Giải pháp hoàn thiện công tác kiểm soát chi thường xuyên ngân sách nhà nước qua kho bạc nhà nước quảng xương, tỉnh thanh hóa - Pdf 43

i

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi,
chưa từng công bố. Kết quả nghiên cứu là trung thực. Tài liệu tham khảo và số liệu
thống kê trích dẫn có nguồn gốc rõ ràng.
Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan của mình trước các quy
định của Nhà trường và Pháp luật.
Thanh Hóa, ngày 30 tháng 9 năm 2015
Tác giả luận văn

Đỗ Thị Nhung


ii

LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian thực hiện luận văn tốt nghiệp, ngoài sự cố gắng nỗ lực của
bản thân, tôi đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ của các cá nhân và tổ chức.
Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới:
- PGS.TS Lê Hùng Sơn, người hướng dẫn khoa học, đã trực tiếp giúp đỡ tôi
trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn.
- Lãnh đạo trường Đại học Lâm nghiệp Việt Nam, Khoa sau đại học, các
thầy cô giáo bộ môn trong và ngoài trường.
- Tôi xin chân thành cảm ơn lãnh đạo Kho bạc Nhà nước Quảng Xương, các
ban ngành thuộc UBND huyện Quảng Xương và các đơn vị, cá nhân đã tạo mọi
điều kiện thuận lợi để tôi cố gắng hoàn thành tốt nội dung đề tài.
Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn tới những người thân trong gia đình, bạn bè
đã động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài luận văn
tốt nghiệp của mình./.
Tác giả luận văn

qua Kho bạc Nhà nước .......................................................................................... 25
1.3.1. Những nhân tố khách quan .......................................................................... 25
1.3.2. Những nhân tố chủ quan .............................................................................. 26
1.4. Kinh nghiệm kiểm soát chi thường xuyên ngân sách nhà nước qua Kho bạc Nhà
nước ở một số địa phương và bài học vận dụng ..................................................... 28


iv

1.4.1. Kinh nghiệm kiểm soát chi thường xuyên ngân sách nhà nước qua Kho bạc
Nhà nước ở một số địa phương .............................................................................. 28
1.4.2. Một số bài học rút ra về kiểm soát chi thường xuyên ngân sách nhà nước đối
với KBNN Quảng Xương ...................................................................................... 30
1.5. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu..................................................................... 31
Chương 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .............. 34
2.1. Đặc điểm cơ bản của địa bàn nghiên cứu ........................................................ 34
2.1.1. Khái quát đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội ở huyện Quảng Xương ............. 34
2.1.2. Cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ Kho bạc Nhà nước Quảng Xương ..... 39
2.2. Phương pháp nghiên cứu ................................................................................ 43
2.2.1. Phương pháp chọn điểm nghiên cứu ............................................................ 43
2.2.2. Phương pháp thu thập số liệu ....................................................................... 44
2.2.3. Phương pháp xử lý và phân tích số liệu ........................................................ 45
2.2.4. Các chỉ tiêu đánh giá sử dụng trong luận văn ............................................... 46
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN...................................... 47
3.1. Thực trạng kiểm soát chi thường xuyên ngân sách nhà nước tại Kho bạc Nhà
nước Quảng Xương ............................................................................................... 47
3.1.1. Cơ chế kiểm soát chi thường xuyên ngân sách nhà nước qua Kho bạc Nhà
nước ...................................................................................................................... 47
3.1.2. Quy trình kiểm soát chi thường xuyên ngân sách nhà nước tại Kho bạc Nhà
nước Quảng Xương ............................................................................................... 55


Nghĩa đầy đủ

HĐND

Hội đồng nhân dân

KBNN

Kho bạc Nhà nước

KT- XH

Kinh tế - xã hội

KSC

Kiểm soát chi

MLNS

Mục lục ngân sách

NSNN

Ngân sách Nhà nước

NSĐP

Ngân sách địa phương

vii

DANH MỤC CÁC BẢNG
STT

Tên bảng

Trang

2.1

Thu NSNN ở huyện Quảng Xương giai đoạn 2012- 2014

37

2.2

Chi NSNN ở huyện Quảng Xương giai đoạn 2012 – 2014

38

2.3

3.1

3.2

3.3

Phân công công chức làm công tác kiểm soát chi thường xuyên ở

Tên sơ đồ
Tổ chức bộ máy KBNN tỉnh, thành phố
Quy trình luân chuyển chứng từ chi thường xuyên tại KBNN
Quảng Xương

Trang
41
60


1

MỞ ĐẦU

1. Sự cần thiết của vấn đề nghiên cứu
Trong giai đoạn hiện nay khi nền kinh tế của Việt Nam đã chuyển sang nền
kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, lĩnh vực tài chính- ngân sách nói
chung và quản lý quỹ ngân sách của Kho bạc Nhà nước (KBNN) nói riêng đã có sự
đổi mới căn bản, nhờ đó đã mang lại những kết quả đáng ghi nhận. Chi tiêu ngân
sách nhà nước (NSNN) những năm qua, ngoài việc đảm bảo hoạt động có hiệu quả
của bộ máy Nhà nước, ổn định đời sống kinh tế-xã hội (KT-XH), còn tạo tiền đề,
những cơ sở vật chất quan trọng góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển, tác động
tích cực vào tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế. Chi NSNN có tác động đến mọi
mặt của đời sống KT-XH, vì thế nếu quản lý chi NSNN tốt sẽ góp phần to lớn vào
thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, giữ vững an ninh- quốc phòng, giải quyết tốt các vấn
đề xã hội; kiểm soát chi NSNN là một khâu của quản lý NSNN, thực hiện tốt kiểm
soát chi NSNN sẽ nâng cao hiệu quả chi NSNN.
Thời gian qua, Đảng và Nhà nước đã có nhiều biện pháp tích cực nhằm nâng
cao hiệu quả quản lý Nhà nước trong lĩnh vực chi NSNN nói chung và lĩnh vực
kiểm soát các khoản chi ngân sách nói riêng. Điều đó thể hiện bằng việc Quốc hội

bất hợp lý, tuy phải qua nhiều khâu, nhiều nấc, nhưng vẫn còn sơ hở, vốn NSNN
không được chuyển thẳng đến các địa chỉ cần thanh toán, mà phần lớn vẫn chuyển
qua và nằm trên các tài khoản trung gian tại KBNN, Ngân hàng hoặc ở quỹ của đơn
vị,...
Chính vì vậy, việc tiếp tục nghiên cứu về vấn đề nâng cao chất lượng kiểm
soát chi NSNN qua KBNN là vấn đề không mới nhưng là vấn đề đặt ra để các nhà
khoa học và chuyên môn tiếp tục nghiên cứu nhằm hoàn thiện các văn bản pháp
lý, nâng cao chất lượng kiểm soát chi NSNN qua KBNN, từ đó quản lý có hiệu
quả việc sử dụng NSNN thông qua công tác kiểm soát chi của KBNN, góp phần
thực hành tiết kiệm, chống lãng phí và phòng chống tham nhũng.
Thực tế kiểm soát chi NSNN tại KBNN Quảng Xương đã có những chuyển
biến tích cực, cơ chế kiểm soát chi NSNN qua KBNN đã từng bước được hoàn
thiện theo hướng hiệu quả, ngày một chặt chẽ và đúng mục đích hơn cả về quy
mô và chất lượng. Mặc dù vậy quá trình thực hiện kiểm soát chi NSNN tại KBNN


3

Quảng Xương vẫn còn tồn tại, hạn chế bất cập như: hiệu quả kiểm soát chi NSNN
còn chưa cao, vẫn còn tình trạng lãng phí NSNN, chưa tạo được sự chủ động cho
các đơn vị sử dụng NSNN mặc dù đã có cơ chế khoán chi, tự chủ, tự chịu trách
nhiệm sử dụng biên chế và kinh phí hoạt động, vẫn còn những khoản chi thường
xuyên chưa đúng chế độ, tiêu chuẩn định mức quy định. Mặt khác, trong cơ cấu chi
NSNN tại huyện Quảng Xương, chi thường xuyên chiếm tỷ lệ trên 70% tổng chi
NSNN; nguồn thu trên địa bàn hạn hẹp, nhưng phải dành một phần không nhỏ để
chi cho đầu tư phát triển. Vì vậy, để đảm bảo kinh phí đáp ứng cho nhu cầu hoạt
động của bộ máy quản lý Nhà nước trên địa bàn thì việc tăng cường kiểm soát chi
nhằm tiết kiệm, chống lãng phí trong chi thường xuyên là vấn đề cấp thiết đang
được đặt ra.
Với những lý do nêu trên, tác giả lựa chọn đề tài: "Giải pháp hoàn thiện


6

Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ KIỂM SOÁT CHI THƯỜNG XUYÊN
NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC QUA KHO BẠC NHÀ NƯỚC
1.1. Một số vấn đề về ngân sách nhà nước và kiểm soát chi ngân sách nhà nước
1.1.1. Khái quát chung về ngân sách nhà nước, chi ngân sách nhà nước
1.1.1.1. Khái niệm, vai trò, đặc điểm ngân sách nhà nước, chi ngân sách nhà nước
- Khái niệm, vai trò của ngân sách nhà nước:
+ Khái niệm ngân sách nhà nước:
Cùng với sự ra đời của Nhà nước và quan hệ hàng hoá - tiền tệ phát triển đến
một mức độ nhất định thì thuật ngữ “ngân sách nhà nước” xuất hiện. Các nhà kinh
tế đều cho rằng “Ngân sách nhà nước” ra đời vào cuối chế độ phong kiến tan rã.
Đến nay từ “ngân sách nhà nước” đã phổ biến đến mức mọi người dân đều biết đến
nó.
Tuy nhiên, đến nay cũng còn tồn tại nhiều quan niệm khác nhau về “ngân
sách nhà nước”. Ngân hàng Thế giới cho rằng “ngân sách nhà nước” là quỹ tiền tệ
của Nhà nước1. Tại Mỹ, các nhà kinh tế quan niệm “ngân sách nhà nước”là bản dự
toán thu - chi tài chính của Nhà nước trong một khoảng thời gian, thường là một
năm2. Các nhà kinh tế Nga coi “ngân sách nhà nước”là bảng liệt kê các khoản thu,
chi bằng tiền trong một giai đoạn nhất định của quốc gia3.
Xét trên quan điểm biện chứng, các quan niệm trên mới chỉ nêu lên được một
mặt của “ngân sách nhà nước” đó là mặt cụ thể, mặt vật chất mà chưa chỉ ra được
nội dung kinh tế - xã hội của “ngân sách nhà nước”.
Trên thực tế, các hoạt động thu chi của ngân sách nhà nước hết sức phức tạp
và có liên quan đến tất cả các chủ thể trong nền kinh tế. Song các hoạt động thu chi
của ngân sách nhà nước đều có những đặc điểm chung sau: (1) Luôn gắn chặt với
quyền lực kinh tế - chính trị của Nhà nước, được Nhà nước tiến hành trên cơ sở
1

chính đảm bảo, tức là khi sử dụng triệt để và có hiệu quả các công cụ ngân sách. Cụ
thể:
Về mặt phát triển kinh tế: NSNN được sử dụng để đầu tư cho nền kinh tế
phát triển hoặc hình thành cơ cấu kinh tế mới như: Dùng vốn NSNN để đầu tư vào
kết cấu hạ tầng như giao thông, điện, nước, thuỷ lợi…; Hoặc thực hiện những ưu
4

/>

8

đãi về tín dụng hoặc thuế nhằm khuyến khích phát triển những ngành nghề hoặc
vùng cần phát triển.
Khi nền kinh tế suy thoái, nhà nước có thể tăng chi ngân sách cho đầu tư, cắt
giảm thuế nhằm kích cầu, hỗ trợ nền kinh tế sớm phục hồi.
Thông qua các khoản chi đầu tư từ vốn ngân sách và ưu đãi thuế để thúc đẩy
hình thành cơ cấu kinh tế mới, hợp lý hơn, qua đó phát huy các nguồn lực trong xã
hội một cách có hiệu quả.
Về mặt ổn định KT- XH: Vai trò này của NSNN được thể hiện qua các hoạt
động như: Lập quỹ dự trữ nhà nước về hàng hoá, vật tư thiết yếu, các quỹ dự phòng
tài chính (kể cả bằng vàng và ngoại tệ) để ổn định kinh tế xã hội khi có sự biến
động do thiên tai mà Nhà nước cần can thiệp; Hỗ trợ các quỹ bình ổn giá, quỹ bảo
hiểm xã hội; Cấp tín dụng ưu đãi hoặc mua lại các doanh nghiệp có vị trí quan trọng
đang gặp khó khăn, có nguy cơ giải thể hoặc phá sản; Lập quỹ dự trữ ngoại tệ để ổn
định tỷ giá.
Về mặt thị trường, thực hiện công bằng xã hội: NSNN có vai trò quan
trọng trong việc thực hiện công bằng xã hội như: Chi phúc lợi công cộng nhằm tạo
điều kiện nâng cao mặt bằng xã hội; Chi trợ cấp đối với những người có hoàn cảnh
khó khăn; Chi trợ cấp thất nghiệp nhằm ổn định xã hội.
- Khái niệm và đặc điểm chi NSNN:

lĩnh vực QP- AN và đối ngoại thì Nhà nước nhất thiết phải thực hiện, nhưng lĩnh
vực KT- XH thì phải khoanh rõ phạm vi hoạt động để xác định phạm vi chi NSNN.
Nhà nước cần tập trung nguồn lực của mình vào phạm vi đã hoạch định để giải
quyết các vấn đề lớn của quốc gia.
Hai là, chi NSNN gắn với quyền lực Nhà nước. Quốc hội là cơ quan quyền
lực cao nhất quyết định quy mô, nội dung, cơ cấu chi và phân bổ nguồn tài chính
cho các mục tiêu quan trọng nhất. Chính phủ là cơ quan hành pháp có nhiệm vụ
quản lý và quyết định các khoản chi NSNN.
Ba là, hiệu quả các khoản chi NSNN được xem xét một cách toàn diện dựa
vào mức độ hoàn thành các mục tiêu mà các khoản chi đó đảm nhiệm.
Bốn là, chi NSNN chủ yếu là những khoản chi không hoàn trả trực tiếp,
nghĩa là những khoản chi của Nhà nước cấp ra cho các lĩnh vực văn hóa, y tế, giáo
dục... không đòi hỏi phải hoàn lại cho Nhà nước. Chỉ có những khoản Nhà nước


10

đứng ra bảo lãnh về tín dụng, hoặc Nhà nước cho vay thì mới bắt buộc người được
bảo lãnh hay người vay phải hoàn trả.
Năm là, chi NSNN phải đáp ứng lợi ích của quốc gia, lợi ích toàn dân, lợi
ích trước mắt cũng như lợi ích lâu dài.
Chi NSNN là để duy trì và phát triển đất nước, vì lợi ích của toàn xã hội. Vấn
đề là ở chỗ sắp xếp như thế nào cho hài hòa giữa lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài.
Để phát triển lâu dài, phải chi về đầu tư lớn; nhưng nghèo đói, bệnh tật... lại là
những vấn đề cấp bách cần phải giải quyết. Nếu vì đời sống nhân dân còn khó khăn
phải chi tiêu nhiều cho đời sống, không chi tiêu thỏa đáng cho đầu tư, thì lợi ích lâu
dài không được đảm bảo.
Sáu là, đặc điểm của chi NSNN là có quy mô lớn, phức tạp, gắn liền với
cung cấp hàng hóa dịch vụ đa dạng, do vậy, tác động mạnh mẽ đến môi trường tài
chính vĩ mô, tác động đến tổng cung, tổng cầu về vốn tiền tệ. Chính vì lẽ đó, Nhà

cơ chế quản lý chi NSNN nhiều khi không theo kịp với biến động của hoạt động chi
NSNN. Tình trạng này đã tạo kẽ hở trong cơ chế quản lý chi NSNN, tiêu cực phát
sinh. Điều đó đòi hỏi phải có các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, thực hiện việc
kiểm tra, giám sát quá trình sử dụng kinh phí NSNN của các cơ quan, đơn vị nhằm
ngăn chặn kịp thời những hiện tượng tiêu cực, phát hiện những điểm chưa phù hợp
trong cơ chế quản lý để từ đó kiến nghị với các ngành, các cấp sửa đổi, bổ sung kịp
thời để các cơ chế quản lý và kiểm soát chi NSNN ngày càng được hoàn thiện, phù
hợp và chặt chẽ hơn.
+ Do ý thức của các đơn vị sử dụng kinh phí NSNN: Các đơn vị thụ hưởng
kinh phí NSNN thường có tư tưởng tìm mọi cách để sử dụng hết số kinh phí đã
được cấp, ít quan tâm đến việc chấp hành đúng mục đích, đối tượng và dự toán
được duyệt. Vì vậy, cần thiết phải có cơ quan chức năng có thẩm quyền để thực
hiện kiểm tra, kiểm soát đối với các khoản chi từ NSNN. Qua đó, phát hiện và chấn
chỉnh kịp thời các sai phạm, sai sót và lãng phí có thể xảy ra trong việc sử dụng
kinh phí NSNN của các đơn vị, đảm bảo mọi khoản chi của NSNN được sử dụng
đúng mục đích, tiết kiệm và có hiệu quả.
+ Do tính đặc thù của các khoản chi NSNN: Các khoản chi của NSNN
thường mang tính chất không hoàn trả trực tiếp như các đơn vị được NSNN cấp


12

phát kinh phí sẽ không phải hoàn trả lại trực tiếp cho Nhà nước về số kinh phí đã sử
dụng; cái mà họ phải “hoàn trả” cho Nhà nước chính là “kết quả công việc” đã được
Nhà nước giao. Tuy nhiên, việc dùng các chỉ tiêu định lượng để đánh giá kết quả
của các khoản chi NSNN trong một số trường hợp sẽ gặp khó khăn và không toàn
diện. Do vậy, cần thiết phải có một cơ quan nhà nước có chức năng, nhiệm vụ thực
hiện kiểm tra, kiểm soát các khoản chi của NSNN để đảm bảo cho việc chi trả của
Nhà nước là phù hợp với các nhiệm vụ đã giao.
+ Do yêu cầu mở cửa và hội nhập với nền tài chính khu vực và thế giới:

Bốn là, trong quá trình kiểm soát, thanh toán, quyết toán chi NSNN các
khoản chi sai phải thu hồi giảm chi hoặc nộp ngân sách. Căn cứ vào quyết định của
cơ quan Tài chính hoặc quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, KBNN
thực hiện việc thu hồi cho NSNN theo đúng trình tự quy định.
Năm là, trong quá trình quản lý, kiểm soát thanh toán các khoản chi NSNN,
cơ quan tài chính có quyền quyết định thu hồi giảm chi NSNN đối với các khoản
chi không đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi của Nhà nước. Các đơn vị SDNS
có trách nhiệm nộp ngân sách nhà nước kịp thời theo quyết định của cơ quan tài
chính. KBNN căn cứ vào quyết định của cơ quan tài chính và giấy nộp tiền của các
đơn vị SDNS để làm thủ tục thu hồi giảm chi ngân sách nhà nước.
Sáu là, căn cứ vào quyết định của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền về
việc thu hồi các khoản chi sai chế độ, tham ô làm thất thoát tiền, tài sản nhà nước;
KBNN thực hiện hạch toán kế toán thu hồi giảm chi ngân sách nhà nước theo đúng
mục lục ngân sách nhà nước, sau khi các đơn vị sử dụng ngân sách nhà nước nộp đủ
các khoản phải thu hồi vào ngân sách nhà nước.
- Điều kiện chi NSNN:
Kho bạc Nhà nước chỉ thực hiện thanh toán các khoản chi ngân sách nhà
nước khi có đủ các điều kiện sau:
Thứ nhất: Đã có trong dự toán chi ngân sách nhà nước được giao, trừ các
trường hợp sau:
a) Trong trường hợp vào đầu năm ngân sách, dự toán ngân sách và phương
án phân bổ ngân sách chưa được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định, cơ
quan Tài chính và KBNN tạm cấp kinh phí cho các nhiệm vụ chi sau: Chi lương và
các khoản có tính chất tiền lương; chi nghiệp vụ phí và công vụ phí; một số khoản
chi cần thiết khác để bảo đảm hoạt động của bộ máy, trừ các khoản mua sắm trang


14

thiết bị, sửa chữa; chi cho dự án chuyển tiếp thuộc các chương trình quốc gia; chi bổ

15

thẩm quyền giao phải tổ chức giao dự toán chi tiết cho các đơn vị dự toán cấp II
(hoặc cấp III) trực thuộc, đảm bảo nguyên tắc khớp đúng về tổng mức và chi tiết
theo từng mục chi đã được giao. Cơ quan Tài chính cùng cấp có trách nhiệm kiểm
tra kết quả giao dự toán ngân sách của các đơn vị, nếu có sự sai lệch với nội dung
dự toán được cấp có thẩm quyền giao thì yêu cầu đơn vị điều chỉnh lại. Sau 15 ngày
nhận được báo cáo kết quả giao dự toán ngân sách của các đơn vị, nếu cơ quan tài
chính không có ý kiến thì kết quả giao dự toán của đơn vị coi như đã được chấp
nhận.
Thứ hai: Đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức.
- Định mức tiêu chuẩn chi là giới hạn tối đa các mức chi tiêu cho một mục
đích cụ thể của đơn vị sử dụng NSNN được cơ quan chức năng có thẩm quyền ban
hành. Định mức tiêu chuẩn chi là căn cứ quan trọng để lập kế hoạch dự toán chi
NSNN hàng năm và là căn cứ để kiểm soát chi NSNN.
- Định mức tiêu chuẩn sử dụng chung trong phạm vi toàn quốc là những định
mức do cơ quan chức năng có thẩm quyền ban hành áp dụng cho tất cả các tỉnh,
thành phố trong cả nước (như định mức chi hội nghị, công tác phí; định mức về sử
dụng ôtô con, điện thoại của Bộ Tài chính,...).
- Định mức tiêu chuẩn sử dụng trong phạm vi ngành, địa phương (nếu được
Chính phủ cho phép hoặc có sự thoả thuận của Bộ chức năng) thì loại định mức tiêu
chuẩn này được cơ quan có thẩm quyền của ngành, địa phương ban hành để đảm
bảo phù hợp với tính chất đặc thù của ngành, địa phương.
Những khoản chi đã có định mức, tiêu chuẩn thì dự toán ngân sách của các
đơn vị phải tuân theo định mức tiêu chuẩn đó và KBNN căn cứ vào tiêu chuẩn định
mức để kiểm soát khi cấp phát thanh toán cho các đơn vị sử dụng NSNN. Những
khoản chi chưa có tiêu chuẩn định mức được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt thì
KBNN căn cứ dự toán được cơ quan cấp trên trực tiếp của đơn vị sử dụng ngân sách
phê duyệt làm căn cứ để kiểm soát.
Thứ ba: Đã được thủ trưởng đơn vị SDNS hoặc người được ủy quyền quyết

a) Thẩm tra việc phân bổ dự toán ngân sách nhà nước cho các đơn vị sử dụng
ngân sách nhà nước. Trường hợp việc phân bổ không phù hợp với nội dung trong
dự toán do cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao, không đúng chính sách, chế độ
thì yêu cầu cơ quan phân bổ ngân sách điều chỉnh lại;


17

b) Đảm bảo tồn quỹ ngân sách nhà nước các cấp để đáp ứng các nhu cầu chi
của NSNN theo quy định của Luật NSNN. Trường hợp tồn quỹ ngân sách các cấp
không đáp ứng đủ nhu cầu chi, cơ quan tài chính được quyền yêu cầu KBNN tạm
dừng thanh toán một số khoản chi về mua sắm, sửa chữa theo từng nhiệm vụ cụ thể
để đảm bảo cân đối quỹ NSNN, nhưng không ảnh hưởng đến việc tổ chức thực hiện
nhiệm vụ chính được giao của đơn vị;
c) Kiểm tra, giám sát việc thực hiện chi tiêu và sử dụng ngân sách ở các đơn
vị sử dụng ngân sách nhà nước, trường hợp phát hiện các khoản chi vượt nguồn cho
phép, không đúng chế độ quy định hoặc đơn vị không chấp hành chế độ báo cáo, thì có
quyền yêu cầu Kho bạc Nhà nước tạm dừng thanh toán.
d) Chịu trách nhiệm nhập dự toán chi ngân sách vào hệ thống TABMIS, theo
quy định về hướng dẫn quản lý điều hành ngân sách nhà nước trong điều kiện áp
dụng hệ thống TABMIS.
đ) Đối với những khoản chi do cơ quan Tài chính quyết định chi bằng hình
thức “lệnh chi tiền”: Cơ quan tài chính chịu trách nhiệm kiểm tra, kiểm soát nội
dung, tính chất của từng khoản chi, bảo đảm khoản chi đủ các điều kiện chi ngân
sách theo quy định [10].
1.1.2.2. Cơ quan Kho bạc Nhà nước
Kho bạc Nhà nước có trách nhiệm:
a) Kiểm soát các hồ sơ, chứng từ chi và thực hiện thanh toán kịp thời các
khoản chi ngân sách đủ điều kiện thanh toán;
b) Tham gia với cơ quan tài chính, cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền

tài khoản tại KBNN; chịu sự kiểm tra, kiểm soát của cơ quan Tài chính, Kho bạc
Nhà nước trong quá trình thực hiện dự toán ngân sách được giao và quyết toán ngân
sách theo đúng chế độ quy định. Lập chứng từ thanh toán theo đúng mẫu do Bộ Tài
chính quy định; chịu trách nhiệm về tính chính xác của các nội dung chi đã kê trên
bằng kê chứng từ thanh toán gửi KBNN.
b) Thủ trưởng các đơn vị sử dụng ngân sách có trách nhiệm:
- Quyết định chi theo chế độ, tiêu chuẩn và mức chi trong phạm vi dự toán
chi ngân sách được cấp có thẩm quyền giao. Thủ trưởng cơ quan, đơn vị sử dụng
NSNN chịu trách nhiệm về quyết định chi và tính chính xác của các nội dung chi
trên bảng kê chứng từ gửi KBNN.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status