BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
-------------------------------
LÊ THỊ ÁNH
NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG HẤP THỤ CO2 RỪNG
TỰ NHIÊN TRẠNG THÁI IIB TẠI HUYỆN ĐẠI TỪ,
TỈNH THÁI NGUYÊN
Chuyên ngành: Lâm học
Mã số: 60.62.60
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS Võ Đại Hải
Hà Nội – 2012
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Hiện tượng nóng lên toàn cầu thực sự đã và đang là chủ đề nóng bỏng trên
các bàn nghị sự liên quan đến vấn đề biến đổi khí hậu, sự đóng góp của các khí nhà
kính (chủ yếu là CO2) trong hiện tượng nóng lên toàn cầu sẽ còn tiếp tục gia tăng và
là mối quan tâm của mọi quốc gia trên thế giới. Khí nhà kính chỉ chiếm 1% bầu khí
phát triển sạch” (CDM – Clean Development Mechanism). CDM đã mở ra cơ hội
lớn cho ngành lâm nghiệp trong việc bán cacbon tích lũy bởi hệ sinh thái rừng để
tạo nguồn sông cho người dân và tái đầu tư phát triển rừng.
Ở Việt Nam, vấn đề thương mại hóa các giá trị dịch vụ môi trường rừng bao
gồm khả năng hấp thụ CO2 của rừng còn rất mới mẻ nhưng lại rất được sự quan tâm
nghiên cứu trong một vài năm gần đây. Việt Nam đã thực sự quan tâm đến vấn đề
biến đổ khí hậu và là một trong những quốc gia tiên phong ở Đông Nam Á thực hiện
chi trả các dịch vụ môi trường rừng. Ngày 10 tháng 04 năm 2008 Thủ tướng Chính
phủ đã ra Quyết định số 380/QĐ-TTg về chính sách thí điểm chi trả dịch vụ môi
trường rừng được thực hiện thí điểm tại 2 tỉnh Sơn La và Lâm Đồng [24]. Mục đích
của việc thí điểm này là tạo cơ sở cho việc xây dựng khung pháp lý về chính sách chi
trả dịch vụ môi trường rừng, thực hiện xã hội hóa nghề rừng, bảo vệ rừng đầu nguồn
và hệ sinh thái, nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ, đảm bảo nguồn nước cho thủy
điện và các hoạt động kinh doanh du lich.
Sau hai năm thực hiện thí điểm chi trả dịch vụ môi trường rừng theo quyết
định 380/QĐ-TTg, ngày 24 tháng 09 năm 2010 Thủ tướng Chính phủ đã ra Nghị định
số 99/NĐ-TTg về chính sách chi trả môi trường rừng [25]. Theo Nghị định này, các
tổ chức cá nhân được hưởng lợi từ dịch vụ môi trường rừng phải chi trả tiền dịch vụ
môi trường rừng cho các chủ rừng của các khu rừng tạo ra dịch vụ đã cung ứng trong
đó có hấp thụ CO2 và lưu giữ các bon của rừng.
Năm 2012 khi mà nghị định thư Kyoto hết hiệu lực, một sáng kiến mới được
Liên hiệp quốc đưa ra đó là chương trình UN - REDD (giảm phát thải từ mất rừng và
suy thoái rừng). Theo các nhà khoa học thì nguyên nhân mất rừng và suy thoái rừng
đóng góp khoảng gần 20% tổng lượng CO2 phát thải trong khí quyển, do vậy việc
ngăn chặn mất rừng và suy thoái rừng là giải pháp hữu hiệu để giảm lượng phát thải
khí nhà kính, giảm tác động của biến đổi khí hậu. Dự án được thực hiện chia làm 2
pha là: Pha 1 hỗ trợ trực tiếp các nước đang phát triển, pha 2 các hoạt động trên phạm
4
Chương 1
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1. Trên thế giới
Rừng có vai trò rất quan trọng trong điều tiết lượng CO2 trong khí quyển, chúng
được ví như bể hấp thụ loại khí này. Hàng năm, nhờ quang hợp thực vật đã tạo ra trên
trái đất 150 tỷ tấn sinh khối, hấp thụ 300 tỷ tấn CO2. Năng suất hấp thụ phụ thuộc nhiều
vào kiểu rừng và loại cây. Rừng kín ôn đới hấp thụ CO2 khoảng 20 - 25 tấn/ha/năm,
rừng mưa nhiệt đới thường xanh hấp thụ CO2 khoảng 150 tấn/ha/năm. Các chuyên gia
môi trường đã tính toán và cho thấy để hấp thụ được lượng khí CO2 gia tăng như tốc độ
hiện nay, mỗi năm trên Trái Đất phải trồng thêm 500 triệu ha rừng và tiêu tốn 200.000
- 500.000 triệu USD. Chính vì vậy, tích lũy các bon dần trở thành một trong những
nhiệm vụ cơ bản của ngành lâm nghiệp. Đây là vấn đề quan tâm không chỉ của một hay
vài nước mà là vấn đề toàn cầu (Dẫn theo Nguyễn Thị Hạnh, 2009) [5].
Theo nguồn từ UNEF, trong chu trình các bon toàn cầu, lượng các bon lưu
giữ trong thực vật thân gỗ và trong lòng đất khoảng 2,5 Tt 1 (bao gồm trong đất, sinh
khối tươi và vật rơi rụng), trong khi đó khí quyển chỉ chứa 0,8 Tt. Dòng các bon
trao đổi do sự hô hấp và quang hợp của thực vật là 0,61 Tt và dòng trao đổi giữa
không khí và đại dương là 0,92 Tt.
Hình 2.1. Chu trình các bon toàn cầu
(Nguồn: Phạm Tuấn Anh, 2006 trích dẫn) [3]
1
1 terra ton (Tt) = 1012tấn = 1018g
5
Rừng nhiệt đới gió mùa
12
2,19
Rừng thường xanh ôn đới
80
14,63
Rừng phương bắc
108
19,74
7
1,28
547
100
Đất trồng trọt
Tổng lượng các bon ở lục địa
bon trong toàn châu lục. Năm 1991, Houghton R.A đã chứng minh lượng các bon
trong rừng nhiệt đới châu Á là 40 - 250 tấn/ha, trong đó 50 - 120 tỷ tấn/ha ở phần
thực vật và đất (Brown, S. 1997).
Năm 1995 Murdiyarso D. đã nghiên cứu và đưa ra dẫn liệu rừng Indonesia
có lượng các bon hấp thụ từ 161 - 300 tấn/ha trong phần sinh khối trên mặt đất.
Trung tâm phát triển và bảo tồn rừng của Indonesia đã nghiên cứu khả năng hấp thụ
các bon của rừng trồng Keo tai tượng, Thông trên đảo Java. Kết quả cho thấy khả
năng hấp thụ CO2 của Thông cao hơn của Keo tai tượng. Năm 2000, Noordwijk đã
nghiên cứu khả năng tích luỹ các bon của các rừng thứ sinh, các hệ nông lâm kết
7
hợp và thâm canh cây lâu năm trung bình là 2,5 tấn/ha/năm và đã nghiên cứu về
mối quan hệ giữa điều kiện xung quanh với loài cây: khả năng tích luỹ các bon này
biến động từ 0,5 - 12,5 tấn/ha/năm, rừng Quế 7 tuổi tích luỹ từ 4,49 - 7,19 kg các
bon/ha.
Tại Thái Lan, Noonpragop K. đã xác định lượng các bon trong sinh khối trên
mặt đất là 72 - 182 tấn/ha.
Ở Malaysia lượng các bon trong rừng biến động từ 100 - 160 tấn/ha và tính
cả trong sinh khối và đất là 90 - 780 tấn/ha (Abu Bakar, R). Các tác giả đã xác định
lượng sinh khối dưới và trên mặt đất của rừng thứ sinh ở Malaysia đạt 576 tấn/ha,
trung bình hàng năm tích lũy 12 tấn/ha/năm. Lượng các bon chiếm khoảng 43 %
tổng sinh khối khô.
Tại Philippines, năm 1999 Lasco R, cho thấy ở rừng tự nhiên thứ sinh có 86 201 tấn các bon/ha trong phần sinh khối trên mặt đất; ở rừng già con số đó là 370 520 tấn sinh khối/ha (tương đương 185 - 260 tấn các bon/ha, lượng các bon ước
chiếm 50% sinh khối). Nghiên cứu của Lasco năm 2003 cũng cho thấy rừng trồng
thương mại cây mọc nhanh tích luỹ được 0,5 - 7,82 tấn các bon/ha/năm tuỳ theo loài
cây và tuổi [31].
Nghiên cứu lượng các bon lưu trữ trong rừng trồng nguyên liệu giấy, Romain
Pirard (2005) đã tính lượng các bon lưu trữ dựa trên tổng sinh khối tươi trên mặt
kinh tế cho các loài cây này, trong đó có loài Keo tai tượng đã đưa ra được phương
trình tính lượng các bon có trong sinh khối cây với loài Keo tai tượng:
0.5 * 0.53 *Vt
Bt
*1.15
0.75
(1.1)
Vt: là thể tích cây tính theo tuổi
Vt 194,21 Exp(1,926(1 0.806)t
1/ 10.806
(với α=5,356)
(1.2)
Vấn đề giá trị thương mại các bon cũng đã có một số nghiên cứu. Theo ngân
hàng thế giới (1998) [34], các nhà khoa học đã ước lượng giá trị dịch vụ do hệ sinh
thái rừng trên toàn thế giới đạt khoảng 33.000 tỷ USD/năm trong đó giá trị mang lại
từ giá trị thương mại CO2 là rất lớn. Natasha và Ina (2002) [30] đã tổng hợp các kết
quả nghiên cứu về giá trị của rừng. Giá trị kinh tế của rừng tự nhiên nhiệt đới thông
qua việc hấp thụ CO2 cũng được Camille và Bruce (1994) [27], Camille (2003) [39]
nghiên cứu.
10
- “Cơ chế phát triển sạch và cơ hội thương mại Các bon trong Lâm nghiệp”
của Phạm Xuân Hoàn (2005) [10].
Trong các tài liệu này các tác giả đã khái quát toàn bộ thông tin về hoàn
cảnh ra đời cũng như nội dung, mục tiêu của Công ước khung của Liên hiệp quốc
về biến đổi khí hậu, Nghị định thư Kyoto và đặc biệt quan tâm đến “Cơ chế phát
triển sạch” - một cơ hội thương mại lớn cho ngành Lâm nghiệp. Bên cạnh đó một số
tác giả như Phạm Văn Điển (2004), Vũ Tấn Phương (2004), Ngô Đình Quế
(2005),... cũng đã đưa ra các phương pháp lượng hoá giá trị thương mại của Các
bon về mặt phương pháp luận.
Nguyễn Tuấn Dũng (2005) [4] đã nghiên cứu lượng các bon tích lũy của một
số trạng thái rừng trồng tại núi Luốt trường Đại học Lâm nghiệp cho hai đối tượng
là rừng trồng thuần loài Thông mã vĩ 20 tuổi và rừng trồng Keo lá tràm 15 tuổi. Kết
quả cho thấy, đối với Thông mã vĩ 20 tuổi, lượng các bon tích lũy của cây tiêu
chuẩn bình quân lâm phần là từ 78,1 165,5 kg/cây; với keo lá tràm 15 tuổi, con số
này là 133,9 kg/cây. Rừng trồng thông mã vĩ tích lũy được 75 115,7 tấn các
bon/ha trong cây, với keo lá tràm con số này là 56,4 95,6 tấn các bon/ha. Tại thời
điểm nghiên cứu, với rừng thông mã vĩ trông thuần loài 20 tuổi, lượng các bon tích
lũy trong vật rơi rụng là từ 2,04 3,62 tấn/ha, với rừng keo lá tràm trồng thuần loài
15 tuổi con số này nằm trong khoảng 2,36 4,83 tấn/ha.
Cũng trong năm 2005, Ngô Đình Quế [18] và các cộng sự đã nghiên cứu
lượng các bon tích lũy cho các loài Keo tai tượng, Keo lá tràm, Keo lai, Thông
nhựa, Thông mã vĩ, Thông ba lá, Bạch đàn Urophylla với phạm vi áp dụng cho
rừng phòng hộ môi trường và rừng sản xuất nguyên liệu giấy ở vùng đồi núi thấp.
Sau khi tính toán lượng sịnh khối tươi, tiến hành xác định sinh khối tươi và lượng
các bon hấp thụ như sau: (1) tính toán sinh khối khô: mẫu thực vật phân tích khối
lượng khô đem sấy ở nhiệt độ 1050C trong 6 - 8 giờ đến khối lượng không đổi. Độ
Kết quả nghiên cứu của Ngô Đình Quế cho thấy, khả năng hấp thụ CO2 của
các lâm phần khác nhau tùy thuộc vào năng suất lâm phần đó ở các tuổi nhất định.
Để tích lũy khoảng 100 tấn CO2/ha Thông nhựa phải đến tuổi 16 - 17, Thông mã vĩ
và Thông ba lá ở tuổi 10, Keo lai tuổi 4 - 5, Keo tai tượng 5 - 6, Bạch đàn Uro ở
tuổi 4 - 5. Kết quả nghiên cứu này rất có ý nghĩa nhằm làm cơ sở cho việc quy
hoạch vùng trồng, xây dựng các dự án trồng rừng theo cơ chế phát triển sạch.
Trong nghiên cứu trữ lượng các bon của thảm tươi và cây bụi, Vũ Tấn
Phương (2006) [16] thấy rằng tỷ lệ sinh khối khô/tươi của tế guột đạt 46 %, cây bụi
45 % và lau lách đạt 33%. Lượng các bon được tác giả tính như sau: lượng các bon
= 50 % lượng sinh khối khô. Lượng các bon trên mặt đất biến động từ 6,6 - 20
tấn/ha, trong đó lau lách có lượng các bon tích lũy cao nhất khoảng 20 tấn/ha, cỏ chỉ
và cỏ lông lợn thấp nhất khoảng 3,9 tấn các bon/ha. Từ kết quả trên cho thấy khả
năng hấp thụ CO2 của lau lách cao nhất trong các đối tượng mà tác giả nghiên cứu.
Theo Phạm Thị Quỳnh Anh (2006) [2], tỷ lệ sinh khối tươi bộ phận của lâm
phần mỡ đạt trung bình thân 62,25 % (57 - 65 %), cành 8,25 % (7 - 11 %), lá 5,57
% (5 - 6 %), rễ 23 % (22 - 24 %). Sinh khối khô bộ phận của thân biến động từ 76 -
12
79 %, cành 4 - 7 %, lá 3 %, rễ 14 %. Phương trình tương quan sinh khối với nhân tố
điều tra lâm phần mỡ (A, N, D1,3, Hvn) được chọn có R từ 0,53 - 0,89. Tác giả đã
tính lượng các bon trong sinh khối khô từ công thức cấu tạo của xellulose
(C6H10O5)n tức là % C = 72/162*100 = 44 %. Lượng các bon = sinh khối khô*%C
và ở tuổi 6 - 21 mỡ tích lũy khoảng 22,79 - 259,11 tấn CO2/ha, trung bình 9,56 tấn
CO2/ha/năm. Lượng giá tương đương 1.100.000 đ (đơn giá 7 USD/tấn CO2).
Trong chương trình hướng dẫn thực hiện các hoạt động của dự án trồng rừng
theo cơ chế phát triển sạch (AR - CDM) tại Việt Nam, kết quả nghiên cứu của
Claudia Doets, Nguyễn Văn Sơn và Lê Viết Tám (2006) cho thấy cỏ tranh tích lũy
các bon đạt 5,63 tấn/ha tương đương lượng hấp thụ là 24,16 tấn CO2/ha. Cỏ lau tích
được 31,85 kg các bon trong sinh khối, có nghĩa là cây rừng hấp thụ được 116,90 kg
CO2. Lượng CO2 hấp thụ biến động từ 5,67 - 445,98 kg CO2/cây. Tác giả cũng ước
lượng khả năng hấp thụ đạt 17,13 - 21,99 tấn CO2/ha/năm với giá trị bằng tiền là
3.015.000 - 3.870.000 đồng/ha/năm (đơn giá 11 USD/tấn CO2). Tác giả đã thử
nghiệm và chọn được các phuơng trình tương quan giữa sinh khối với D 1,3, thể tích
(V), hấp thụ CO2 cây cá thể với D1,3, V, hấp thụ CO2 quần thể với trữ lượng (M).
Nhìn chung các phương trình được chọn đa số có dạng logY = a0 + a1*logX.
Nguyễn Duy Kiên (2007) [13], khi nghiên cứu khả năng hấp thụ CO2 rừng
trồng Keo tai tượng (Acacia mangium) tại Tuyên Quang đã cho thấy sinh khối tươi
trong các bộ phận lâm phần Keo tai tượng có tỷ lệ khá ổn định, sinh khối tươi tầng
cây cao chiếm tỷ trọng lớn nhất từ 75-79%; sinh khối cây bụi thảm tươi chiếm tỷ
trọng 17- 20 %; sinh khối vật rơi rụng chiếm tỷ trọng 4-5%.
Kết quả thực hiện đề tài nghiên cứu ”Nghiên cứu sinh khối và khả năng cố
định các bon của rừng Mỡ (Manglietia conifera Dandy) trồng tại Tuyên Quang và
Phú Thọ” cho thấy, cấu trúc sinh khối cây cá thể Mỡ gồm 4 phần thân, cành, lá và
rễ, trong đó sinh khối tươi lần lượt là 60%, 8%, 7% và 24%; tổng sinh khối tươi của
một ha rừng trồng mỡ dao động trong khoảng từ 53,4 - 309 tấn/ha, trong đó: 86% là
sinh khối tầng cây gỗ, 6% là sinh khối cây bụi thảm tươi và 8% là sinh khối của vật
rơi rụng (Lý Thu Quỳnh, 2007) [19].
Không chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu các trạng thái rừng trồng, trong thời
gian gần đây các nhà khoa học đã tập trung nghiên cứu khả năng hấp thụ CO2 ở các
trạng thái rừng tự nhiên khác nhau.
14
Vũ Tấn Phương (2006) [16] tính toán trữ lượng các bon trong sinh khối thảm
tươi cây bụi tại Hòa Bình và Thanh Hóa là 20 tấn/ha với lau lách, 14 tấn/ha với cây
bụi cao 2-3 m, khoảng 10 tấn/ha với cây bụi dưới 2m và tế guột, 6,6 tấn/ha với cỏ lá
tre, 4,9 tấn/ha với cỏ tranh, cỏ chỉ/cỏ lông lợn là 3,9 tấn/ha. Đây là một kết quả
hấp thụ CO2 của rừng và giá trị lưu giữ các bon của rừng, là phần không thể thiếu
trong đinh giá rừng. Đề tài đã nghiên cứu giá trị lưu giữ các bon của các loại rừng ở
cả ba miền với cả ba loại rừng. Kết quả cho thấy, các hiện trạng rừng ở miền Nam
có giá trị hấp thụ các bon hàng năm cao hơn so với miền Bắc và miền Trung.
Theo Hoàng Xuân Tý (2004) [22], nếu tăng trưởng rừng đạt 15 m3/ha/ năm,
tổng sinh khối tươi và chất hữu cơ của rừng sẽ đạt được xấp xỉ 10 tấn/ha/năm tương
đương 15 tấn CO2/ha/năm, với giá thương mại CO2 tháng 5/2004 biến động từ 3 - 5
USD/tấn CO2, thì mỗi ha rừng như vậy có thể đem lại 45 - 75 USD (tương đương
với 675.000 - 1.120.000 đồng Việt Nam) mỗi năm.
Võ Đại Hải và cộng sự (2009), trong đề tài nghiên cứu “Nghiên cứu khả
năng hấp thụ và giá trị thương mại các bon của một số dạng rừng trồng chủ yếu ở
Việt Nam” đã nghiên cứu và xác định được cấu trúc lượng các bon trong cây cá thể,
trong lâm phần các loài Thông đuôi ngựa, Thông nhựa, Keo lai, Keo lá tràm, Bạch
đàn Uro,… bên cạnh đó, các tác giả còn xác định được các mối quan hệ tương quan
giữa lượng các bon hấp thụ với sinh khối cây cá lẻ, sinh khối cây bụi, thảm tươi,
thảm mục dưới tán rừng,… [7], [8].
Đặng Thịnh Triều (2010) [20] trong đề tài nghiên cứu “Nghiên cứu khả năng
cố định các bon của rừng trồng Thông mã vĩ (Pinus massoniana Lambert) và Thông
nhựa (Pinus merkusii Jungh et. de Vriese) làm cơ sở xác định giá trị môi trường
rừng theo cơ chế phát triển sạch ở Việt Nam” đã xác định được khả năng hấp thụ
các bon ở cấp tuổi 6 của lâm phần Thông mã vĩ khoảng từ 115,21 - 178,68 tấn/ha,
của lâm phần Thông nhựa khoảng 117,05 - 135,54 tấn/ha tùy thuộc vào cấp đất,
đồng thời tác giả cũng đã xây dựng được bảng tra khả năng hấp thụ các bon của cây
cá thể cũng như lâm phần Thông mã vĩ và Thông nhựa chung và riêng cho từng cấp
đất, xác định được giá trị thương mại các bon của rừng trồng Thông nhựa và Thông
mã vĩ theo từng cấp đất.
16
17
hầu hết các tác giả thường thiết lập mối quan hệ giữa lượng các bon hấp thụ với các
nhân tố điều tra cơ bản như đường kính, chiều cao vút ngọn, mật độ, tuổi,... Đây là
cơ sở quan trọng cho việc xác định nhanh lượng các bon hấp thụ của rừng trồng
nước ta thông qua điều tra một số chỉ tiêu đơn giản, dễ đo đếm.
Tuy nhiên, việc nghiên cứu khả năng hấp thụ các bon ở nươc ta phần lớn vẫn
tập trung ở rừng trồng các loài cây chủ yếu như Keo, Thông, Mỡ, Đước, Trang,..
Đối tuợng rừng tự nhiên mới được nghiên cứu gần đây song còn it, nội dung và
cách tiếp cận còn hạn chế, chưa đi sâu vào từng trạng thái rừng cụ thể. Và đặc biệt
là đối tượng rừng IIb với diện tích khá lớn và đang rất phổ biến ở nước ta. Vì vậy đề
tài: Nghiên cứu khả năng hấp thụ CO2 rừng tự nhiên trạng thái IIb tại huyện Đại
Từ, tỉnh Thái Nguyên đặt ra là hết sức cần thiết và có ý nghĩa thực tiễn.
18
Chương 2
MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, GIỚI HẠN, NỘI DUNG
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Mục tiêu nghiên cứu
+ Xác định được lượng CO2 hấp thụ trạng thái rừng IIB tại huyện Đại Từ,
tỉnh Thái Nguyên.
+ Đề xuất được các ứng dụng trong việc xác định tổng sinh khối và lượng
CO2 hấp thụ toàn lâm phần với các nhân tố điều tra lâm phần.
2.2. Đối tượng nghiên cứu
Các trạng thái rừng IIB tại huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên
2.3. Giơi hạn nghiên cứu
- Giới hạn về nội dung: Do hạn chế về mặt thời gian, kinh phí thực hiện nên
3) Đề xuất một số ứng dụng trong việc xác định lượng CO2 hấp thụ rừng IIB
2.5. Phương pháp nghiên cứu
2.5.1. Phương pháp tiếp cận
- Trong đề tài này khả năng hấp thụ CO2 của rừng được hiểu là khả năng thu
giữ các bon từ CO2 khí quyển để chuyển thành lượng các bon tích luỹ trong cơ thể
thực vật rừng. Nếu lượng các bon tích luỹ trong rừng càng nhiều thì khả năng hấp
thụ CO2 của nó càng tốt. Do đó nghiên cứu lượng cacbon tích lũy trong thực vật từ
đó suy ra lượng CO2 hấp thụ là cơ sở để xác định khả năng hấp thụ CO2 của các
kiểu rừng
- Giữa lượng các bon tích luỹ và sinh trưởng của cây có mối quan hệ chặt
chẽ với nhau, vì vậy dùng các chỉ tiêu sinh trưởng như: D1,3, Hvn,... để mô tả lượng
các bon tích luỹ ở các trạng thái rừng IIB.
- Tổng lượng các bon tích luỹ trong lâm phần bao gồm các thành phần sau:
lượng các bon tích luỹ trong tầng cây gỗ, cây bụi thảm tươi và vật rơi rụng.
- Trên cơ sở năng lực hấp thụ CO2 của các trạng thái rừng, gắn với các
phương thức quản lý rừng hiện tại, điều kiện xã hội, làm cơ sở ứng dụng và phát
triển phương pháp cụ thể tính hiệu quả kinh tế của rừng mang lại trong quản lý rừng
theo hướng bền vững này.
20
Sơ đồ các bước nghiên cứu của đề tài được thể hiện qua sơ đồ 2.1.
Thu thập tài liệu, thông tin đã có
Khảo sát khu vực nghiên cứu,
lựa chọn địa điểm điều tra
Lập OTC sơ cấp, nghiên cứu một số đặc điểm rừng IIb ở
khu vực NC và xác định cây tiêu chuẩn
quả, công trình nghiên cứu về khả năng hấp thụ C02 của rừng đã được công bố ở
trên thế giới cũng như ở Việt Nam,…
2.5.2.2. Phương pháp điều tra thực địa
a. Phương pháp bố trí thí nghiệm
+ Khảo sát sơ bộ các trạng thái rừng IIB tại các khu vực nghiên cứu.
+ Tại mỗi xã trong khu vực nghiên cứu (xã Phúc Lương, xã Quân Chủ và
xã Cù Vân) bố trí 3 ô tiêu chuẩn có diện tích 1000 m 2 (40mx25m). ÔTC phải là
những ô đại diện và mang tính chất điển hình cho khu vực.
+ Trong mỗi ÔTC, lập 5 ô thứ cấp (4 ô 4 góc và 1 ô ở giữa ÔTC) diện tích
25 m2 (5 x 5 m) để điều tra cây bụi, thảm tươi; ở trung tâm mỗi ô thứ cấp, lập 1 ô
dạng bản diện tích 1 m2 (1m x 1m) để điều tra vật rơi rụng.
- Số OTC cần lập là: 9 ô
- Tổng số ô thứ cấp: 9 ÔTC x 5 ô thứ cấp/ÔTC = 45 ô thứ cấp.
- Tổng số ô dạng bản: 9 ÔTC x 5 ô thứ cấp/ÔTC = 45 ô dạng bản.
Sơ đồ bố trí thí nghiệm được thể hiện qua hình sau:
40 m
25m
uË
5
m
n
5m
tè
Hình 2.2. Sơ đồ bố trí ô tiểu chuẩn
ứng với từng phần của cây tiêu chuẩn (Pti).
- Lấy mẫu xác định sinh khối khô:
Để xác định sinh khối khô bộ phận i cây tiêu chuẩn (Pti) ta tiến hành lấy mẫu
như sau:
+ Thân cây lấy 3 mẫu tại các vị trí gốc, giữa thân và ngọn. Mỗi vị trí lấy mẫu
có độ dày 3 – 8 cm.
+ Cành lấy 1 mẫu 1 kg tại vị trí giữa cành.
23
+ Lá trộn đều và lấy 1 mẫu 0,5 kg.
+ Rễ lấy 1 mẫu ở rễ cọc và 1 mẫu ở rễ bên với khối lượng 1 kg/mẫu.
Mẫu lấy về đem sấy khô ở nhiệt độ 1050C đến khối lượng không đổi, kiểm
tra và đo đếm khối lượng các mẫu (tiến hành với cân điện tử) cho đến khi khối
lượng không đổi (sau 3 lần kiểm tra liên tiếp) thu được kết quả sinh khối khô tương
ứng vơi từng phần (mki).
* Lấy mẫu xác định sinh khối tầng cây bụi, thảm tươi:
Trên các ô thứ cấp 25m2, chặt và thu gom toàn bộ cây bụi, thảm tươi phía
trên mặt đất (nhặt lấy rễ cây có đường kính từ 2 mm trở lên), phân thành 4 nhóm:
thảm tưới (dây leo, cây thân thảo), thân + cành + lá và rễ cây bụi. Sau đó cân ngay
để xác định sinh khối tươi. Lấy mẫu mối loại 0,5 kg/ô thứ cấp đem về phòng thí
nghiệm sấy khô ở nhiệt độ 1050C đến khối lượng không đổi, rồi đem cân và tính
sinh khối khô tương tự như đối với tầng cây cao.
* Lấy mẫu xác định sinh khối vật rơi rụng:
Trong các ô dạng bản diện tích 1 m2 của OTC, thu gom toàn bộ vật rơi rụng
và phân chia thành 2 bộ phận là cành rơi rụng và lá + hoa + quả...rơi rụng. Tiến
hành cân tại chỗ được sinh khối tươi vật rơi rụng. Tại mỗi ô dạng bản, lấy một mẫu
cành rơi rụng và một mẫu lá rơi rụng với 0,5 kg mỗi loại đem sấy khô ở nhiệt độ
1050C đến khối lượng không đổi, sau đó cân và tính toán lượng sinh khối khô.
Trong đó: Pti và Pki được tính trung bình đối với cây tiêu chuẩn trong cùng một
cấp kính.
Và Pki được tính như sau:
Pki i =
Pt i
mki
mt
i
(kg khô /cây) (2.4)
i
Trong đó: Pki là sinh khối khô bộ phận i cây cá thể
Pti là sinh khối tươi bộ phận i của cây cá thể.
mki là khối lượng mẫu khô của bộ phận i sau khi sấy
mti là khối lượng mẫu tươi bộ phận i của cây cá thể.
- Sinh khối (tươi, khô) tâng cây cao lâm phần được tính theo công thức:
+ Sinh khối tươi/ khô tầng cây cao lâm phần được tính theo công thức:
1
f i mi
10 (tấn/ha)
Ptươi/ khô cây cao LP = i
1000