Nghiên cứu khả năng sản xuất, chất lượng thịt của gà mèo nuôi tại huyện Quảng Yên tỉnh Quảng Ninh - Pdf 22


Số hóa bởi trung tâm học liệu

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN TIẾN HƢNG NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG SẢN XUẤT, CHẤT LƢỢNG THỊT
CỦA GÀ MÈO NUÔI TẠI QUẢNG YÊN - QUẢNG NINH Chuyên ngành: Chăn nuôi
Mã số: 60.62.01.05 LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: 1. TS. Mai Anh Khoa
2. PGS.TS. Trần Thanh Vân

Thái Nguyên, 2013
Số hóa bởi trung tâm học liệu

ii
LỜI CẢM ƠN

Để Khoa học nông nghiệp tôi đã nhận được sự
giúp đỡ nhiệt tình của các cơ quan, các cấp lãnh đạo và cá nhân. Tôi xin bày tỏ lời cảm
ơn sâu sắc và kính trọng tới tất cả các tập thể, cá nhân đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi
trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu.
Trước hết tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS. Trần Thanh Vân; TS.
Nguyễn Thị Thuý Mỵ; TS. Mai Anh Khoa. Các thầy cô đã trực tiếp hướng dẫn tôi trong
suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn.
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu, Sau Đại học, Khoa
Chăn nuôi thú y cùng tập thể các thầy cô giáo Trường Đại học Nông Lâm Thái
Nguyên đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành luận văn này.
cảm ơn Ths. Đinh Đức Thành - Trưởng phòng
Kinh tế thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh đã giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi
hoàn thành luận văn này.
Xin trân trọng gửi tới các thầy, cô giáo, các vị Hội đồng chấm luận văn lời cảm
ơn chân thành và lời chúc tốt đẹp nhất./.

Thái Nguyên, ngày tháng năm 2013
Tác giả
NGHIÊN CỨU 19
2.1. Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu 19
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu 19
2.1.2. Thời gian nghiên cứu 19
2.1.3. Địa điểm nghiên cứu 19
2.2. Nội dung, phương pháp và các chỉ tiêu nghiên cứu 19
2.2.1. Nội dung nghiên cứu 19
2.2.2. Phương pháp nghiên cứu 19
2.2.3. Các chỉ tiêu theo dõi 21
2.4. Phương pháp tính toán các chỉ tiêu 21
CHƢƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 26
3.1. Kết quả theo dõi về khả năng thích nghi: 26
3.2. Các chỉ tiêu về sinh trưởng của gà khảo nghiệm 27
3.2.1. Sinh trưởng tích lũy 27
3.2.2. Sinh trưởng tuyệt đối của gà khảo nghiệm 30
3.2.3. Sinh trưởng tương đối của gà khảo nghiệm 33

Số hóa bởi trung tâm học liệu

iv
3.3. Khả năng tiêu thụ và chuyển hóa thức ăn 35
3.3.1. Khả năng tiêu thụ thức ăn của gà khảo nghiệm 35
3.3.2. Khả năng chuyển hóa thức ăn của gà khảo nghiệm 37
3.5. Khảo sát đánh giá năng suất cho thịt và chất lượng thịt 42
3.5.1. Khả năng cho thịt 42
3.5.2. Thành phần hóa học của thịt 44
3.6. Đánh giá chất lượng thịt sống và thịt chín của gà khảo nghiệm 46
3.6.1. Đánh giá chất lượng thịt sống 46
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 54
1. Kết luận: 54

3.3

31
3.4

34
3.5

36
3.6

38
3.7

40
3.8.a
ở 13 tuần tuổi
42
3.8.b
K ở 17 tuần tuổi
42
Bảng 3.8.c
ở 20 tuần tuổi
43
3.9

44
3.10

47

3.1
tích luỹ
30
Biểu đồ 3.2
tuyệt khảo nghiệm
32
Biểu đồ 3.3
khảo nghiệm
35
Biểu đồ 3.4
thức ăn cộng dồn
39
Biểu đồ 3.5
sản xuất khảo nghiệm
41

Số hóa bởi trung tâm học liệu

vii
DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH MINH HOẠ CHO ĐỀ TÀI 1. Gà Mèo thuần 01 tuần tuổi
2. Gà Mèo thuần 20 tuần tuổi
3. Đùi gà Mèo trống
4. Đùi gà Mèo mái
5. Thịt đùi gà Mèo trống

chất lượng thức ăn đầu vào. Đặc biệt các giống
khẩu vị, thói quen ăn uống của người Việt Nam.
Một trong những giống bản địa phù hợp với những nhu cầu, thị hiếu nêu trên là
giống gà Mèo, với đặc điểm thịt đen, xương đen, phủ tạng đen, hàm lượng mỡ rất ít,
thịt dai, chắc, thơm ngon, hàm lượng đạm khá cao so với các giống khác; ngoài việc sử
dụng làm thực phẩm, giống gà này còn dùng để chữa bệnh hoặc nấu cao. Gà Mèo
mang nhiều đặc điểm quý như khả năng chống chịu cao, ít đòi hỏi về chế độ ăn và chế
độ chăm sóc cầu kỳ, nhưng lại cho tốc tộ sinh trưởng tương đối nhanh. Trước đây
giống gà này chỉ nuôi ở vùng núi cao phía Bắc với số lượng không nhiều; năm 2003,
nhằm bảo tồn và phát triển giống gà Mèo, Viện Chăn nuôi thực hiện dự án "Hoàn thiện
quy trình công nghệ chăn nuôi vịt Bầu Quỳ và gà Mèo". Dự án này đã hoàn thành và
được Hội đồng Khoa học công nghệ cấp Nhà nước nghiệm thu cho phép nhân rộng ra
sản xuất, giống gà Mèo đã được đưa vào danh sách nuôi giữ giống gốc tại Viện chăn
nuôi quốc gia để phát triển cung cấp con giống phục vụ sản xuất chăn nuôi.
Nhằm khai thác hiệu quả và bảo vệ sự phong phú giống vật nuôi bản địa thì
việc nuôi khảo nghiệm giống gà Mèo tại địa bàn thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh là
rất cần thiết, với mục đích mở rộng được phạm vi phân bố của giống, qua đó nghiên
cứu một số đặc điểm sinh học, sự thích nghi, khả năng sản xuất và chất lượng thịt của
chúng. Từ kết quả thành công của việc nuôi khảo nghiệm tiến đến nhân rộng sản xuất
tại địa bàn để đáp ứng nhu cầu rất lớn hiện nay về các thực phẩm quý hiếm, đặc sản có
giá trị dinh dưỡng, giá trị dược liệu cao đang ngày một tăng tại tỉnh Quảng Ninh, một
tỉnh có du lịch phát triển, hàng năm đón hơn 5 triệu khách trong và ngoài nước đến
thăm quan, nghỉ dưỡng. Từ cơ sở khoa học và yêu cầu thực tiễn trên, chúng tôi tiến hành
thực hiện đề tài: “Nghiên cứu khả năng sản xuất, chất lượng thịt của gà Mèo nuôi tại
Quảng Yên - Quảng Ninh”.

Số hóa bởi trung tâm học liệu

2
Thành công của đề tài là cơ sở để nhân rộng sản xuất tại địa bàn, đóng góp cho

đặc tính sinh trưởng, phát dục, sinh sản của giống.
Tất cả các đặc điểm của giống như các đặc tính sinh vật học, ngoại hình, tính
năng sản xuất đều là tính trạng di truyền số lượng và chất lượng. Các tính trạng chất
lượng được quy định bằng một hay nhiều cặp gen có hiệu ứng lớn, chúng được di
truyền tuân theo các định luật của Mendel và ít chịu ảnh hưởng của các điều kiện môi
trường; các tính trạng số lượng (tính trạng sản xuất) được quy định bằng nhiều cặp gen
có hiệu ứng nhỏ, chúng được di truyền cho đời sau theo các mức độ khác nhau, sự thể
hiện của chúng ở đời sau chịu ảnh hưởng rất lớn của điều kiện ngoại cảnh. Sự biểu
hiện kiểu hình của các tính trạng số lượng chịu sự tác động rất lớn của yếu tố ngoại
cảnh. Mối liên hệ này được thể hiện trong biểu thức:
P = G + E
Trong đó: P: Giá trị kiểu hình, là các giá trị đo lường được của tính trạng số
lượng trên một cá thể.
G: Giá trị kiểu gen
E: Sai lệch môi trường
Nói cách khác, trong những điều kiện môi trường nhất định các kiểu gen
khác nhau sẽ cho những khả năng sản xuất khác nhau. Trái lại, cùng một kiểu gen
nhưng trong những điều kiện môi trường khác nhau sẽ cho năng lực sản xuất khác
nhau. Nghĩa là các điều kiện môi trường, chăm sóc nuôi dưỡng có thể phát huy hoặc
hạn chế các đặc tính di truyền của vật nuôi. Thông qua việc điều khiển các yếu tố di
truyền, môi trường ngoại cảnh tối ưu, bằng các biện pháp khoa học kỹ thuật, con người
sẽ không chỉ bồi dưỡng duy trì được các đặc tính của một phẩm chất giống mà còn tạo
ra các giống mới theo hướng sản xuất khác nhau.
Số hóa bởi trung tâm học liệu

4


tăng lên về khối lượng, kích thước tế bào và dịch thể trong mô bào ở giai đoạn phát
triển đầu của phôi trên cơ sở tính di truyền. Sau khi nở thì sinh trưởng là do sự lớn dần
của các mô, đó là sự tăng lên về kích thước của tế bào và được chia làm 2 giai đoạn:
Giai đoạn gà con và giai đoạn trưởng thành.
+ Giai đoạn gà con:
tăng nhanh, m
.
+ Giai đoạn trưởng thành:
.
:
.
:
, 2011) [8].
Sinh trưởng tuyệt đối: Là sự tăng lên về khối lượng, kích thước cơ thể trong
một đơn vị thời gian giữa hai lần khảo sát (TCVN 2.39 - 77, 1997) [47]. Sinh trưởng
tuyệt đối được tính bằng g/con/ngày. Giá trị sinh trưởng tuyệt đối càng cao thì hiệu
quả kinh tế càng lớn và ngược lại.
Sinh trưởng tương đối: Được tính bằng tỷ lệ phần trăm tăng lên của khối lượng
(thể tích, kích thước) của cơ thể khi kết thúc quá trình khảo sát so với thời điểm đầu

Số hóa bởi trung tâm học liệu

6
khảo sát (TCVN - 2.40 - 77, 1997)[44]. Gà còn non có sinh trưởng tương đối cao sau
đó giảm dần theo tuổi.
Sau giai đoạn trưởng thành là giai đoạn già cỗi, ở thời kỳ này khối lượng không
tăng mà có chiều hướng giảm. Nếu vẫn có hiện tượng tăng khối lượng thì đây là do quá
trình tích luỹ mỡ. Thời kỳ này xảy ra sớm hay muộn phụ thuộc vào giống, tuổi và điều
kiện sống của con vật. Thời kỳ già cỗi được tính từ khi con vật ngừng sinh trưởng, khả
năng sinh sản và mọi khả năng khác đều giảm (Lê Huy Liễu và c , 2004) [18].

đều cho rằng kiểu di truyền về khối lượng cơ thể, phải do nhiều gen quy định và ít nhất
phải do một gen liên kết với giới tính.
Cook R. E. và c (1956) [55] đã xác định được hệ số di truyền tại 10 tuần
tuổi theo là 0,5 và ở 6 tuần tuổi là 0,4.
Phùng Đức Tiến (1996) [39] cho biết hệ số di truyền của tốc độ sinh trưởng từ
0,4 - 0,5. Các tài liệu của Chambers J. R. (1984) [53]; Siegel P. B. và c (1962)
[68] đã tổng kết một cách hoàn chỉnh về hệ số di truyền và tốc độ sinh trưởng. Kết quả
tính toán qua phân tích phương sai của con đực từ 0,4 - 0,6.
Theo Kushner K. F. (1969) [16] hệ số di truyền khối lượng cơ thể sống của gà 1
tháng tuổi là 0,33; 2 tháng tuổi là 0,46; 3 tháng tuổi là 0,44; 6 tháng tuổi là
0,55 và của gà trưởng thành là 0,43.
Nguyễn Mạnh Hùng và c (1994) [14] cho biết sự khác nhau giữa các
giống gia cầm rất lớn, giống kiêm dụng nặng hơn hướng trứng khoảng 500 - 700g (từ
15- 30 %).
Kết quả nghiên cứu 3 giống AA, Avian và BE88 nuôi tại Thái Nguyên của
Nguyễn Thị Thuý Mỵ (1997) [25] cho thấy: Khối lượng cơ thể của 3 giống khác nhau
ở 49 ngày tuổi lần lượt là: 2501,09g; 2423,28g và 2305,14g.
+ Ảnh hưởng của tính biệt
Sự khác nhau về tốc độ sinh trưởng và khối lượng cơ thể còn ảnh hưởng bởi
tính biệt, gà trống có tốc độ sinh trưởng nhanh hơn gà mái. Những sai khác này được
biểu hiện về mặt cường độ sinh trưởng, được quy định không phải do hormone sinh
dục mà do các gen liên kết với giới tính.
Theo Jull M. A. (1923) [59] cho biết gà trống có tốc độ sinh trưởng nhanh hơn gà
mái từ 24 - 32 %. Các tác giả cho rằng sự sai khác này do gen liên kết giới tính, những
gen này ở gà trống hoạt động mạnh hơn gà mái. North M. O. 1990 [61] đã rút ra kết
luận: Lúc mới nở gà trống nặng hơn gà mái là 1 %; tuổi càng tăng thì sự khác nhau càng
lớn; ở 2 tuần tuổi hơn 5 %; 3 tuần tuổi hơn 11 %; 5 tuần tuổi hơn 17 %; 6 tuần tuổi hơn
20%; 7 tuần tuổi hơn 23 %; 8 tuần tuổi hơn 27 %.
+ Ảnh hưởng của chế độ dinh dưỡng
Chế độ dinh dưỡng ảnh hưởng đến từng mô khác nhau, gây nên sự biến đổi

tiêu tốn nhiều hơn so với cơ thể có tốc độ tăng khối lượng nhanh. Khi sinh trưởng nhanh
thì quá trình trao đổi chất của cơ thể tốt hơn, hiệu quả sử dụng thức ăn tốt hơn do đó tiêu
tốn thức ăn giảm.
Chambers J. R. và c (1984) [52] đã xác định hệ số tương quan di truyền
giữa tăng khối lượng của cơ thể với tiêu tốn thức ăn, hệ số tương quan này thường rất
cao từ: 0,5 - 0,9 còn tương quan di truyền giữa sinh trưởng và chuyển hoá thức ăn là
thấp và âm (từ - 0,2 đến - 0,8).
Tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng còn phụ thuộc vào độ tuổi, đối với gà thịt
thì giai đoạn đầu tiêu tốn thức ăn thấp hơn giai đoạn sau.
1.1.2.3. Khả năng cho thịt
Khả năng cho thịt là đặc điểm kinh tế quan trọng trong ngành chăn nuôi, nó
được thể hiện bằng năng suất và chất lượng thịt ở tuổi giết mổ.

Số hóa bởi trung tâm học liệu

9
+ Năng suất thịt: Năng suất thịt biểu hiện bằng tỷ lệ thân thịt, tỷ lệ các bộ phận,
thường được tính bằng tỷ lệ thịt xẻ, thịt đùi, thịt ngực và tỷ lệ mỡ bụng.
Theo Ricard F. H. và Rouvier (1967) [64] ta thấy mối tương quan giữa khối
lượng sống và khối lượng thịt xẻ là rất cao, thường là 0,9; còn giữa khối lượng sống và
khối lượng mỡ bụng thấp hơn thường từ: 0,2 - 0,5.
Các giống, các dòng khác nhau thì năng suất thịt cũng khác nhau. (Chambers J.
R., 1990) [51] cho biết giữa các dòng luôn có sự khác nhau di truyền về năng suất thịt
xẻ, hay năng suất thịt đùi, thịt ngực (phần thịt ăn được không có xương). Ngoài ra
năng suất thịt còn phụ thuộc vào tính biệt và chế độ dinh dưỡng.
+ Chất lượng thịt: Thịt gia cầm có tính ngon miệng và mùi vị hấp dẫn, điều này
liên quan đến đặc điểm sinh thái của tổ chức cơ và tính chất lý học của nó như độ
mềm, độ ướt Nhìn chung, những sợi cơ của thịt gà rất mỏng và các tổ chức liên kết
giữa chúng nhỏ hơn thịt một số loài gia súc khác.
Theo Chambers J. R. (1990) [51] thì tốc độ sinh trưởng có tương quan âm (-) với

Theo Gavora J. S. (1990) [56] hệ số di truyền tỷ lệ chết ở gia cầm là 0,07; hệ số
di truyền của sức kháng bệnh là 0,25. Robertson và Lerner (1949) [65] xác định hệ số
di truyền tỷ lệ nuôi sống và sức kháng bệnh thấp, phụ thuộc vào dòng, giống, giới tính
và phụ thuộc nhiều nhất vào yếu tố nuôi dưỡng.
1.1.3. Cơ sở khoa học của sự thích nghi
Chọn lọc có vai trò sáng tạo các đặc điểm thích nghi; điều này giải thích tại sao
động vật thích nghi với hoàn cảnh sống của nó và là chìa khóa để giải thích nguyên
nhân của sự tiến hóa.
Theo Ch. R. Darwin (1859 n, 2006) [4] chọn lọc tự
nhiên có vai trò sáng tạo trong sự hình thành các đặc điểm thích nghi. Trong các dạng
quan hệ phức tạp giữa sinh vật với hoàn cảnh sống, cạnh tranh sinh học cùng loài giữa
các cá thể mang những biến dị khác nhau trong cùng hoàn cảnh sống là động lực chủ
yếu của chọn lọc tự nhiên.
Khi hoàn cảnh sống thay đổi, những biến dị có lợi cho bản thân sinh vật, mặc
dù lúc đầu rất hiếm, nhưng sẽ được tích lũy, tăng cường, trải qua nhiều thế hệ sẽ trở
thành những đặc điểm thích nghi phổ biến. Còn biến dị bất lợi hay kém thích nghi thì
bị đào thải ra khỏi quần thể do tác động của chọn lọc tự nhiên.
Sự cạnh tranh sinh học có thể diễn ra giữa các cá thể trong một nhóm hoặc giữa
các nhóm trong cùng loài dẫn đến sự tiêu diệt cá thể kém thích nghi và đào thải chúng
ra khỏi quần thể. Đồng thời, chọn lọc tự nhiên bảo tồn, tích lũy và tăng cường các đặc
điểm thích nghi. Hiệu quả của chọn lọc tự nhiên phụ thuộc vào cường độ đào thải các
cá thể kém thích nghi và mức độ phát sinh biến dị trong quần thể.
1.1.4. Những yêu cầu đối với chất lượng thịt và các biện pháp cải thiện chất lượng
thịt gia cầm
Mức sống của con người càng cao thì nhu cầu tiêu thụ thịt càng lớn và những sản
phẩm thịt chất lượng cao (ít mỡ giàu protein) đòi hỏi ngày càng nhiều. Thịt gia cầm là
một trong những loại thịt có thể đáp ứng được yêu cầu này. Nâng cao năng suất thịt và
cải thiện chất lượng thịt là mục tiêu phấn đấu không ngừng của các nhà chăn nuôi.
+ Nhứng yêu cầu đối với chất lượng thịt : Khi gia cầm còn sống, cần đặc biệt
chú ý đến sức khoẻ của chúng, tốc độ mọc lông, thời điểm thay lông đều ảnh hưởng

như: Thịt gà và thịt gà tây màu trắng (thịt thuỷ cầm có màu đỏ), cơ trắng có giá trị sinh
học cao hơn cơ đỏ vì trong đó không chỉ chứa nhiều protein, mà tỷ lệ giữa protein toàn
phần và không toàn phần cũng như giữa các aixit amin đều tốt hơn. Phần lớn các nhà
nghiên cứu đều công nhận rằng, các giống gia cầm địa phương chăn tự nhiên như:
Gà Ri, gà , gà Mèo , vịt , ngỗng Cỏ đều có chất lượng thịt tốt hơn so
với các giống mới do con người tạo ra thông qua lai tạo. Giữa chất lượng thịt và năng
suất thịt có mối tương quan tỷ lệ nghịch, thường các giống có năng suất cao thì cho
chất lượng thịt kém và ngược lại. Để giải quyết vấn đề này các nhà tạo giống đã cho
lai tạo giống gia cầm địa phương, có chất lượng thịt cao so với các giống cao sản, vừa
giữ được chất lượng thịt vừa nâng cao năng suất chăn nuôi. Ngoài yếu tố giống, vấn đề
chăm sóc, quản lý nuôi dưỡng cũng ảnh hưởng tới chất lượng thịt. Rudlf và Frodshe đã
nghiên cứu ảnh hưởng của các hàm lượng ngô khác nhau trong thức ăn hỗn hợp đến

Số hóa bởi trung tâm học liệu

12
kết quả vỗ béo vịt thấy rằng: Ngô có ảnh hưởng rõ rệt đến khối lượng cơ thể vịt khi vỗ
béo. Những lô được ăn thức ăn hỗn hợp có chứa 50 % ngô trong khẩu phần sẽ có tỷ lệ
lipit và vật chất khô cao hơn các lô có ít tỷ lệ ngô trong khẩu phần (nhỏ hơn 50 % tỷ lệ
ngô). Trong khi đó tỷ lệ protein thì không thay đổi giữa các lô. Ngoài ra ăn ngô còn
ảnh hưởng đến tỷ lệ mỡ bụng, nhưng ưu điểm của ngô là làm cho màu da và màu chân
của gia cầm vàng hơn (dẫn theo Nguyễn Duy Hoan và c , 1999) [12].
Thường thịt gà và thịt vịt có mùi khó chịu khi bảo quản lâu vì trong thức ăn có
chứa nhiều bột cá (lớn hơn 8 %). Tuy nhiên mùi tanh cũng có ảnh hưởng không giống
nhau trong các đàn và trong từng cá thể. Thức ăn có chứa nhiều Caroten làm cho da
của gia cầm trở lên vàng hơn.
- Vấn đề dinh dưỡng protein và năng lượng cho gia cầm, mối liên hệ của nó tới
chất lượng thịt đã thu hút được sự quan tâm của nhiều tác giả trong và ngoài nước,
người ta đã tìm thấy sự thay đổi đáng kể chất lượng dinh dưỡng và độ ngon miệng của
thịt khi có sự thay đổi thành phần thức ăn hỗn hợp bằng việc bổ sung các axit amin

0,5% so với các con vật chỉ bị vận chuyển trong một thời gian ngắn. Do lượng
glycogen dự trữ bị giảm đi trong quá trình vận chuyển để giải phóng năng lượng và
axit lactic trong thịt cũng giảm theo, dần dần độ pH trong thịt cũng tăng lên làm giảm
giá trị của thịt. Các quá trình hoá học này không những ảnh hưởng đến hình thức bên
ngoài của thịt xẻ mà còn ảnh hưởng tới khả năng kết hợp của nước (dẫn theo Nguyễn
Duy Hoan và c , 1999) [12].
+ An toàn thực phẩm: Ngày càng trở nên quan trọng, cùng với sự tiến bộ của
khoa học và công nghệ ngày càng có nhiều loại hoá chất vi sinh vật, thuốc và chất
kháng sinh được sử dụng trong chăn nuôi gia cầm.
Trước đây người ta quan tâm về an toàn hầu như tập trung về những vi sinh vật
gây bệnh, vì thịt là môi trường rất tốt cho vi sinh vật hoạt động và phát triển. Tuy
nhiên vi khuẩn gây độc cho lương thực và thực phẩm không phát triển được trong
nhiệt độ lạnh (< 40
0
C). Hơn nữa vi khuẩn phân huỷ có trong thịt tươi không gây bệnh
cho gia cầm nhưng vẫn phát triển được trong nhiệt độ lạnh và nói chung vẫn làm cho
lương thực và thực phẩm giảm giá trị. Như vậy, vi khuẩn phân huỷ có trong thịt tươi
thường làm cho thịt thay đổi trước khi những vi sinh vật gây bệnh này đạt tới số lượng
đủ để trở thành có hại. Một trong những vi khuẩn gây bệnh thường có trong thịt tươi là
Salmonella, đây là loại rất dễ bị diệt khi nấu chín.
Những loại sản phẩm thịt gà đã qua chế biến cũng đem lại mối quan tâm khác
về an toàn thực phẩm, bởi hầu hết các sản phẩm đó được xử lý bằng muối hoặc đã
được xử lý qua nhiệt độ, nếu không khống chế được nhiệt độ trong thời gian bảo quản
thì các tác nhân gây bệnh vẫn có cơ hội để hoạt động và phát triển trở lại, những sản
phẩm không qua xử lý nhiệt hoặc nấu chín và đóng gói trong bao bì thì bảo quản ở
nhiệt độ lạnh là vô cùng quan trọng để đảm bảo an toàn thực phẩm.
1.2. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nƣớc
1.2.1. Tình hình nghiên cứu ngoài nước
Hiện nay, các nước trên thế giới đang chú ý đến thịt gà chất lượng cao nuôi theo
công thức bán công nghiệp và thả vườn. Gà được sử dụng thức ăn đặc biệt để sản

gen vật nuôi các Quốc gia. Hàng loạt Hội thảo Quốc tế về bảo tồn giống động vật được
tổ chức ở nhiều nơi, thống nhất chương trình hành động và đặt ra mục tiêu nhiệm vụ
cho chương trình bảo tồn nguồn gen động vật.
Trung Quốc là nước đi đầu trong việc phát triển các giống gà
quý hiếm. Trung Quốc hiện có gà xương đen Thái Hoà, nguyên gốc thuộc huyện Thái
Hoà, tỉnh Giang Tây; Tuyền Châu, Hạ Môn và Trùng Nam miền duyên hải tỉnh Phúc
Kiến. Gà xương đen Hắc Phượng, có hình dáng tương tự như gà xương đen Thái Hoà,
nhưng bộ lông có màu đen, tai giống tai công. Gà xương đen Dư Can, nguyên gốc ở
huyện Dư Can, tỉnh Giang Tây. Gà xương đen lông tơ Kim Dương, nguyên gốc tại
huyện Kim Dương, Châu Kinh Sơn, tỉnh Tứ Xuyên. Gà xương đen Tuyết Phong,
nguyên gốc tại huyện Lam Dương, tỉnh Hồ Nam, trên đỉnh núi Tuyết Sơn (Triệu
Xương Đình, Vương Tuyền, 2001) , 2012) [33].

Số hóa bởi trung tâm học liệu

15
Công ty Đầu tư và Phát triển Shenzhen Hanjiunxiong cho biết: Trong 100 g sản
phẩm bột thịt gà xương đen Thái Hoà có 198,5 mg natri; 427,1 mg kali; 3,4 mg đồng;
64,4 mg magiê; 19,1 mg sắt; 4027,5 mg canxi; 6,20 mg kẽm; Hàm lượng axit amin:
axit aspartic 33,80; threonin 17,38; serin 16,07; axit glutamic 64,73; glyxin 32,43;
alanin 32,27; cystein 8,38; valin 18,38; methionin 13,95; izoleucin 15,10; leucin 30,83;
tyrosin 9,10; phenylalanin 17,66; lyzin 27,40; histidin 11,06; arginin 28,50 và prolin
21,20 mg/g.
Theo Wel Rong-People’s Daily (1997) [70], gà xương đen có chứa các
hormone, sắc tố xanh và các axit amin thiết yếu cho người. Những yếu tố này có thể
làm tăng các tế bào máu và huyết sắc tố. Kinh nghiệm về lâm sàng cho thấy rằng gà
Thái Hoà có tác dụng trong việc chữa bệnh phụ nữ vô sinh, dễ xẩy thai, khí hư, tử
cung chảy máu và các bệnh sau khi sinh đẻ, một số bệnh ở phổi, bệnh lao, bệnh tim,
chứng suy nhược thần kinh và nhuyễn xương ở trẻ em. Trứng gà Thái Hoà có thể sử
dụng hiệu quả để trị các chứng nhức đầu, sự mệt mỏi, bệnh hen và chứng viêm thận.

Gà trống có màu đỏ tía, cánh và đuôi có lông đen, dáng chắc khoẻ, mào đơn, ở tuổi
trưởng thành con trống nặng từ: 1,5 - 2,0 kg, con mái nặng từ 1,1 - 1,6 kg.
Sản lượng trứng từ 70- 90 quả/mái/năm, khối lượng trứng từ 45 - 50g ; gà Ri đẻ
quả trứng đầu tiên lúc 113 ngày tuổi lúc khối lượng mái 1.058 g.
Giống gà Hồ: Phân bố chủ yếu tại địa bàn Thuận Thành Bắc Ninh,
đặc điểm ngoại hình: Con trống nặng từ 4 - 5 kg, con mái nặng từ 3 - 4 kg, chân có
3 hàng vảy màu trắng, mào nụ, lá tai đỏ, da dày màu vàng đỏ, lông có nhiều màu: Đất
thô, xám, đỏ thẫm.
Sản lượng trứng từ 40 - 50 quả/mái/năm, khối lượng trứng từ 55 – 60 g. Theo
Nguyễn Duy Hoan, Trần Thanh Vân (1998) [13] cho biết: Khối lượng gà Hồ trưởng
thành (24 - 36 tuần tuổi) trống 4.570 + 121,12 g; mái 3.250 + 164,58 g, gà mái đẻ 3 - 4
lứa, mỗi lứa 10 - 15 trứng, sản lượng trứng 40 - 60 quả/mái/năm, tỷ lệ nở /tổng trứng
ấp 75 – 85 %, khối lượng trứng 53,5 g.
Giống gà Mía: Xuất xứ ở xã Đường Lâm, Sơn Tây ;
tuổi trưởng thành con giống nặng từ 3,4 - 3,8 kg, con mái nặng từ 2,7 - 3,2 kg, đẻ quả
trứng đầu lúc 5,5 - 6 tháng tuổi, sản lượng trứng từ 70 - 80 quả/mái/năm, khối lượng
trứng 50 – 54 g. Màu sắc lông: Trống màu đỏ tía, mái màu vàng đất, mào đơn, tích và
dái tai màu đỏ, thể chất khoẻ, xương và chân to, dáng lùn, cơ ức, cơ đùi phát triển.
Giống gà Đông Tảo: Nguồn gốc ở Khoái Châu Hưng Yên. Gà
trống chủ yếu màu đen và màu mận chín, ở chân và đuôi lông đen có ánh xanh, lông tơ
phía trong có màu trắng. màu vàng nhạt hoặc nâu nhạt, phần lớn có màu nâu
đậm ở đầu, cổ cánh và đuôi, mào khép kém phát triển. Khối lượng trưởng thành: Con
trống 3,8 - 4,0 kg, con mái 3,0 - 3,5 kg. Khối lượng bình quân trống mái lúc 60 ngày
tuổi đạt 1.700 - 1.800 g/con, lúc 140 ngày (trưởng thành) trống 3.200 - 3.400 g/con,
mái 2.300 - 3.000 g/con, tỷ lệ nuôi sống lúc 60 ngày tuổi là 80 - 90 %, Tuổi đẻ trứng
đầu 200 - 215 ngày.
Giống gà Ác Việt Nam: Được nuôi lâu đời ở các tỉnh đồng bằng Sông Cửu
Long. Đặc điểm ngoại hình của gà như sau:Tầm vóc nhỏ, lông xước tơ màu trắng
tuyền nhưng da, thịt xương, mỏ và chân đen, con trống có mào cờ nhỏ, đỏ nhạt tích
màu xanh, chân có lông và có 5 ngón (ngũ trảo) một số ít không có lông chân và chỉ có

- Chất lượng thịt gà Mèo: Da gà dày nhưng giòn, thịt săn chắc nhưng không
dai như thịt vịt hoặc ngan. Đặc biệt hàm lượng axit glutamic cao tới 3,87 %, vượt trội
hơn gà Ri và gà Ác nên thịt gà có vị ngọt đậm, nhưng hàm lượng sắt trong thịt gà lại
thấp nên không có mùi tanh. Gà Mèo thuộc nhóm có hàm lượng axit amin
cao, được sử dụng như là thuốc bồi bổ cơ thể, chữa bệnh suy nhược, đồng thời lượng
colesteron thấp trong khi axit linoleic cao có giá trị dược liệu đặc biệt trong chữa trị
bệnh tim mạch.
(2005) ,
t


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status