i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu,
kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong
bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác.
Nếu nội dung nghiên cứu của tôi trùng lắp với bất kỳ công trình nghiên
cứu nào đã công bố, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm và tuân thủ kết luận
đánh giá luận văn của hội đồng khoa học.
Hà Nội, ngày….. tháng….. năm 2015
Người cam đoan
Nguyễn Thị Thúy Hằng
ii
LỜI CẢM ƠN
Trong phạm vi một luận văn cao học, mặc dù đã cố gắng nghiên cứu
một cách tổng quát những vấn đề trên, nhưng do khả năng còn hạn chế về lý
luận và thực tiễn nên việc trình bày, phân tích, đánh giá chưa thực sự được
đầy đủ, toàn diện và sâu sắc, bản thân rất mong nhận được ý kiến đóng góp
của các thầy, cô giáo và các bạn để có thể nghiên cứu vấn đề này một cách
sâu sắc, hoàn thiện hơn trong thời gian tới. Trong quá trình thực hiện luận
văn, tác giả xin chân thành gửi lời cảm ơn sâu sắc đến thầy giáo hướng dẫn
PGS TS Nguyễn Đình Long và các thầy giáo, cô giáo của Trường Đại học
Lâm nghiệp Việt Nam, các bạn đồng nghiệp tại cơ quan bảo hiểm xã hội
huyện Hoa Lư và gia đình đã tạo điều kiện về thời gian, giúp đỡ về tinh thần
để tôi hoàn thành luận văn.
iv
1.5.3. Tổng quan một số công trình nghiên cứu có liên quan đến luận văn ... 31
Chương 2 ĐẶC ĐIỂM VỀ HUYỆN HOA LƯ TỈNH NINH BÌNH VÀ
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ................................................................ 35
2.1. Đặc điểm cơ bản của huyện Hoa Lư tỉnh Ninh Bình .............................. 35
2.1.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội huyện Hoa Lư tỉnh Ninh Bình: ..... 35
2.1.2. Các đặc điểm kinh tế - xã hội.............................................................. 38
2.1.3. Khái quát bộ máy tổ chức thực hiện chính sách BHYT tại huyện Hoa
Lư tỉnh Ninh Bình ........................................................................................ 45
2.1.4. Những thuận lợi và khó khăn .............................................................. 51
2.2. Phương pháp nghiên cứu ....................................................................... 53
2.2.1. Phương pháp thu thập thông tin .......................................................... 53
2.2.2. Phương pháp chọn điểm nghiên cứu ................................................... 53
2.2.3. Phương pháp thống kê phân tích số liệu ............................................. 53
2.2.4. Phương pháp so sánh, tổng kết thực tiễn ............................................. 54
2.2.5. Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu .............................................................. 54
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU .......................................................... 55
3.1. Thực trạng thực hiện BHYT tại huyện Hoa Lư ...................................... 55
3.1.1. Kết quả triển khai thực hiện chính sách BHYT toàn dân tại huyện Hoa
Lư tỉnh Ninh Bình ........................................................................................ 55
3.1.2. Thực trạng phương thức thu – chi BHYT tại BHXH huyện Hoa Lư, tỉnh
Ninh Bình..................................................................................................... 64
3.1.3. Một số nhân tố ảnh hưởng đến việc thực hiện chính sách BHYT toàn
dân tại huyện Hoa Lư tỉnh Ninh Bình ........................................................... 70
3.2. Đánh giá chung về việc thực hiện BHYT toàn dân tại huyện Hoa Lư tỉnh
Ninh Bình..................................................................................................... 77
3.2.1. Những kết quả đạt được...................................................................... 77
3.2.2. Những hạn chế còn tồn tại .................................................................. 78
BHXH
Bảo hiểm xã hội
BHTN
Bảo hiểm thất nghiệp
CNTT
Công nghệ thông tin
KCB
Khám chữa bệnh
CSSK
Chăm sóc sức khoẻ
UBND
Ủy ban nhân dân
NLĐ
Người lao động
NSDLĐ
Mức hưởng BHYT
17
2.1
Dân số và biến động dân số huyện Hoa Lư
39
2.2
Lao động trong các ngành nghề huyện Hoa Lư
39
2.3
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế huyện Hoa Lư
43
2.4
Số lượng cán bộ, viên chức tại BHXH huyện Hoa Lư năm
2014
Tình hình bao phủ BHYT tại huyện Hoa Lư giai đoạn 2010-
49
63
Lư giai đoạn 2010- 2014
3.6
Tình hình thực hiện kế hoạch thu BHYT tại BHXH huyện
64
Hoa Lư giai đoạn 2010 – 2014
3.7
Tình hình khám chữa bệnh bằng thẻ BHYT trên địa bàn
67
huyện Hoa Lư giai đoạn 2010 – 2014
3.8
Số tiền thanh toán BHYT tại các cơ sở KCB trên địa bàn
68
huyện Hoa Lư giai đoạn 2010-2014
3.9
Tình hình chi trả BHYT tại cơ quan BHXH huyện Hoa Lư
69
Sơ đồ tổ chức bộ máy BHXH Huyện Hoa Lư
47
3.1
Nhận thức sự cần thiết tham gia BHYT của doanh nghiệp
73
3.2
Nhận thức bản chất BHYT
75
3.3
Biểu đồ nhận thức của người lao động về mức đóng BHYT
76
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Lý do chọn đề tài
Bảo hiểm y tế là một trong các nội dung thuộc an sinh xã hội, đặc biệt có ý
nghĩa đối với cuộc sống con người. Việt Nam đã thực hiện BHYT gần 20 năm và
- Phân tích làm rõ các nhân tố ảnh hưởng đến việc thực hiện BHYT
toàn dân tại huyện Hoa Lư tỉnh Ninh Bình
- Đề xuất giải pháp nhằm thực hiện BHYT toàn dân tại huyện Hoa Lư
tỉnh Ninh Bình.
3. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu các vấn đề về bảo hiểm y tế nông
thôn trên địa bàn huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình
Phạm vi không gian: nghiên cứu trên địa bàn huyện Hoa Lư tỉnh Ninh Bình.
Phạm vi về thời gian: Đánh giá thực trạng thực hiện BHYT từ năm
2010 đến năm 2014 và đề xuất định hướng giải pháp thực hiện BHYT toàn
dân đến năm 2020
4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Các kết quả nghiên cứu, giải pháp và một số kiến nghị của đề tài có thể
được sử dụng làm tài liệu tham khảo tại các cơ sở đào tạo và nghiên cứu khoa
học, các cơ quan xây dựng pháp luật khi nghiên cứu nhằm sửa đổi, bổ sung,
hoàn thiện pháp luật bảo hiểm y tế, đồng thời giúp cho bảo hiểm xã hội hội
huyện Hoa Lư nghiên cứu, vận dụng nhằm thực hiện tốt hơn chính sách về
bảo hiểm y tế nói chung và thu bảo hiểm y tế nói riêng.
5. Kết cấu luận văn:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn có
kết cấu 3 chương sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận thực tiễn về bảo hiểm y tế
Chương 2; Đặc điểm huyện Hoa Lư tỉnh Ninh Bình và phương pháp
nghiên cứu
Chương 3: Kết quả nghiên cứu
3
Chương 1
Người có thẻ BHYT khi thực hiện KCB tại nơi đăng ký ban đầu hoặc
chuyển viện đúng tuyến chuyên môn kỹ thuật và đã thực hiện đúng, đủ thủ tục
khám chữa bệnh BHYT hoặc đến khám, chữa bệnh trong trường hợp cấp cứu.
Người đi khám chữa bệnh BHYT đi khám chữa bệnh không đúng cơ sở
KCB ban đầu hoặc khám bệnh, chữa bệnh không theo tuyến chuyên môn kỹ
thuật ( trừ trường hợp cấp cứu) thì được thanh toán theo tỷ lệ % mức hưởng,
tùy theo phân hạng bệnh viện.
KCB tại cơ sở không ký hợp đồng khám chữa bệnh BHYT, hoặc KCB
tại cơ sở y tế có ký hợp đồng KCB nhưng không đầy đủ thủ tục. Được thanh
toán theo chi phí thực tế nhưng tối đa không quá khung quy định tại phụ lục
02 thông tư 09.
KCB tại nước ngoài được thanh toán theo chi phí thực tế nhưng tối đa
không quá khung quy định tại phụ lục 02 thông tư 09.
KCB tại các cơ sở y tế ngoài công lập được quỹ BHYT thanh toán theo
mức hưởng quy định, theo giá dịch vụ áp dụng đối với cơ sở KCB công lập
tương đương với tuyến chuyên môn kỹ thuật.
Những trường hợp bị tai nạn giao thong được xác định là tai nạn lao
đông và không vi phạm pháp luật được quỹ BHYT thanh toán
Tham gia BHYT liên tục từ 36 tháng trở lên được hưởng quyền lợi khi
điều trị ung thư, chi phí kỹ thuật cao.
Thẻ BHYT có giá trị kể từ ngày đóng BHYT. Cơ quan BHXH cấp thẻ
tối thiểu 12 tháng/ lần. Trẻ em dưới 6 tuổi, thẻ BHYT có giá trị sử dụng đến
ngày 72 tháng tuổi.
Bảo hiểm y tế tự nguyện: Là hình thức bảo hiểm do nhà nước thực
hiện không vì mục đích lợi nhuận. Người dân tự nguyện tham gia để được
chăm sóc sức khỏe khi đau ốm, bệnh tật từ quỹ bảo hiểm y tế.
5
6
hiểm, trước hết mọi người lao động, có việc làm, có thu nhập đều phải có
nghĩa vụ đóng góp vào hệ thống BHYT. Mức đóng phục thuộc vào khả năng
kinh tế của người lao động. Điều đó hoàn toàn không có sự phân biệt cho dù
họ là công chức nhà nước, là người lao động phụ thuộc ( người có quan hệ
giữa chủ sử dụng lao động và người lao động) ; người lao động tự tạo việc
làm, người lao động tự do, người lao động trong các khu vực nông, lâm ngư
nghiệp… Sự khác biệt chỉ là ở chỗ mức độ đóng góp và phương thức tham
gia BHYT. Những thành viên thuộc hộ gia đình những người lao động đó(
người ăn theo) cũng sẽ tham gia BHYT. Tiếp đến là nhóm đối tượng gồm học
sinh, sinh viên các trường đại học cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và các
trường dạy nghề và cuối cùng là những nhóm người nhận trợ cấp xã hội,
những người thuộc diện nghèo, người về hưu và những người hưởng chế độ
ưu đãi khác của xã hội. Tuy nhiên với những nhóm người tham gia BHYT
này tùy thuộc vào mỗi nhà nước có các hình thức đóng góp riêng theo những
mức độ khác nhau từ nguồn ngân sách hoặc tách biệt riêng ra khỏi hệ thống
BHYT. Đồng thời với hệ thống BHYT là phải có hệ thống tương ứng, đồng
bộ các cơ sở cung ứng dịch vụ y tế, cung ứng thuôc men nhằm đáp ứng đầy
đủ những quyền lợi được hưởng cho mọi người tham gia BHYT khi ốm đau.
Mọi thành viên của mạng lưới BHYT đều được bình đẳng khi KCB theo chế
độ hiện hành.
1.1.2. Đặc điểm của BHYT
Từ những góc độ chuyên sâu, khái niệm BHYT cũng được tiếp cận với
những nét riêng biệt:
- Dưới góc độ kinh tế: BHYT được hiểu là sự hợp nhất tài chính của số
lượng lớn những người tham gia nhằm đối phó với một loại rủi ro là bệnh tật.
Nguồn tài chính do nhiều người đóng góp nên sẽ đảm bảo chi trả chi phí y tế
cho những người không may gặp rủi ro bởi nó tạo ra một quỹ thống nhất.
8
BHYT là chính sách xã hội lớn mà ở đó Nhà nước giữ vai trò là người tổ
chức, quản lý và bảo trợ.
- Dưới góc độ pháp lý: BHYT được coi là quyền quan trọng của mỗi cá
nhân trong xã hội trong việc bảo vệ sức khoẻ của bản thân và cả cộng đồng.
Bởi lẽ một trong những quyền thiêng liêng của con người được các tuyên
ngôn nhân quyền khẳng định và được pháp luật của các quốc gia thừa nhận đó
là quyền được chăm sóc y tế. Đa số các nước đều ghi nhận trong hiến pháp và
cụ thể hoá quyền này bằng việc xây dựng và tổ chức thực hiện hệ thống
BHYT với mục đích chăm sóc sức khoẻ cho toàn xã hội. Theo Điều 39 Hiến
pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 (sửa đổi, bổ sung
năm 2001): “ Nhà nước đầu tư, phát triển và thống nhất quản lý quản lý sự
nghiệp bảo vệ sức khoẻ của nhân dân,…thực hiện bảo hiểm y tế, tạo điều kiện
cho mọi người dân được chăm sóc sức khoẻ”. Và Điều 61 Hiến pháp quy
định: công dân có quyền được hưởng chế độ bảo vệ sức khoẻ…”.
Nhìn từ các góc độ như trên, ta có thể thấy BHYT có những đặc điểm sau:
Một là, BHYT có phạm vi đối tượng rất rộng, bao gồm toàn thể thành
viên trong xã hội không phân biệt giới tính, tôn giáo, địa vị kinh tế-xã hội,
tuổi tác, tình trạng sức khoẻ…Bởi lẽ, rủi ro về sức khoẻ có thể xảy đến với tất
cả mọi người ở mọi lứa tuổi, giới tính, ở mọi điều kiện, hoàn cảnh và môi
trường sống, tại bất kỳ thời điểm nào. Chăm sóc sức khỏe là nhu cầu tất yếu
của mỗi con người. Mặt khác, BHYT được coi là quyền quan trọng của con
người nên tất cả mọi người, ai cũng có quyền tham gia BHYT. Tùy từng điều
kiện kinh tế xã hội cụ thể mà pháp luật mỗi quốc gia có những quy định khác
nhau về đối tượng tham gia và hình thức tham gia. Đặc trưng về phạm vi đối
tượng là điểm cơ bản phân biệt BHYT với các chế độ khác trong hệ thống an
sinh xã hội. Có thể thấy, trong chế độ BHXH, trợ giúp xã hội hay ưu đãi xã
thuộc vào thời gian đóng mà phụ thuộc vào mức độ bệnh tật và phụ thuộc vào
nhiều khả năng cung ứng dịch vụ y tế của cơ sở khám chữa bệnh. Về nguyên
10
tắc, người tham gia BHYT sẽ đóng một mức phí được xác định trước nhưng
nếu họ bị đau ốm hay bệnh tật sẽ được khám chữa bệnh cho đến khi khoẻ
mạnh trở lại. Sự đa dạng về các loại bệnh tật, nhu cầu cụ thể của mỗi bệnh
nhân và khả năng cung cấp dịch vụ y tế của cơ sở y tế (trình độ khoa học kỹ
thuật, trình độ chuyên môn, trang thiết bị y tế, thuốc men…) chính là nguyên
nhân làm cho các chi phí y tế rất khó xác định trước cho người tham gia
BHYT. Phụ thuộc vào các điều kiện kinh tế xã hội của mình mà các nước giới
hạn và phạm vi thanh toán của BHYT. Ở các nước phát triển thường quy định
hưởng chế độ chi phí y tế 100% và phạm vi đáp ứng nhu cầu cao, kể cả các
yêu cầu về thẩm mỹ, dị tật bẩm sinh, các bệnh xã hội,… Ở các quốc gia có
điều kiện kinh tế kém phát triển hơn hoặc trong thời kỳ đầu triển khai thực
hiện BHYT thường quy định có thêm sự hỗ trợ của người bệnh với tỷ lệ nhỏ
và giới hạn nhiều hơn về phạm vi dân cư.
Bốn là, quan hệ BHYT là mối quan hệ diễn ra giữa ba bên gồm bên thực
hiện BHYT, bên tham gia BHYT và cơ sở khám chữa bệnh. Trong đó cơ quan
BHXH là chủ thể thực hiện BHYT cho người tham gia. Người tham gia BHYT
vừa có nghĩa vụ đóng phí BHYT, vừa là đối tượng trực tiếp thụ hưởng các dịch
vụ khám chữa bệnh khi sự kiện BHYT xảy ra theo quy định của pháp luật. Cơ sở
khám chữa bệnh là tổ chức thực hiện khám chữa bệnh và cung cấp các dịch vụ y
tế cho người bệnh BHYT. Khi người tham gia BHYT sử dụng các dịch vụ khám
chữa bệnh, họ sẽ đến các cơ sở y tế và các chi phí liên quan sẽ được cơ quan
thực hiện BHYT chi trả toàn bộ hoặc một phần theo quy định. Như vậy, quan hệ
BHYT vừa là loại hình dịch vụ bảo hiểm, vừa là loại hình dịch vụ y tế.
Hệ thống thực hiện BHYT ở các nước được tổ chức theo các mô hình
Hai là, BHYT có vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế và thúc
đẩy tiến bộ xã hội.
Ngoài tính xã hội của mình BHYT còn thể hiện tính kinh tế của mình.
BHYT góp phần quan trọng trong việc phát trển kinh tế, thúc đẩy tiến bộ xã
12
hội. Một xã hội dù phát triển đến đâu thì cũng chỉ được coi là một xã hội tiến
bộ khi có mạng lưới y tế tốt và mọi người dân khoẻ mạnh. Sức khoẻ là tài sản
quý nhất của mỗi người. Khi bị ốm đau hay mắc bệnh, con người không chỉ bị
suy giảm sức khoẻ, giảm khả năng lao động mà còn ảnh hưởng đến tinh thần
của họ và những người thân. Tham gia BHYT, người lao động và thành viên
gia đình họ, ai cũng được chăm sóc sức khoẻ, giảm ốm đau, khỏi bệnh tật.
Khi có BHYT, người tham gia được chăm sóc sức khỏe. Với thể chất và tinh
thần khoẻ mạnh, người lao động mới có thể đạt được kết quả cao nhất trong
công việc, năng suất lao động tăng, thu lợi về cho bản thân, gia đình, cho tổ
chức và cho cả nền kinh tế quốc dân. Mặt khác, đối với các nước đang phát
triển như Việt Nam, nhờ có BHYT mà nhà nước giảm tải được gánh nặng đối
với sự nghiệp chăm sóc sức khoẻ toàn dân, ngân sách quốc gia được tập trung
hơn cho phát triển kinh tế. Ngoài ra, với tư cách là một quỹ tiền tệ, quỹ
BHYT được pháp luật nhiều nước (trong đó có Việt Nam) cho phép sử dụng
nguồn tài chính nhàn rỗi để đầu tư sinh lời, tăng thêm nguồn thu của quỹ, từ
đó quay lại phục vụ cho các hoạt động của BHYT. Qua quá trình tồn tại và
phát triển, BHYT ngày càng có nhiều đóng góp quan trọng vào sự ổn định và
tiến bộ xã hội.
Ba là, BHYT mang tính nhân văn, xã hội sâu sắc.
Rủi ro về sức khoẻ thường đến bất ngờ và không loại trừ ai. Đối với đa
số các thành viên trong xã hội, chi phí y tế thực sự là một gánh nặng mà nhiều
khi họ không thể trả nổi. Vì vậy đã có không ít các trường hợp do hoàn cảnh
các hoạt động y tế của mình. Các hoạt động BHYT với mục tiêu chăm sóc sức
khoẻ và bảo vệ con người trước những tác động tiêu cực của môi trường sống.
Khi có được sức khoẻ tốt nhất, con người có điều kiện để tiếp thu và phát
triển trí thức cho mình nhằm xây dựng, nâng cao chất lượng cuộc sống của
mình ngày càng tốt hơn.
Các hoạt động BHYT là phần không thể thiếu được trong xã hội loài
người, con người luôn luôn có nhu cầu chăm sóc sức khoẻ không những của
14
bản thân mà của cả gia đình mình. Không một ai lại sống mà luôn luôn khoẻ
mạnh cả bởi sự thay đổi thường xuyên của môi trường sống cùng với sự vận
động của thế giới tự nhiên. Các hoạt động y tế mà con người sáng tạo ra cũng
chính nhằm mục đích điều hoà những tác động không tốt của môi trường sống
tới con người.
BHYT mang tính nhân văn, xã hội sâu sắc. Chính sách BHYT là nhằm
chia sẽ của cả cộng đồng với mỗi thành viên trong xã hội khi họ không may bị
ốm đau, bệnh tật, kể cả trong trường hợp hiểm nghèo. Mức dóng khi tham gia
BHYT là khác nhau, căn cứ trên thu nhập, nhưng việc hưởng BHYT về
nguyên tắt là trên cơ sở mức độ bệnh tật cần điều trị.
BHYT góp phần thực hiện công bằng xã hội, nâng cao chất lượng hiệu
quả trong CSSK. BHYT giúp người dân được tiếp cận với các dịch vụ CSSK
có chất lượng tốt, dựa trên nhu cầu CSSK, có chính sách trợ giúp người nghèo
được KCB khi ốm đau.
Thực hiện BHYT giúp thúc đẩy sự phát triển cơ chế quản lý y tế trong
hoạt động CSSK. Trong nền kinh tế thị trường, cơ chế quản y tế không chỉ còn
thần túy chuyên môn, hành chính mà còn phải điều tiết các mối quan hệ mới
như: quan hệ ba bên giữa người tham gia BHYT, cơ quan BHXH, cơ sơ KCB;
quan hệ cạnh tranh chống độc quyền; hoạt động tài chính; kinh tế y tế…
dài ngày; người từ đủ 80 tuổi trở lên đang hưởng trợ cấp tuất hằng tháng;
c) Cán bộ xã, phường, thị trấn đã nghỉ việc đang hưởng trợ cấp bảo
hiểm xã hội hằng tháng;
d) Người đang hưởng trợ cấp thất nghiệp.
Nhóm 3: Nhóm do ngân sách nhà nước đóng, bao gồm:
a) Sỹ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sỹ quan, binh sỹ quân đội
đang tại ngũ; sỹ quan, hạ sỹ quan nghiệp vụ và sỹ quan, hạ sỹ quan chuyên
môn, kỹ thuật đang công tác trong lực lượng công an nhân dân, học viên công
an nhân dân, hạ sỹ quan, chiến sỹ phục vụ có thời hạn trong công an nhân
16
dân; người làm công tác cơ yếu hưởng lương như đối với quân nhân; học viên
cơ yếu được hưởng chế độ, chính sách theo chế độ, chính sách đối với học
viên ở các trường quân đội, công an;
b) Cán bộ xã, phường, thị trấn đã nghỉ việc đang hưởng trợ cấp hằng
tháng từ ngân sách nhà nước;
c) Người đã thôi hưởng trợ cấp mất sức lao động đang hưởng trợ cấp
hằng tháng từ ngân sách nhà nước;
d) Người có công với cách mạng, cựu chiến binh;
đ) Đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp đương
nhiệm;
e) Trẻ em dưới 6 tuổi;
g) Người thuộc diện hưởng trợ cấp bảo trợ xã hội hằng tháng;
h) Người thuộc hộ gia đình nghèo; người dân tộc thiểu số đang sinh
sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn; người đang sinh sống tại
vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; người đang sinh sống tại
xã đảo, huyện đảo;
i) Thân nhân của người có công với cách mạng là cha đẻ, mẹ đẻ, vợ
các trường hợp:
điều trị nội trú tại bệnh hiểm y tế khi đi khám
+ Đối tượng quy định viện tuyến trung ương.
bệnh, chữa bệnh chuyển
tại các điểm a, d, e, g, h - Hưởng 60% chi phí tuyến điều trị, có hồ sơ
và i nhóm 3.
điều
trị
+ Chi phí cho một lần 01/01/2015
nội
trú
từ chuyển viện của cơ sở
đến khám bệnh, chữa bệnh
khám bệnh, chữa bệnh 31/12/2020; 100% chi
hợp lệ thì:
thấp hơn mức do Chính phí điều trị nội trú từ - Hưởng 100% đối với
phủ quy định và khám 01/01/2021 trong phạm