BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
------------------------
LÝ XUÂN LỘC
HOÀN THIỆN CÔNG TÁC KIỂM SOÁT CHI THƯỜNG XUYÊN
NGÂN SÁCH XÃ QUA KHO BẠC NHÀ NƯỚC VĨNH LỘC,
TỈNH THANH HÓA
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Hà Nội, 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
------------------------
LÝ XUÂN LỘC
HOÀN THIỆN CÔNG TÁC KIỂM SOÁT CHI THƯỜNG XUYÊN
NGÂN SÁCH XÃ QUA KHO BẠC NHÀ NƯỚC VĨNH LỘC,
TỈNH THANH HÓA
bản thân, tôi đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ của các cá nhân và tổ chức.
Trước hết tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới:
- TS Lê Thanh Tâm, người hướng dẫn khoa học, đã trực tiếp giúp đỡ tôi
trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn.
- Lãnh đạo trường Đại học Lâm Nghiệp Việt Nam, Khoa sau đại học, các
thầy cô giáo bộ môn trong và ngoài trường.
- Tôi xin chân thành cảm ơn lãnh đạo Kho bạc Nhà nước Vĩnh Lộc, các ban
ngành thuộc UBND huyện Vĩnh Lộc và các xã, đơn vị, cá nhân đã tạo mọi điều kiện
thuận lợi để tôi hoàn thành tốt nội dung đề tài.
Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn tới những người thân trong gia đình, bạn
bè đã động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài luận văn
tốt nghiệp của mình.
Tác giả luận văn
Lý Xuân Lộc
iii
MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lơì cam đoan ................................................................................................................i
Lời cảm ơn ................................................................................................................. ii
Mục lục ...................................................................................................................... iii
Danh mục các từ viết tắt ..............................................................................................v
Danh mục các bảng ....................................................................................................vi
Danh mục các sơ đồ ...................................................................................................vi
MỞ ĐẦU .....................................................................................................................1
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC KIỂM SOÁT CHI
Chương 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU ..........................................................................................................................31
2.1. Đặc điểm cơ bản của địa bàn nghiên cứu...........................................................31
2.1.1. Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội của các xã trên địa bàn huyện Vĩnh Lộc,
tỉnh Thanh Hoá ..........................................................................................................31
2.1.2. Tổ chức bộ máy KBNN Vĩnh Lộc ..................................................................32
2.2. Phương pháp nghiên cứu ....................................................................................38
2.2.1. Phương pháp chọn điểm nghiên cứu, khảo sát................................................38
2.2.2. Phương pháp thu thập số liệu, tài liệu .............................................................39
2.2.3. Phương pháp xử lý số liệu ...............................................................................40
2.2.4. Hệ thống chỉ tiêu sử dụng trong nghiên cứu đề tài .........................................40
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ......................................................................41
3.1. Thực trạng công tác kiểm soát chi thường xuyên ngân sách xã qua Kho bạc Nhà
nước Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa ...............................................................................41
3.1.1. Khái quát tình hình chi thường xuyên ngân sách xã qua KBNN Vĩnh Lộc,
tỉnh Thanh Hoá ..........................................................................................................41
3.1.2. Thực trạng công tác kiểm soát chi thường xuyên ngân sách xã qua KBNN
Vĩnh Lộc ....................................................................................................................43
3.1.3. Kết quả công tác kiểm soát chi thường xuyên ngân sách xã tại KBNN Vĩnh Lộc ...55
3.1.4. Đánh giá chung công tác kiểm soát chi thường xuyên ngân sách xã qua
KBNN Vĩnh Lộc .......................................................................................................63
3.2. Định hướng và giải pháp hoàn thiện công tác kiểm soát chi thường xuyên ngân
sách xã qua KBNN trên địa bàn huyện Vĩnh Lộc .....................................................71
3.2.1. Định hướng và mục tiêu phát triển KBNN trên địa bàn huyện Vĩnh Lộc ......71
3.2.2. Giải pháp hoàn thiện công tác kiểm soát chi thường xuyên ngân sách xã qua
KBNN Vĩnh Lộc .......................................................................................................74
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ ...........................................................................80
TÀI LIỆU THAM KHẢO
NSX
Ngân sách xã
MLNS
Mục lục ngân sách
NSĐP
Ngân sách địa phương
UBND
Ủy ban Nhân dân
TX
Thường xuyên
KSC
Kiểm soát chi
KTT
Kế toán trưởng
KTV
KBNN Vĩnh Lộc giai đoạn 2010-2013
3.3
Số liệu từ chối thanh toán ngân sách xã qua KBNN Vĩnh Lộc giai
56
đoạn năm 2010 đến năm 2013
3.4
Số liệu dự toán chi không hết cuối năm bị hủy bỏ
58
3.5
Kết quả điều tra, phỏng vấn
59
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
STT
Tên sơ đồ
Trang
1.1
đảm bảo tiết kiệm và hiệu quả có ý nghĩa rất quan trọng.
Chi ngân sách nhà nước (NSNN) bao gồm hai bộ phận chính là chi đầu tư
phát triển và chi thường xuyên, trong đó chi thường xuyên chiếm tỷ trọng lớn và có
vị trí, vai trò rất quan trọng đối với phát triển kinh tế - xã hội đất nước.
Ngân sách xã, phường, thị trấn (gọi chung là ngân sách xã), là một bộ phận
của NSNN thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật NSNN, do Uỷ ban nhân dân xã xây
dựng, quản lý. Ngân sách xã có những điểm khác với ngân sách các cấp: Ngân sách
xã, vừa là một cấp ngân sách, vừa là một đơn vị dự toán của ngân sách xã. Mọi
khoản thu, chi và thanh toán các khoản cho người thụ hưởng đều do Chủ tịch Uỷ
ban nhân dân (UBND) xã quyết định. Toàn bộ các khoản chi của ngân sách xã đều
liên quan đến lợi ích của xã, đều có tác động trực tiếp đến đời sống kinh tế - xã hội
ở xã. Do những đặc điểm như vậy nên công tác quản lý tài chính ngân sách xã rất đa
dạng và phức tạp.
Kiểm soát chặt chẽ các khoản chi thường xuyên NSNN nói chung, ngân sách
xã nói riêng luôn là mối quan tâm lớn của Đảng và Nhà nước. Trong những năm
qua, công tác kiểm soát chi thường xuyên ngân sách xã qua Kho bạc Nhà nước
(KBNN) đã có những chuyển biến tích cực, cơ chế kiểm soát chi thường xuyên
ngân sách xã đã từng bước hoàn thiện, ngày một chặt chẽ và đúng mục đích hơn cả
quy mô và chất lượng. Tuy nhiên, việc quản lý và kiểm soát chi thường xuyên ngân
sách xã qua KBNN trên địa bàn huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa còn có những vấn
đề chưa phù hợp, cơ chế quản lý chi ngân sách xã trên địa bàn trong nhiều trường
hợp còn bị động và chậm chạp, nhiều vấn đề cấp bách không được đáp ứng kịp thời
hoặc chưa có quan điểm xử lý thích hợp, lúng túng.
2
Những lý do cho thấy việc tăng cường kiểm soát chi thường xuyên ngân sách
xã qua KBNN rất cần được chú trọng quan tâm đối với không chỉ Chính phủ, Bộ
Tài chính, mà còn của mọi công chức trong hệ thống tài chính nói chung và trong
Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hoá
+ Phạm vi về không gian: Đề tài được thực hiện tại KBNN Vĩnh Lộc, tỉnh
Thanh Hoá.
+ Phạm vi về thời gian: Đề tài được nghiên cứu trong giai đoạn từ năm 2010
đến năm 2013. Định hướng giải pháp cho giai đoạn tới năm 2020.
4. Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về NSNN cấp xã và công tác kiểm soát chi
thường xuyên ngân sách xã qua KBNN;
- Nghiên cứu thực trạng kiểm soát chi thường xuyên ngân sách xã qua
KBNN Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hoá;
- Đề xuất giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện công tác kiểm soát chi thường
xuyên ngân sách xã qua KBNN Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa.
5. Bố cục luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận văn được
bố cục thành 3 chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về công tác kiểm soát chi thường
xuyên ngân sách xã qua Kho bạc Nhà nước
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu và đặc điểm địa bàn nghiên cứu
Chương 3: Kết quả nghiên cứu
.
4
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC KIỂM SOÁT CHI
THƯỜNG XUYÊN NGÂN SÁCH XÃ QUA KHO BẠC NHÀ NƯỚC
1.1. Chi thường xuyên ngân sách xã qua Kho bạc Nhà nước
1.1.1. Tổng quan về Ngân sách Nhà nước
1.1.1.1. Bản chất của Ngân sách Nhà nước
nhất định. Ngân sách Nhà nước cũng có những đặc trưng chung như các quỹ tiền tệ
khác là được tạo lập và sử dụng trên cơ sở các quan hệ tài chính. Nhưng nét đặc
trưng riêng biệt của Ngân sách Nhà nước với tư cách là quỹ tiền tệ của Nhà nước là
ngân sách được chia thành nhiều quỹ và chỉ sau đó mới được tiêu dùng cho những
mục đích nhất định đã được định trước4.
Từ những đặc điểm chung và đặc trưng riêng của hoạt động thu chi Ngân
sách Nhà nước, có thể hiểu Ngân sách Nhà nước theo khái niệm sau: Ngân sách
Nhà nước là tổng hòa các nguồn tài chính trong quá trình tạo lập và sử dụng quỹ
tiền tệ của Nhà nước - quỹ Ngân sách - để phục vụ cho việc thực hiện chức năng
của Nhà nước. Ngân sách Nhà nước phản ánh hệ thống các quan hệ kinh tế giữa
Nhà nước và các chủ thể trong xã hội, phát sinh do Nhà nước tạo lập, phân phối và
sử dụng các nguồn tài chính quốc gia nhằm đảm bảo yêu cầu thực hiện các chức
năng điều hành và quản lý kinh tế, xã hội của Nhà nước theo nguyên tắc không
hoàn trả trực tiếp là chủ yếu5.
Với quyền lực tối cao của mình, Nhà nước có thể sử dụng các công cụ sẵn có
để bắt buộc mỗi thành viên trong xã hội cung cấp cho mình các nguồn lực tài chính
cần thiết. Song cơ sở tạo lập các nguồn lực tài chính xuất phát từ sản xuất, mà chủ thể
của sản xuất chính là các thành viên trong xã hội. Mọi thành viên đều có lợi ích kinh
tế và đấu tranh bảo vệ lợi ích kinh tế đó, nghĩa là thông qua quyền lực của mình, Nhà
nước sử dụng các công cụ, chính sách giải quyết hài hoà giữa lợi ích Nhà nước và lợi
ích của các thành viên trong xã hội. Do vậy, muốn có Ngân sách Nhà nước đúng đắn,
lành mạnh thì phải tôn trọng và vận dụng các quy luật kinh tế một cách khách quan,
phải dựa trên cơ sở đảm bảo hài hoà lợi ích của Nhà nước và lợi ích cho các thành
viên trong xã hội. Một Ngân sách Nhà nước lớn mạnh phải đảm bảo sự cân đối trên
cơ sở khuyến khích phát triển sản xuất kinh doanh, bao quát hết toàn bộ các nguồn
thu, nuôi dưỡng nguồn thu để đáp ứng nhu cầu chi ngày càng tăng.
4
http://orissa.gov.in/finance/Budgets/2008-09/Annual/Budget_Glance/chap_4.pdf
chính và đảm bảo nhu cầu chi tiêu theo kế hoạch của Nhà nước, thực hiện việc cân
đối thu chi bằng tiền của Nhà nước.
Chức năng thứ hai của Ngân sách Nhà nước là giám đốc quá trình huy động
các khoản thu và thực hiện các khoản chi. Thông qua chức năng này, Ngân sách
Nhà nước kiểm tra, giám sát quá trình động viên các nguồn thu, tránh tình trạng trốn
6
Luật NSNN số 1/2002/QH-11.
7
lậu thuế, chây ỳ nộp thuế của các đối tượng thực hiện nghĩa vụ nộp Ngân sách Nhà
nước hoặc bị lạm dụng, làm trái pháp luật, coi thường pháp luật và các chính sách
động viên khác. Trong khâu cấp phát nếu buông lỏng việc kiểm tra, kiểm soát chi
thì dễ dẫn đến tình trạng làm sai luật định và các chế độ chi quy định. Đồng thời
thông qua kiểm tra, kiểm soát hoạt động thu chi Ngân sách Nhà nước giúp ta giám
sát việc chấp hành các chế độ, chính sách của Đảng và Nhà nước. Thông qua đó
đánh giá hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội của vốn Ngân sách Nhà nước, hiệu quả
của các chủ trương, chính sách, chế độ do Đảng và Nhà nước đề ra.
Như vậy, hai chức năng phân phối và giám đốc luôn có mối quan hệ mật
thiết với nhau, có vị trí và tầm quan trọng như nhau, không thể coi chức năng này
hơn chức năng kia, mà phải coi trọng cả hai chức năng ở mọi lúc, mọi nơi trong tạo
lập và sử dụng vốn Ngân sách Nhà nước.
1.1.1.3. Phân cấp Ngân sách Nhà nước
Phân cấp Ngân sách Nhà nước bao gồm: Ngân sách trung ương và Ngân sách
địa phương. Ngân sách địa phương gồm có Ngân sách tỉnh, thành phố trực thuộc
trung ương; Ngân sách huyện, quận, thị xã; Ngân sách xã, phường, thị trấn (gọi tắt
là ngân sách xã).
Ngân sách trung ương quản lý thu, chi theo ngành kinh tế. Nó luôn giữ vai
1.1.2. Nhiệm vụ chi ngân sách nhà nước
1.1.2.1. Đặc điểm chi NSNN
Chi Ngân sách Nhà nước thể hiện các quan hệ tiền tệ hình thành trong quá
trình phân phối và sử dụng quỹ Ngân sách Nhà nước nhằm trang trải cho các chi phí
bộ máy Nhà nước và thực hiện các chức năng kinh tế, xã hội mà Nhà nước đảm
nhận theo những nguyên tắc nhất định.
Chi Ngân sách Nhà nước là sự phối hợp giữa hai quá trình phân phối và sử
dụng quỹ Ngân sách Nhà nước.
Quá trình phân phối là quá trình phân chia kinh phí từ Ngân sách Nhà nước
để hình thành các loại quỹ trước khi đưa vào sử dụng.
Quá trình sử dụng là quá trình trực tiếp chi dùng khoản tiền cấp phát từ Ngân
sách Nhà nước không trải qua việc hình thành các loại quỹ trước khi đưa vào sử dụng.
Việc phân biệt hai quá trình này trong chi tiêu Ngân sách Nhà nước có ý
nghĩa quan trọng trong công tác quản lý chi Ngân sách Nhà nước. Bởi lẽ có nhận
9
biết được từng quá trình phân phối hoặc sử dụng quỹ Ngân sách Nhà nước thì mới
có thể đưa ra những cơ chế quản lý thích hợp.
Chi Ngân sách Nhà nước có những đặc điểm chung chủ yếu sau đây:
- Chi Ngân sách Nhà nước gắn chặt với bộ máy Nhà nước và những nhiệm
vụ kinh tế, chính trị, xã hội mà Nhà nước đó đảm nhận. Quy mô của tổ chức bộ máy
Nhà nước, khối lượng, phạm vi nhiệm vụ do Nhà nước đó đảm đương có quan hệ tỷ
lệ thuận với tổng mức chi Ngân sách Nhà nước.
- Cơ quan quyền lực cao nhất của Nhà nước là chủ thể duy nhất quyết định
cơ cấu, nội dung, mức độ các khoản chi của Ngân sách Nhà nước. Ở Việt Nam đó là
Quốc hội.
- Thông thường các khoản chi của Ngân sách Nhà nước được xem xét hiệu
quả trên tầm vĩ mô, có nghĩa là hiệu quả các khoản chi Ngân sách Nhà nước phải
phân chia các khoản chi Ngân sách Nhà nước thành hai loại:
- Chi cho đầu tư phát triển;
- Chi cho tiêu dùng.
Chi cho đầu tư phát triển là quá trình Nhà nước sử dụng một phần vốn tiền tệ
đã được tạo lập thông qua hoạt động thu Ngân sách Nhà nước để đầu tư xây dựng
cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội, đầu tư phát triển sản xuất và để dự trữ vật tư hàng hoá
nhằm đảm bảo thực hiện các mục tiêu ổn định và tăng trưởng kinh tế. Như vậy, các
khoản chi đầu tư phát triển phần lớn sẽ tạo ra sản phẩm tiêu dùng trong tương lai,
làm cho nền kinh tế tăng trưởng. Do vậy, người ta còn gọi các khoản chi này là chi
tích luỹ.
Chi cho tiêu dùng là những khoản chi không tạo ra sản phẩm vật chất để tiêu
dùng trong tương lai mà nó dùng để mua sắm hàng hoá, dịch vụ tiêu dùng ngay
trong hiện tại cho từng cá nhân và tổ chức.
Do tính chất và đặc điểm của chi đầu tư phát triển và chi tiêu dùng có những
khác biệt cơ bản nên các nguyên tắc quản lý, quy trình quản lý và tổ chức thực hiện
kiểm soát các loại chi này cũng phải khác nhau.
* Nếu căn cứ vào lĩnh vực chi, có thể phân chia các khoản chi Ngân sách
Nhà nước thành các loại:
- Chi cho y tế;
- Chi cho giáo dục;
11
- Chi cho phúc lợi;
- Chi quản lý Nhà nước;
- Chi đầu tư kinh tế.
* Nếu căn cứ theo yếu tố, có thể phân chia các khoản chi Ngân sách Nhà
nước thành các loại:
- Chi đầu tư;
mua sắm những lô hàng có giá trị lớn. Các khoản chi này tuy tính pháp lý có thấp
hơn các khoản chi theo luật định ở trên song cũng đã được người đại diện hợp pháp
của Nhà nước cam kết với bên thứ ba. Do vậy, trong điều kiện nền kinh tế phát triển
bình thường, trình độ kế hoạch hoá cao và hiệu quả các khoản chi không bị thay đổi
so với dự kiến thì việc lập dự toán các khoản chi này cũng không tốn nhiều thời
gian để thảo luận tại cấp Bộ, cấp Chính phủ cũng như tại Quốc hội.
Các khoản chi có thể điều chỉnh là các khoản chi không bị luật ràng buộc và
cũng chưa được cam kết. Các khoản chi này thường là các khoản chi cho một số
chương trình cụ thể như chi chống nghiện, chi chống xuống cấp các di tích văn hoá
lịch sử,… Do tính pháp lý của các khoản chi này thấp nên trong quá trình thảo luận
Ngân sách được nghiên cứu, mổ xẻ rất kỹ và thảo luận sôi nổi ở cấp Bộ, cấp Chính
phủ cũng như ở Quốc hội, đặc biệt là các khoản chi mới phát sinh so với năm trước.
* Nếu căn cứ vào các tiêu thức thống kê tài chính Chính phủ (GFS) thì người
ta chia các khoản chi Ngân sách Nhà nước theo Mục lục Ngân sách Nhà nước. Đây
là một cách phân loại được sử dụng nhiều nhất và phổ biến nhất để phục vụ cho
công tác lập, chấp hành, kế toán và quyết toán Ngân sách Nhà nước. Mỗi nước có
một cách phân loại riêng, tuy nhiên trong xu hướng hội nhập khu vực và giao lưu
quốc tế ngày càng mở rộng thì các kết cấu mục lục Ngân sách Nhà nước cũng có xu
hướng đồng nhất.
1.1.3. Chi thường xuyên ngân sách xã qua Kho bạc Nhà nước
Chi thường xuyên là các khoản chi nhằm duy trì hoạt động thường xuyên của
nhà nước. Nội dung chi thường xuyên ngân sách xã (theo Thông tư 60/2003/TTBTC ngày 23/6/2003 của Bộ Tài chính Quy định về quản lý ngân sách xã và các
hoạt động tài chính khác của xã, phường, thị trấn), gồm:
- Chi cho hoạt động của các cơ quan nhà nước ở xã: Tiền lương, tiền công
cho cán bộ, công chức cấp xã; Sinh hoạt phí đại biểu Hội đồng nhân dân; Các khoản
13
phụ cấp khác theo quy định của Nhà nước; Công tác phí; Chi về hoạt động, văn
14
- Chi sửa chữa, cải tạo các công trình phúc lợi, các công trình kết cấu hạ tầng
do xã quản lý như: trường học, trạm y tế, nhà trẻ, lớp mẫu giáo, nhà văn hoá, thư
viện, đài tưởng niệm, cơ sở thể dục thể thao, cầu, đường giao thông, công trình cấp
và thoát nước công cộng,...; riêng đối với thị trấn còn có nhiệm vụ chi sửa chữa cải
tạo vỉa hè, đường phố nội thị, đèn chiếu sáng, công viên, cây xanh... (đối với
phường do ngân sách cấp trên chi).
Hỗ trợ khuyến khích phát triển các sự nghiệp kinh tế như: khuyến nông,
khuyến ngư, khuyến lâm theo chế độ quy định.
- Các khoản chi thường xuyên khác ở xã theo quy định của pháp luật.
Căn cứ vào định mức, chế độ, tiêu chuẩn của Nhà nước; Hội đồng nhân dân
cấp tỉnh quy định cụ thể mức chi thường xuyên cho từng công việc phù hợp với tình
hình đặc điểm và khả năng ngân sách địa phương.
1.1.4. Chu trình lập dự toán, thực hiện và quyết toán chi thường xuyên ngân
sách xã
Chu trình này nằm trong quy trình quản lý ngân sách xã, được quy định cụ
thể tại Thông tư số 60/2003/TT-BTC ngày 23/6/2003 của Bộ Tài chính Quy định về
quản lý ngân sách xã và các hoạt động tài chính khác của xã, phường, thị trấn. Chu
trình gồm 3 bước: Lập dự toán, Chấp hành ngân sách, Quyết toán ngân sách. Cụ thể
như sau7:
* Lập dự toán chi thường xuyên ngân sách xã: Hàng năm, trên cơ sở hướng
dẫn của Uỷ ban nhân dân cấp trên, Uỷ ban nhân dân xã lập dự toán ngân sách năm
sau. Căn cứ lập dự toán chi thường xuyên ngân sách xã là: Chính sách, chế độ thu
ngân sách nhà nước, cơ chế phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi ngân sách xã và tỷ lệ
phân chia nguồn thu do Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quy định; Chế độ, tiêu chuẩn,
định mức chi ngân sách do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ Tài chính và Hội
đồng nhân dân cấp tỉnh quy định; Số kiểm tra về dự toán ngân sách xã do Uỷ ban
nhân dân huyện thông báo; Tình hình thực hiện dự toán ngân sách xã năm hiện hành
chi tài chính của tổ chức, đơn vị.
Với chi thường xuyên: cần (i) Ưu tiên chi trả tiền lương, các khoản phụ cấp
cho cán bộ công chức xã, nghiêm cấm việc nợ lương và các khoản phụ cấp; và (ii)
Các khoản chi thường xuyên khác phải căn cứ vào dự toán năm, khối lượng thực
hiện công việc, khả năng của ngân sách xã tại thời điểm chi để thực hiện chi cho
phù hợp.
16
* Kế toán và quyết toán ngân sách xã: Ban Tài chính xã có trách nhiệm thực
hiện công tác hạch toán kế toán và quyết toán ngân sách xã theo Mục lục ngân sách
nhà nước và chế độ kế toán ngân sách xã hiện hành; thực hiện chế độ báo cáo kế
toán và quyết toán theo quy định. Kho bạc Nhà nước nơi giao dịch thực hiện công
tác kế toán thu, chi quỹ ngân sách xã theo quy định; định kỳ hàng tháng, quý báo
cáo tình hình thực hiện thu, chi ngân sách xã, tồn quỹ ngân sách xã gửi Uỷ ban nhân
dân xã; và báo cáo đột xuất khác theo yêu cầu của Uỷ ban nhân dân xã. Thời gian
chỉnh lý quyết toán ngân sách xã hết ngày 31 tháng 01 năm sau. Để thực hiện công
tác khoá sổ và quyết toán hàng năm, Ban Tài chính xã ngay trong tháng 12 phải rà
soát tất cả các khoản thu, chi theo dự toán; phối hợp với Kho bạc Nhà nước huyện
nơi giao dịch đối chiếu tất cả các khoản thu, chi ngân sách xã trong năm, bảo đảm
hạch toán đầy đủ, chính xác các khoản thu, chi theo Mục lục ngân sách nhà nước,
kiểm tra lại số thu được phân chia giữa các cấp ngân sách theo tỉ lệ quy định. Ban
Tài chính xã lập báo cáo quyết toán thu, chi ngân sách xã hàng năm (các biểu mẫu
theo Phụ lục số 7 đến Phụ lục số 13 kèm theo Thông tư số 60/2003/TT-BTC) trình
Uỷ ban nhân dân xã xem xét để trình Hội đồng nhân dân xã phê chuẩn, đồng thời
gửi Phòng Tài chính huyện để tổng hợp. Thời gian gửi báo cáo quyết toán năm cho
Phòng Tài chính huyện do Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quy định.
1.2. Kiểm soát chi thường xuyên ngân sách xã qua KBNN
1.2.1. Khái niệm về kiểm soát chi thường xuyên ngân sách xã qua KBNN
nội dung chi thường xuyên ngân sách xã.
1.2.2. Sự cần thiết phải thực hiện kiểm soát chi thường xuyên ngân sách xã qua
KBNN
Tại điều 56 Luật Ngân sách Nhà nước năm 2002 (sửa đổi) đã quy định: Căn
cứ vào dự toán Ngân sách Nhà nước được giao và yêu cầu nhiệm vụ, thủ trưởng
đơn vị quan hệ ngân sách quyết định chi gửi Kho bạc Nhà nước, Kho bạc Nhà nước
kiểm tra tính hợp pháp của các tài liệu cần thiết theo quy định của pháp luật và thực
hiện chi ngân sách khi có đủ các điều kiện quy định.
Đồng thời, tại điểm 1, điều 55 Nghị định 60/2003/NĐ-CP cũng quy định:
Các đơn vị quan hệ ngân sách và các tổ chức được ngân sách hỗ trợ thường xuyên
phải mở tài khoản tại Kho bạc Nhà nước, chịu sự kiểm tra, kiểm soát của cơ quan
tài chính và Kho bạc Nhà nước trong quá trình thanh toán, sử dụng kinh phí.
8
Từ điển tiếng Việt online: http://tratu.soha.vn/dict/vn_vn/Ki%E1%BB%83m_so%C3%A1t