanh với những
thay đổi của thị trường, các DNVVN đã khẳng định vị trí của mình trong nền kinh tế quốc
dân, là động lực quan trọng trong tạo việc làm, giúp huy động các nguồn lực xã hội cho
đầu tư phát triển, góp phần xóa đói, giảm nghèo ở địa phương cũng như hỗ trợ tích cực
cho sự phát triển của các thành phần kinh tế khác.
Do sở hữu vai trò vô cùng quan trọng trong nền kinh tế nên việc hỗ trợ, thúc đẩy
các DNVVN phát triển có ý nghĩa rất to lớn. Đối với sự phát triển của các DNVVN, vai
trò của nguồn tín dụng ngân hàng là không thể phủ nhận, nhất là khi đặc thù của nền kinh
tế Việt Nam là nền kinh tế chủ yếu dựa vào tín dụng. Nhận thức được điều này và tiềm
năng của phân khúc DNVVN, các Ngân hàng thương mại Việt Nam ngày càng chú trọng
đến việc tăng trưởng tín dụng cho đối tượng này.
Xuất phát từ thực tiễn đó, nhóm nghiên cứu xin chọn đề tài tiểu luận “Thực trạng
hoạt động cấp tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân Hàng Thương Mại
Việt Nam giai đoạn năm 2011-2013”.
2. Mục đích nghiên cứu:
Bài tiểu luận tập trung nghiên cứu, làm rõ cơ sở lý luận về hoạt động cấp tín dụng
ngân hàng đối với các DNVVN. Từ đó làm nền tảng để đánh giá thực trạng hoạt động cấp
tín dụng đối với các DNVVN tại NHTM Việt Nam. Đồng thời, trên cơ sở lý luận và thực
tiễn, bài tiểu luận cũng đề xuất một số giải pháp nhằm thúc đẩy và nâng cao hiệu quả hoạt
động cấp tín dụng dành cho DNVVN Việt Nam.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: bài tiểu luận tập trung nghiên cứu về hoạt động cấp tín dụng
ngân hàng đối với các DNVVN.
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Về không gian: hoạt động cấp tín dụng đối với các DNVVN tại NHTM Việt Nam.
+ Về thời gian: nghiên cứu về hoạt động cấp tín dụng ngân hàng đối với các
DNVVN giai đoạn từ năm 2011 đến năm 2013, đồng thời đề xuất định hướng và giải pháp

xây dựng
xuống
III. Thương mại và 10 người
dịch vụ
xuống

Tổng nguồn
vốn

Doanh nghiệp vừa

Tổng nguồn
Số lao động
vốn
từ trên 20 tỷtừ trên 200
trở20 tỷ đồng trởtừ trên 10 người
đồng đến 100 tỷngười đến 300
xuống
đến 200 người
đồng
người
từ trên 20 tỷtừ trên 200
trở20 tỷ đồng trởtừ trên 10 người
đồng đến 100 tỷngười đến 300
xuống
đến 200 người
đồng
người
từ trên 10 tỷ
trở10 tỷ đồng trởtừ trên 10 người

DNVVN hoạt động dưới nhiều loại hình doanh nghiệp như hộ kinh doanh cá thể, tổ hợp
tác, doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần…trên nhiều lĩnh
vực, ngành nghề khác nhau.
- Thứ ba, chiến lược sản xuất kinh doanh, trình độ khoa học kỹ thuật và năng lực cạnh
tranh hạn chế.
- Thứ tư, hoạt động của DNVVN phụ thuộc vào biến động của môi trường kinh doanh.
- Thứ năm, bộ máy điều hành gọn nhẹ, có tính linh hoạt cao năng lực quản trị chưa cao.
1.1.3. Vai trò của doanh nghiệp vừa và nhỏ:
DNVVN có vai trò rất lớn trong quá trình tăng trưởng kinh tế của nhiều quốc gia hay
các vùng miền, kể cả ở các quốc gia phát triển và đang phát triển. Các DNVVN hoạt động
trong mọi lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân từ sản xuất công nghiệp, xây dựng, thương
mại, dịch vụ… đáp ứng được nhu cầu ngày càng đa dạng, phong phú của người tiêu dùng.


6

Ở những nền kinh tế có đặc điểm phát triển khác nhau vai trò của DNVVN được thể hiện
ở các mức độ khác nhau. Nhưng thực tế cho thấy tầm quan trọng của DNVVN ngày càng
lớn khi mà phạm vi hoạt động ngày càng mở rộng thể hiện thông qua số lượng doanh
nghiệp, hoạt động có mặt ở nhiều ngành nghề, lĩnh vực và tồn tại như một bộ phận không
thể thiếu của nền kinh tế mỗi quốc gia.
- Thứ nhất, DNVVN tạo công ăn việc làm cho người lao động, góp phần giảm thất
nghiệp.
- Thứ hai, DNVVN giữ vai trò quan trọng trong việc ổn định và thúc đẩy tăng trưởng
kinh tế.
- Thứ ba, DNVVN khai thác và phát huy các nguồn lực địa phương, góp phần chuyền
dịch cơ cấu kinh tế.
- Thứ tư, DNVVN thúc đẩy nền kinh tế năng động.
1.2. Khái niệm tín dụng ngân hàng:
Tín dụng ngân hàng (TDNH) là quan hệ giao dịch về tài sản (tiền và hiện vật) giữa

1.4. Hoạt động tín dụngcủa ngân hàng thương mại:
Ngân hàng thương mại (NHTM) được coi là một loại hình doanh nghiệp đặc biệt,
kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ và dịch vụ ngân hàng. Nhìn một cách khái quát, hoạt động
tín dụng của ngân hàng thương mại bao gồm hai mặt: Một mặt là tạo lập nguồn vốn, mà
trước hết và chủ yếu là từ việc huy động vốn tiền tệ nhàn rỗi trong nền kinh tế xã hội. Mặc


7

khác là sử dụng nguồn vốn đã được tạo lập để cho vay, đáp ứng nhu cầu vốn cho nền kinh
tế.
1.4.1. Hoạt động huy động vốn của ngân hàng thương mại:
- Mở tài khoản và nhận tiền gửi:
Trong giao dịch giữa ngân hàng thương mại và khách hàng, việc mở tài khoản được
coi là dịch vụ đơn giản nhất, nhưng lại có ý nghĩa rất quan trọng. Tùy theo từng đối tượng
khách hàng và trên cơ sở nhu cầu của họ, ngân hàng thương mại có thể mở các loại tài
khoản chủ yếu: Tài khoản tiền gửi thanh toán, tài khoản tiền gửi có kỳ hạn, tài khoản tiền
gửi tiết kiệm có kỳ hạn….
- Phát hành chứng chỉ tiền gửi:
Bên cạnh nguồn vốn huy động thông qua dịch vụ mở tài khoản và nhận tiền gửi các
loại, để có thể bổ sung thêm nguồn vốn cho vay một cách chủ động, ngân hàng thương
mại thường tổ chức các đợt phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu hoặc trái phiếu ngân
hàng. Khách hàng mua các loại chứng khoán này cũng có nghĩa là đã cho ngân hàng vay
một khoản vốn với lãi suất và thời hạn được xác định trước trên chứng khoán đó.
- Vay từ các tổ chức tài chính tín dụng khác:
Ngoài nguồn vốn huy động thông qua các hoạt động nêu trên, ngân hàng thương mại
còn tạo cho mình nguồn vốn cho vay thông qua nghiệp vụ đi vay. Một ngân hàng thương
mại có thể vay các ngân hàng thương mại khác trên thị trường liên ngân hàng, vay các tổ
chức tài chính tiền tệ trên thị trường tài chính quốc tế.
Tuy nguồn vốn đi vay này không phải là nguồn chiếm tỷ trọng lớn trong nguồn vốn


+ Cho vay trả góp: Là loại cho vay mà khách hàng phải hoàn trả vốn gốc và lãi theo
định kỳ. Loại cho vay này chủ yếu được áp dụng cho vay bất động sản nhà ở, vay tiêu
dùng, cho vay đối với những người kinh doanh nhỏ có thu nhập thường xuyên.
+ Cho vay phi trả góp: Là loại cho vay được thanh toán một lần theo kỳ hạn đã thỏa
thuận.
- Căn cứ phương thức cho vay:
+ Cho vay theo hạn mức tín dụng: Là số dư nợ cho vay cao nhất mà ngân hàng cam
kết sẽ thực hiện cho một khách hàng, có hiệu lực trong một thời gian nhất định, thường là
một năm. Hạn mức tín dụng được xác định trên cơ sở nhu cầu vay vốn của khách hàng và
khả năng đáp ứng của ngân hàng.
+ Cho vay từng lần: Áp dụng cho các đơn vị tổ chức kinh tế có nhu cầu vay vốn
không thường xuyên có tính chất đột xuất, không được ấn định hạn mức tín dụng.
+ Cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng: Thẻ tín dụng là
loại thẻ ngân hàng phát hành cho những khách hàng sử dụng để thanh toán tiền hàng hóa,
dịch vụ tại các điểm chấp nhận thẻ, hoặc rút tiền mặt tại các ATM trong phạm vi hạn mức
tín dụng đã được ngân hàng chấp thuận trong hợp đồng tín dụng.
+ Cho vay hợp vốn: Là loại hình cho vay, trong đó một nhóm ngân hàng thương mại
cùng tham gia tài trợ chung một dự án vay. Trong đó một ngân hàng làm đầu mối dàn xếp,
phối hợp các ngân hàng còn lại để cùng cho vay. Loại hình này áp dụng trong trường hợp
dự án có quy mô vốn lớn, vượt quá khả năng tài trợ của một ngân hàng hoặc vượt quá quy
định giới hạn của luật pháp. Nó cũng được sử dụng với mục tiêu phân tán rủi ro của ngân
hàng.
+ Chiết khấu chứng từ có giá: Ngân hàng thương mại đứng ra trả trước các hối phiếu
hoặc các chứng từ có giá khác chưa đến hạn thanh toán theo yêu cầu của người thụ hưởng
bằng cách khấu trừ ngay một số tiền nhất định được gọi là chiết khấu, số tiền khấu trừ
được tính theo trị giá chứng từ, thời hạn chiết khấu, lãi suất và các tỷ lệ chiết khấu khác,
số tiền còn lại thanh toán cho người thụ hưởng.
+ Bảo lãnh ngân hàng: Là hình thức cấp tín dụng được thực hiện thông qua sự cam kết
bằng văn bản của ngân hàng với bên thụ hưởng bảo lãnh về việc thực hiện nghĩa vụ tài

Năng lực, trách nhiệm và phẩm chất đạo đức của đội ngũ cán bộ tín dụng quyết
định rất lớn tới khả năng tổng hợp thông tin và đánh giá khách hàng, từ đó thẩm định
khách hàng chính xác sẽ giúp ngân hàng giảm thiểu rủi ro về tín dụng.
- Thông tin tín dụng:
Thông tin tín dụng giúp cho người quản lý đưa ra những quyết định cần thiết có
liên quan đến cho vay, theo dõi và quản lý tài khoản cho vay. Thông tin tín dụng là một trở
ngại cần khắc phục khi cấp tín dụng cho DNVVN bởi những doanh nghiệp này thường
thiếu minh bạch về thông tin tài chính và hoạt động.
- Quy trình tín dụng:
Một quy trình tín dụng khoa học, cụ thể chính là một trong những điều kiện quan
trọng giúp ngân hàng quản lý được các khoản vay đồng thời tạo điều kiện cho khách hàng,
đặc biệt là DNVVN tiếp cận tín dụng được thuận lợi, dễ dàng hơn.
- Năng lực quản trị rủi ro tín dụng:
Khi chủ trương tăng trưởng tín dụng đối với DNVVN, năng lực quản trị rủi ro tín
dụng của ngân hàng càng cần được đề cao bởi thông tin tài chính và hoạt động của đối
tượng DNVVN.
1.5.2. Các nhân tố bắt nguồn từ doanh nghiệp vừa và nhỏ:
- Năng lực tài chính của doanh nghiệp:
Năng lực tài chính là một trong những điều kiện quan trọng nhất tác động đến
quyết định cho vay của ngân hàng. Tuy nhiên, đây là khó khăn đối với các DNVVN bởi
những doanh nghiệp này thường không cung cấp được thông tin tài chính có thể xác minh
dẫn đến khả năng bị từ chối khoản vay cao.
- Năng lực quản trị điều hành của doanh nghiệp:
Khả năng điều hành tốt, xây dựng được dự án kinh doanh hoặc kế hoạch phát triển
bài bản sẽ tạo niềm tin cho ngân hàng khi quyết định cho vay. Tuy nhiên trên thực tế,
DNVVN khó có thể thuyết phục được ngân hàng giải ngân cho dự án, kế hoạch kinh
doanh của mình do không chứng minh được tính khả thi và khả năng sinh lời.
- Chiến lược phát triển của doanh nghiệp:
Chiến lược phát triển của doanh nghiệp cho biết trong kỳ kinh doanh sắp tới doanh
nghiệp sẽ mở rộng, duy trì hay thu hẹp quy mô hoạt động; từ đó ảnh hưởng đến nhu cầu

dụng ngân hàng đối với DNNVV. Đề tài làm rõ hơn về thực trạng họat động của DNNVV
trên địa bàn TP.HCM, cũng như là khả năng tiếp cận vốn vay ngân hàng của DNNVV và
hoạt động tín dụng đối với DNNVV tại các chi nhánh Agribank trên địa bàn TP.HCM. Từ
những thực trạng đó, tác giả đã đưa ra những giải pháp cho việc mở rộng quy mô và nâng
cao chất lượng tín dụng, tăng năng lực cạnh tranh của hệ thống Agribank trong xu thế
cạnh tranh ngày càng gay gắt để từng bước ổn định và vươn ra thị trường thế giới. Đồng
thời góp phần giải quyết bài toán làm thế nào để Agribank trên địa bàn TP.HCM vừa có
thể đáp ứng được nhu cầu vốn vay của DNNVV, vừa mở rộng quy mô và nâng cao chất
lượng tín dụng.
Nhìn nhận ở một khía cạnh khác, Luận án tiến sỹ kinh tế “Tăng trưởng tín dụng
ngân hàng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam trong điều kiện kinh tế vĩ mô bất
ổn “của NCS Nguyễn Văn Lê đã tập trung nghiên cứu một cách có hệ thống về những vấn
đề lý luận và thực tiễn về tăng trưởng tín dụng ngân hàng đối với DNNVV tại Việt Nam
trong điều kiện kinh tế vĩ mô bất ổn. Luận án đã phân tích một cách toàn diện và có hệ
thống về kinh nghiệm tăng trưởng tín dụng ngân hàng cho DNNVV trong điều kiện kinh
tế vĩ môbất ổn tại ba quốc gia bao gồm Đài Loan, Hàn Quốc và Ireland, qua đó đã rút
ranhiều bài học kinh nghiệm có giá trị cho Việt Nam. Luận án đã phân tích, đánh giá một
cách toàn diện thực trạng tăng trưởng tín dụng đối với DNNVV Việt Nam trong điều kiện
kinh tế vĩ mô bất ổnvà đã đưa ra một số đánh giá khách quan về những thành công, tồn tại
trong vấn đề tăng trưởng tín dụng đối với DNNVV của Việt Nam trong điều kiện kinh tế
vĩ mô bất ổn, từ đó xây dựng một hệ thống các giải pháp chiến lược cần thực thi để tăng
trưởng tín dụng cho DNNVV trong điều kiện kinh tế vĩ mô bất ổn.
Với các đề tài về tín dụng ngân hàng cho DNVVN của hai nghiên cứu sinh đã được
trình bày trên đây, chúng ta có thể thấy được vai trò quan trọng của DNVVN trong nền
kinh tế, thực trạng cấp tín dụng cho DNVVN tại Việt Nam hiện nay cũng như đưa ra
những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động cấp tín dụng cho phân khúc khách
hàng là DNVVN tại các ngân hàng thương mại.


11

Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB) vẫn thấp cả về số lượng cũng như giá trị bảo lãnh.
Tỷ lệ rủi ro bảo lãnh cao tới 26,96%. Tỷ lệ từ chối trả thay của VDB cũng khá cao
18,63%.
DNVVN tiếp cận tín dụng của các NHTM thông qua bảo lãnh của VDB ngày càng hạn
chế. Thậm chí 03 năm gần đây không có trường hợp DNVVN được bảo lãnh vay qua
VDB.
- Ba là, tái cơ cấu nợ và hiệu ứng giảm lãi vay còn chậm:
Đến cuối năm 2013, lãi suất cho vay phổ biến trong khoảng 8-11,5%/năm kỳ hạn ngắn
và 11,5-13%/năm trung dài hạn. Mặc dù cho đến nay NHNN Việt Nam vẫn có chủ trương
định hướng giảm tiếp mặt bằng lãi suất thêm 1-1,5%, nhất là lãi suất cho vay trung, dài
hạn nhưng phần lớn các DNVVN khó có tỷ suất lợi nhuận cao trên 10% để chịu nổi mặt
bằng lãi suất hiện nay, tồn kho có giảm vẫn còn cao, tiêu thụ khó khăn, nhiều lĩnh vực,
ngành hàng vẫn lỗ nặng nếu cứ tiếp tục kinh doanh. DN vẫn rất khó khăn khi tiếp cận vay
mới vì phần lớn tài sản đảm bảo đã cạn kiệt, tổng tài sản có sinh lời và doanh thu sụt
giảm, quy mô thu hẹp.
2.2. Hoạt động tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân Hàng Thương
Mại Việt Nam:
Nhìn nhận một cách khách quan thì dịch vụ của các NHTM Việt Nam mới ở điểm
xuất phát tiếp cận với các nghiệp vụ truyền thống của ngân hàng thương mại các nước
trên thế giới. Hoạt động kinh doanh mang lại lợi nhuận chủ yếu cho các NHTM Việt Nam


12

là từ dịch vụ tín dụng - cho vay khách hàng. Doanh số các loại hình dịch vụ tín dụng mới
như: cho thuê tài chính, cho vay đồng tài trợ, bảo lãnh còn ít, chất lượng chưa cao, quá
trình đa dạng hoá các dịch vụ ngân hàng hiện đại ở nước ta còn chậm. Các dịch vụ thanh
toán qua ngân hàng còn đơn điệu do chưa có hệ thống và công nghệ thanh toán hiện đại,
tỷ trọng thanh toán bằng tiền mặt còn lớn. Các phương tiện thanh toán không dùng tiền
mặt còn nhiều hạn chế, do tính thuận tiện, nhanh nhạy, an toàn chưa cao. Dịch vụ ngân

còn khiêm tốn là do trong những năm trước đây, tín dụng ngân hàng phần nhiều dành cho
các DNNN, doanh nghiệp lớn và đổ nhiều vào lĩnh vực phi sản xuất (chứng khoán, bất
động sản). Tuy nhiên, ngày 01/03/2011, Thống đốc NHNN đã ban hành Chỉ thị số 01/CTNHNN yêu cầu các tổ chức tín dụng (TCTD) thực hiện giảm tốc độ và tỷ trọng dư nợ cho
vay lĩnh vực phi sản xuất so với năm 2010, nhất là lĩnh vực bất động sản, chứng khoán.
Trong năm 2012, NHNN tiếp tục đặt mục tiêu kiểm soát tỷ trọng dư nợ đối với các lĩnh
vực không ưu tiên (tạm đồng nhất với lĩnh vực phi sản xuất) như bất động sản, chứng
khoán ở mức 16%. Những chính sách này của NHNN đã dần nắn dòng tín dụng sang khu
vực sản xuất trong đó có đối tượng DNVVN.
Đối tượng DNVVN vay vốn ngân hàng tương đối đa dạng bao gồm: doanh nghiệp
là công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư
nhân. Trong đó, doanh nghiệp là công ty cổ phần chiếm tỷ trọng lớn nhất trong khoảng
40% - 50% tổng dư nợ của các NHTM đối với các ngân hàng thương mại và có xu hướng


13

gia tăng trong thời gian những năm gần đây. Kế đến là đối tượng các công ty trách nhiệm
hữu hạn, khoảng 40% tổng số doanh nghiệp có dư nợ.
Theo nghiên cứu phần lớn dư nợ của các ngân hàng đối với đối tượng DNVVN là
loại hình công ty cổ phần và công ty TNHH và có xu hướng tăng với tổng dư nợ của hai
đối tượng này là từ 80% năm 2008 lên gần 90% năm 2013. Cụ thể, tỷ trọng dư nợ cho
công ty cổ phần đã tăng mạnh vào năm 2010 từ 41% năm 2009 lên trên 55% vào năm
2013, còn loại hình doanh nghiệp khác giảm từ 17% xuống 2%, còn các loại hình doanh
nghiệp còn lại có tỷ trọng khá ổn định qua các năm. Việc chuyển đổi dần cơ cấu tín dụng
theo loại hình doanh nghiệp của các ngân hàng là phù hợp với điều kiện và xu hướng kinh
tế hiện nay, do các công ty cổ phần và công ty TNHH có số lượng ngày càng tăng và giữ
vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế. Đồng thời, cơ cấu tín dụng đa dạng, có tính ổn
định cao có thể giúp các ngân hàng tăng hiệu quả hoạt động, giảm thiểu rủi ro trong quá
trình cấp tín dụng cho DNVVN.
Dư nợ DNVVN của các ngân hàng khá đều trong tương quan giữa các ngành.

kinh tế thể hiện qua sức mua của nền kinh tế yếu, tổng cầu giảm cũng như những yếu kém
nội tại của doanh nghiệp vẫn đang là trở ngại cho sự phục hồi sản xuất kinh doanh và đầu
tư của doanh nghiệp, đặc biệt là DNVVN trong thời gian này. Ngoài những sản phẩm
được sử dụng phổ biến, những sản phẩm tín dụng khác như bao thanh toán, chiếu khấu,
cho vay trả góp, bảo lãnh ngân hàng, cho vay hợp vốn vẫn chiếm tỷ lệ nhỏ trong tổng dư


14

nợ đối với DNVVN. Điều này cho thấy DNVVN chưa hiểu biết nhiều về các sản phẩm tín
dụng phục vụ cho hoạt động kinh doanh của mình.


15

CHƯƠNG 3
PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG CẤP TÍN DỤNG ĐỐI
VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
3.1. Phương hướng mở rộng hoạt động cấp tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và
nhỏ tại Ngân Hàng Thương Mại Việt Nam:
3.1.1. Xây dựng quy trình tăng trưởng hoạt động cấp tín dụng cho doanh nghiệp
vừa và nhỏ tại Ngân Hàng Thương Mại Việt Nam:
Việc đầu tiên các NHTM cần bắt đầu là tìm hiểu cơ hội trong thị trường DNVVN
và tìm hiểu tình hình cạnh tranh để biết các nhu cầu của DNVVN về tín dụng hiện đang
được đáp ứng như thế nào. Một khi đã hiểu rõ về cơ hội thị trường DNVVN, các ngân
hàng có thể đánh giá năng lực và lợi thế cạnh tranh riêng của mình, và nhận biết các trở
ngại tiềm ẩn đối với việc xâm nhập thị trường, các rủi ro và yếu tố thành công nòng cốt.
Cuối cùng, để thực hiện từng bước chắc chắn các ngân hàng nên lập một kế hoạch thực
hiện chiến lược, nhận biết các nguồn lực cần thiết và ưu tiên các hoạt động quản lý và
điều hành mà ngân hàng phải thực hiện theo trình tự thời gian.

3.1.4. Đánh giá khả năng hấp thụ vốn của doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân
hàng Thương mại Việt Nam:
Trong bối cảnh kinh tế hiện nay, bất chấp những gói kích thích kinh tế từ phía
chính phủ hay gói hỗ trợ ưu đãi tín dụng hấp dẫn từ phía ngân hàng, việc cung cấp tín


16

dụng của ngân hàng gặp nhiều khó khăn do khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế nói
chung và của DNVVN nói riêng suy giảm. Ngoài ra nhiều khoản tín dụng khi cấp ra
không đảm bảo chất lượng do khả năng hấp thụ vốn của doanh nghiệp yếu kém. Do vậy,
để có thể thúc đẩy tăng trưởng tín dụng cho DNVVN vừa đảm bảo chất lượng tín dụng,
NHTM cần phải đánh giá khả năng hấp thụ vốn của doanh nghiệp trước khi quyết định
cho vay.
Khả năng hấp thụ vốn của DNVVN có thể được hiểu là khả năng chuyển hóa vốn
cùng các nguồn lực đầu vào khác thành sản phẩm đầu ra có thể tiêu thụ được và mang lại
lợi nhuận như mong đợi cho doanh nghiệp.
3.2. Một số giải pháp phát triển hoạt động cấp tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại
Ngân Hàng Thương Mại Việt Nam:

3.2.1. Chuẩn bị nguồn vốn đảm bảo đủ đáp ứng nhu cầu vay của doanh nghiệp
vừa và nhỏ:
- Huy động từ nguồn tiền gửi tiết kiệm của các tổ chức, cá nhân:
Với mục tiêu đáp ứng tốt chức năng là trung gian tín dụng, là cầu nối giữa người
thừa vốn và người thiếu vốn, các NHTM cần nhanh chóng nắm bắt thị trường, tạo thuận
lợi cho người gửi tiền, mở rộng nhiều hình thức huy động vốn, cải tiến công nghệ nhằm
đưa ra nhiều sản phẩm có tiện ích cao cho khách hàng, đổi mới phong cách và thái độ
phục vụ theo hướng chuẩn quốc tế. Mở rộng mạng lưới hiện đại hóa giúp khách hàng có
thể gửi, rút tiền tại mọi nơi thuộc hệ thống.
- Phát hành trái phiếu ngân hàng, chứng chỉ tiền gửi:


17

kịp thời, phát hiện và giải quyết những khó khăn vướng mắc trong hoạt động sử dụng vốn
vay của khách hàng nhằm hạn chế những rủi ro không lường trước được, nâng cao chất
lượng tín dụng đối với DNVVN, đẩy mạnh doanh thu cho ngân hàng từ các sản phẩm,
dịch vụ từ đối tượng này.
Để đảm bảo thực hiện thành công chính sách tín dụng đối với DNVVN, các NHTM
cần thực hiện:
Xây dựng chính sách tín dụng thuộc chính sách khách hàng đối với DNVVN tại
các địa bàn giao dịch cụ thể thông qua việc phân tích ngành và định hướng khách hàng
theo từng vùng miền, từ đó có thể đẩy mạnh công tác tiếp thị dịch vụ ngân hàng tới
DNVVN của từng chi nhánh theo đúng định hướng và có hiệu quả.
Đa dạng hoá các hình thức cấp tín dụng dành cho DNVVN. DNVVN tại từng địa
bàn có những đặc điểm, tiềm năng khai thác khác nhau nên các hình thức tín dụng và các
dịch vụ đi kèm phải được thiết kế phù hợp với đối tượng DNVVN.
Nghiên cứu và ban hành biểu phí và lãi suất cạnh tranh, thay đổi theo từng thời kì.
DNVVN hoạt động trong tất cả các lĩnh vực, ngành nghề và mỗi lĩnh vực, ngành nghề đều
có thế mạnh và hạn chế riêng, dẫn đến nhu cầu hay quan niệm về nguồn vốn cũng khác
nhau. Do đó, những đánh giá chính xác về khách hàng và khoản tín dụng cấp nhằm xây
dựng một biểu phí lãi suất cho vay phù hợp với từng đối tượng ngành nghề.
Lựa chọn các sản phẩm và hình thức tài sản bảo đảm phù hợp với đặc điểm ngành
nghề của DNVVNtừng vùng miền như nhận thế chấp bất động sản, tài sản cố định của
doanh nghiệp; nhận thế chấp hàng tồn kho hoặc khoản phải thu luân chuyển và không
luân chuyển...
Tăng cường công tác truyền thông, quảng bá sản phẩm dịch vụ ngân hàng trên các
phương tiện đại chúng tại địa phương nhằm mang đến thông tin về sản phẩm, tiện ích khi
sử dụng dịch vụ của ngân hàng tới các khách hàng nói chung và DNVVN nói riêng.
Thời gian giao dịch và độ chính xác trong quá trình cung ứng dịch vụ: đây là một
yếu tố quan trọng trong ngành dịch vụ ngân hàng. DNVVN mặc dù có quy mô nhỏ, dư nợ

sở nguyên tắc bảo đảm chất lượng tín dụng:
Từ kết quả phân tích thực trạng vốn của DNVVN tại Việt Nam, tác giả rút ra một
số kết luận sau: (i) tỷ trọng DNVVN vay vốn ngân hàng và tỷ trọng vay vốn ngân hàng
trong tổng nguồn vốn của các DNVVN tại Việt Nam tương đối thấp, có tiềm năng để tăng
thêm; (ii) vốn vay có tác động hiệu quả hơn tới khả năng sinh lời của doanh nghiệp so với
sử dụng nợ phải trả; (iii) với điều kiện kinh tế vĩ mô bất ổn, chi phí huy động vốn tăng cao
trong khi lợi nhuận sụt giảm thì rủi ro tài chính và rủi ro hoạt động của doanh nghiệp là rất
lớn; (iv) đòn bẩy tài chính mạng lại hiệu quả tích cực tới khả năng sinh lời trong điều kiện
kinh tế vĩ mô ổn định và ngược lại, nhưng phần lớn là từ các khoản phải trả ngắn hạn.
Như vậy, có thể khẳng định rằng trong thời gian tới, khi nền kinh tế dần đi vào tình
trạng ổn định và tình hình của doanh nghiệp tốt lên và do tỷ lệ nợ, đặc biệt là vay ngân
hàng còn khá thấp, thì việc các DNVVN sẽ tiếp tục chuyển sang vay nợ ngân hàng để tận
dụng hiệu quả đòn bẩy tài chính là hoàn toàn có khả năng. Đây chính là nhu cầu tín dụng
đối với các NHTM nhằm tạo ra tăng trưởng tín dụng và mang lại lợi nhuận cho ngân hàng
trong tương lai. Tuy nhiên, với bối cảnh kinh tế vĩ mô vẫn còn tiềm ẩn nhiều rủi ro và các
DNVVN sau một thời kỳ sản xuất kinh doanh khó khăn, suy yếu về mặt tài chính, công
tác mở rộng tín dụng không thể bỏ qua việc tăng cường chất lượng tín dụng.


19

KẾT LUẬN
Với định hướng của đa số các NHTM Việt Nam hiện nay là đi theo mô hình ngân
hàng bán lẻ thì phân khúc DNVVN đã được xác định là đối tượng khách hàng mục tiêu
của các ngân hàng. Trên thực tế, hoạt động cấp tín dụng cho DNVVN đã và đang đóng
góp không nhỏ vào sự tăng trưởng của hệ thống ngân hàng trong những năm qua. Tuy
nhiên, do đặc trưng về quy mô và hoạt động sản xuất kinh doanh, các DNVVN vẫn
thường xuyên vấp phải khó khăn trong quá trình tiếp cận nguồn vốn vay ngân hàng. Đặc
biệt là trong bối cảnh nền kinh tế bất ổn thì các DNVVN lại càng dễ bị tổn thương, do đó
mà việc cấp tín dụng cho các DNVVN của các NHTM cũng gặp rất nhiều khó khăn.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status