PHẦN MỞ ĐẦU
Trong những năm vừa qua, cùng với sự thay đổi nhanh chóng của đất nước ta về
tất cả các mặt kinh tế, chính trị, xã hội. Đời sống của người dân không ngừng được
cải thiện, mức sống của đại bộ phận người dân nước ta ngày càng được nâng cao,
điều đó có sự đóng góp không nhỏ của hệ thống y tế nước ta nói chung và Bảo hiểm y
tế (BHYT) nói riêng. Chính sách BHYT đã khẳng định được đường lối đúng đắn của
Đảng và Nhà nước ta trong chăm sóc sức khỏe nhân dân, là một trong những chính
sách chiến lược phát triển chung về kinh tế, xã hội, chính trị, giáo dục, y học và các
lĩnh vực khác của quốc gia.
Bảo hiểm y tế là một chính sách xã hội lớn của Đảng và Nhà nước ta, là một trong
những loại hình Bảo hiểm xã hội (BHXH), có tính cộng đồng sâu sắc, được áp dụng
trong lĩnh vực khám, chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe cho mọi người, không vì mục
đích lợi nhuận, góp phần quan trọng trong thực hiện mục tiêu công bằng xã hội trong
bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe cho nhân dân do Nhà nước tổ chức thực hiện.
Chính vì ý nghĩa to lớn và vai trò quan trọng đối với mỗi cá nhân và cả cộng đồng,
việc tham gia BHYT là nghĩa vụ của mỗi người dân. Tham gia BHYT là phát huy
truyền thống “lá lành đùm lá rách” của dân tộc ta, thể hiện sự hổ trợ tương thân tương
ái trong chăm sóc sức khỏe. Không ai chúng ta tránh được ốm đau, cũng như không
biết khi nào mình sẽ bị bệnh, mức độ nặng hay nhẹ, chi phí điều trị cao hay thấp.
Trong khi giá dịch vụ y tế, các xét nghiệm, thuốc và vật tư y tế ngày càng cao, với
ngân quỹ từng cá nhân sẽ khó bù đắp đủ, nhưng nếu hợp sức lại thành một quỹ dự
phòng chung để giúp trang trải những chi phí lúc ốm đau thì việc bù đắp đó sẽ dễ
dàng và thuận lợi hơn, Hơn nữa, đối với người lao động, BHYT còn liên quan trực
tiếp đến quyền lợi và lợi ích hợp pháp của họ không may phải điều trị tại bệnh viện.
Trong những năm qua, Nhà nước ta đã ban hành và sữa đổi nhiều chính sách quan
trọng về hệ thống BHYT, từ đó đã tạo ra cơ sở pháp lý cần thiết cho sự phát triển của
ngành BHXH, góp phần thực hiện mục tiêu xóa đói giảm nghèo, bảo đảm công bằng
xã hội.
Hiện nay, tỉ lệ người dân tham gia BHYT còn thấp, số người tham gia BHYT tự
nguyện phần lớn đang mắc các bệnh mãn tính hoặc đang có bệnh mới tham gia
BHYT. Bên cạnh đó, mức đóng BHYT còn thấp chưa tương xứng với mức độ gia
- Về mặt kinh tế, xã hội: các quốc gia trên thế giới phải công nhận rằng sự nghèo
khổ của người dân do ốm đau, tai nạn rủi ro… gây ra không chỉ là trách nhiệm của
bản thân cá nhân, gia đình của họ mà còn là trách nhiệm của Nhà nước, của cộng
đồng xã hội. Vì vậy, BHYT là công cụ quan trọng để quản lý xã hội và kênh phân
phối thu nhập hiệu quả nếu trên phương diện kinh tế.
1.1.3. Vai trò của BHYT:
Công tác bảo vệ, nâng cao sức khỏe nhân dân có vai trò quan trọng đối với việc
xây dựng nguồn lực con người, yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế
nhanh và bền vững. Đảng và Nhà nước ta đã nhấn mạnh sức khỏe là vốn quý nhất của
mỗi con người và của xã hội, do đó chính y tế chăm sóc sức khỏe nhân dân có vị trí
hàng đầu trong hệ thống chính sách kinh tế - xã hội của đất nước.
- Phục vụ xã hội:
Với mục tiêu là chính sách an sinh xã hội nên thiết yếu là phục vụ xã hội, phục vụ
cho người dân trong cả nước, những người có hoàn cảnh khó khăn, tương thân tương
ái lẫn nhau…
- Bảo vệ sức khỏe cộng đồng:
Bảo hiểm y tế là chính sách an sinh xã hội, góp phần bảo vệ sức khỏe cho nhân
dân: BHYT sẽ bảo đảm cho những người tham gia BHYT và các thành viên gia đình
họ những khả năng để đề phòng, ngăn ngừa bệnh tật.
- Góp phần thực hiện chính sách an sinh xã hội:
Khi đề ra chính sách nào đó Nhà nước sẽ thông qua nó để thực hiện những mục
đích chính trị tùy theo điều kiện của từng quốc gia. Vì vậy, chính sách BHYT là chính
sách thông qua đó Nhà nước thực hiện an sinh xã hội của mình. Thông qua chính sách
BHYT, những đối tượng, người lao động gặp khó khăn như người nghèo, thương
bệnh binh, Bà mẹ Việt Nam anh hùng, người có công, thân nhân sỹ quan, lực lượng
vũ trang…cũng nhận được những phần ưu đãi.
- Góp phần thực hiện chủ trương xã hội hóa lĩnh vực y tế:
Ngoài việc giúp Nhà nước thực hiện chính sách an sinh xã hội, BHYT còn góp
phần quan trọng trong việc thực hiện chủ trương xã hội hóa lĩnh vực y tế. Chính sách
này tạo khả năng huy động các nguồn lực tài chính cho y tế, đồng thời phát triển đa
- Thứ ba, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế phải theo nguyên tắc có đóng, có hưởng,
quyền lợi tương ứng với nghĩa vụ, có sự chia sẻ giữa các thành viên, bảo đảm công
bằng và bền vững của hệ thống bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế.
- Thứ tư, thực hiện tốt các chế độ, chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế là
trách nhiệm của các cấp ủy đảng, chính quyền, đoàn thể, tổ chức xã hội, doanh nghiệp
và của mỗi người dân.
Chỉ thị số 43-CT/TU của Ban Thường vụ Tỉnh ủy ngày 15/01/2010 về việc “đẩy
mạnh công tác BHYT trong tình hình mới” đã xác định: Tăng cường công tác lãnh
đạo, chỉ đạo của các cấp ủy, chính quyền và sự phối hợp của các ban ngành, mặt trận
tồ quốc, đoàn thể và tổ chức chính trị - xã hội trong triển khai thực hiện chính sách
BHYT, nhất là đẩy mạnh chính sách BHYT tự nguyện trong nhân dân, góp phần đảm
bảo an sinh xã hội và thực hiện công bằng trong chăm sóc sức khỏe nhân dân.
Chương trình hành động số 23-CTr/TU ngày 16/5/2013 của Ban Chấp hành Đảng
bộ tỉnh An Giang về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác BHXH,
BHYT giai đoạn 2012-2020 và chiến lược phát triển ngành BHXH tỉnh An Giang đến
năm 2020.
Để cụ thể quan điểm của Đảng, Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản hướng dẫn
thực hiện, nhằm đẩy mạnh phát triển BHYT toàn dân đến năm 2020:
- Luật BHYT số 25/2008/QH12 ngày 14/11/2008;
- Nghị định số 62/2009/NĐ-CP ngày 27/7/2009 của Chính phủ quy định chi tiết và
hướng dẫn thi hành một số điều của Luật BHYT;
- Quyết định số 538/QĐ-TTg ngày 29/3/2013 của Thủ tướng Chính phủ về phê
duyệt Đề án thực hiện lộ trình tiến tới BHYT toàn dân giai đoạn 2012-2015 và 2020;
- Kế hoạch số 54/KH-UBND ngày 01/8/2013 của Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang
về việc thực hiện Chương trình hành động số 23-CTr/TU của Ban Chấp hành Đảng bộ
tỉnh An Giang về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác BHXH, BHYT
giai đoạn 2012-2020 và chiến lược phát triển ngành BHXH tỉnh An Giang đến năm
2020;
- Kế hoạch của UBND huyện Châu Thành số 106/KH-UBND v ề việc Phát triển
BHYT huyện Châu Thành giai đoạn 2011-2015;
GDP bình quân 12,4%. GDP bình quân đầu người đến năm 2012 là 27 triệu đồng. Cơ
cấu sản xuất: Nông – Lâm – Thuỷ sản chiếm 40,94%; Công nghiệp, xây dựng chiếm
12,55%; Thương mại – Dịch vụ chiếm 46,51% .
Về sản xuất nông nghiệp, Châu Thành là huyện thuần nông, cây lúa chiếm chủ
lực đến 97,8% diện tích đất sản xuất đất nông nghiệp, còn lại là hoa màu như: đậu,
bắp, khoai, rau quả, …Chăn nuôi gia súc, gia cầm: trâu, bò, heo, gà, vịt, …Chăn nuôi
thủy sản: tôm, cá, đặc biệt là cá tra mang lại lợi ích kinh tế cao.
Về công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp đạt giá trị sản xuất 1.599 tỷ đồng đến
năm 2012, có 02 làng nghề (rập chuột An Châu, may mùng Bình Hòa), 04 hợp tác
xã nông nghiệp; Về thương mại – dịch vụ đạt giá trị sản xuất 4.071 tỷ đồng đến năm
2012, huyện xác định là mũi đột phá để phát triển, nên có nhiều giải pháp tích cực để
xây dựng kết cấu hạ tầng và khuyến khích phát triển cơ sở, phát triển doanh nghiệp
vừa và nhỏ.
Dân số huyện Châu Thành đến năm 2012 là 170.817 người, chiếm 7,93% dân
số của tỉnh An Giang, với mật độ dân số khá cao 481 người/km2. Trong đó nữ 85.083
người, số người trong độ tuổi lao động là 113.407 người. Dân cư Châu Thành bao
gồm các dân tộc: Kinh, Chăm, Hoa, Kh’mer, trong dân tộc kinh chiếm đa số tỷ lệ
95,64%. Có các tôn giáo gồm Phật giáo, Công giáo, Hòa hảo, Hồi giáo, Cao đài, Tinh
lành, Hiếu nghĩa, Bửu sơn kỳ hương, trong đó đạo Phật giáo Hòa hảo chiếm tỷ lệ
cao nhất 52,23 %, hơn 78% lực lượng lao động vẫn còn tập trung chủ yếu vào ngành
nông, lâm, thủy sản.
2.2. Thực trạng công tác phát triển BHYT huyện Châu Thành từ năm 2011 –
2013
2.2.1. Công tác triển khai
BHXH huyện tham mưu với Thường trực Huyện ủy, UBND huyện chỉ đạo các
ngành, các cấp tổ chức thực hiện Kế hoạch phát triển BHYT toàn dân huyện Châu
Thành cụ thể như sau:
- UBND huyện Châu Thành ban hành kế hoạch số 106/KH-UBND về việc phát
triển BHYT huyện Châu Thành giai đoạn 2011-2015 và Kế hoạch số 164/KH-UBND
ngày 07/10/2013 về việc thực hiện Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 22/11/2012 về
cầu khách quan trong xã hội. Điều đó thể hiện sự đúng đắn và phù hợp trong chính
sách về BHYT của Đảng và Nhà Nước.
Tình hình thực hiện BHYT ở địa phương đã có nhiều chuyển biến lớn, số lượng
người tham gia BHYT trong huyện đã tăng rất nhanh. Cụ thể như sau:
Đối tượng Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013
Bắt buộc 3.624 người 4.294 người 4.635 người
Chính sách 2.278 người 4.011 người 4.228 người
Cận nghèo 8.349 người 9.118 người 9.136 người
Người nghèo 11.701 người 9.373 người 7.956 người
Trẻ em dưới 6 tuổi 17.415 người 17.739 người 18.750 người
Học sinh 14.254 người 15.162 người 16.961 người
Tự nguyện 15.936 người 23.234 người 24.474 người
Tổng cộng 73.557 người 82.931 người 86.140 người
- Năm 2011 số người tham gia BHYT đạt 43.06% dân số huyện;
- Năm 2012 số người tham gia BHYT đạt 48.54% dân số huyện;
- Năm 2013 số người tham gia BHYT đạt 50,43% dân số huyện;
Đến ngày 07/10/2013 Ủy ban nhân dân huyện Châu Thành Kế hoạch số 164/KH-
UBND về việc thực hiện Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 22/11/2012 về tăng cường
sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác BHXH, BHYT giai đoạn 2012 – 2020.
Trong năm 2013 ngân sách nhà nước đã hổ trợ đóng 100% giá trị thẻ BHYT cho
30.934 người (trẻ em dưới 6 tuổi, người già trên 80 tuổi, người có công, người thuộc
hộ nghèo và đối tượng bảo trợ xã hội); số được hổ trợ đóng 50%, quỹ vận động hổ
trợ 50% (người cận nghèo) là 9.136 người; số được hổ trợ đóng 30% (học sinh) là
16.961 người . Số người tham gia bảo hiểm bắt buộc (cán bộ, công chức, viên chức,
người lao động) trích đóng từ tiền lương và thu nhập là 4.635 người; số người tham
gia BHYT tự nguyện (nhân dân đóng 100%) là 24.474 người.
- Tổng số thu năm 2011 là : 18.827.608.916 đồng.
- Tổng số thu năm 2012 là : 21.808.393.863 đồng.
- Ước thu năm 2013 là : 24.918.308.942 đồng.
Đến nay toàn huyện có 14 cơ sở khám chữa bệnh thực hiện khám chữa bệnh
- Công tác tuyên truyền vận động phong phú, đa dạng, số người được tiếp cận
thông tin về chính sách BHYT ngày càng nhiều, người dân đã biết được ý nghĩa,
quyền lợi khi tham gia BHYT. Bước đầu một bộ phận khá lớn nhân dân ở các xã vùng
sâu đã tiếp cận được với các dịch vụ khám chữa bệnh BHYT.
- Công tác phối hợp thực hiên của các cấp , các ngành trong triển khai, tổ chức
thực hiện chính sách BHYT ngày càng chặt chẽ hơn, các ngành đã thực hiện khá tốt
các nhiệm vụ được giao. Đặc biệt là vai trò của ngành Y tế và BHXH, đã tổ chức tốt
công tác vận động, phát triển đối tượng, quản lý Quỹ BHYT, tổ chức khám chữa bệnh
cho các đối tượng tham gia BHYT.
b) Nguyên nhân:
- Nghị quyết HĐND tỉnh và Quyết định của UBND tỉnh, Kế hoạch của UBND
huyện ban hành đã tạo ra cơ sở pháp lý và định hướng hết sức quan trọng; trong đó,
đã hình thành lộ trình, nêu ra những chỉ tiêu cụ thể để các cấp, các ngành xây dựng kế
hoạch và tổ chức thực hiện.
- Chính sách BHYT ngày càng có vai trò hết sức quan trọng trong việc đảm bảo an
sinh xã hội, được các cấp, các ngành quan tâm thực hiện.
- BHYT ngày càng khẳng định tính ưu việt và trở thành nhu cầu không thể thiếu
được trong đời sống nhân dân.
- Chính phủ đã triển khai công việc hổ trợ toàn phần hoặc một phần cho các nhóm
đối tượng mua BHYT theo quy định của pháp luật; HĐND tỉnh đã thông qua Nghị
quyết, UBND tỉnh đã có Quyết định hổ trợ cho một số đối tượng mua BHYT phù hợp
với đặc thù của địa phương.
- Các cấp, các ngành đã có nhiều cố gắng trong công tác phối hợp tổ chức triển
khai và thực hiện. Ngành y tế và BHXH đã có nhiều cố gắng khắc phục khó khăn, nỗ
lực vươn lên đáp ứng cơ bản được tình hình phát triển nhanh về số người tham gia
BHYT.
- Luật BHYT được ban hành ngày 14/11/2008 đã tạo hành lang pháp lý trong triển
khai thực hiện, Quyết định của UBND tỉnh về BHYT trên địa bàn tỉnh trước đây nay
đã được luật BHYT điều chỉnh.
2.3.2. Những mặt hạn chế, nguyên nhân:
phân biệt đối xử đối với đối tượng có thẻ BHYT, tạo ra sự bức xúc, phản cảm đối với
người bệnh.
- Công tác phối hợp của các cấp, các ngành trong triển khai chính sách BHYT có
nơi, có lúc chưa tốt, còn nặng nề về hình thức, ít chú trọng chất lượng, hiệu quả. Một
số cấp ủy, chính quyền địa phương chưa quan tâm đúng mức trong công tác lãnh chỉ
đạo thực hiện.
- Quỹ BHYT liên tục bội chi ( năm 2011 bội chi 1.542.306.378 đồng, năm 2012
bội chi 2.979.001.527 đồng) và ước bội chi năm 2013 là 6.364.854.868 đ đã gây khó
khăn trong thanh toán và cân đối quỹ.
b) Nguyên nhân:
- Cuộc khủng hoảng, suy thoái kinh tế thế giới tác động mạnh mẽ đến nền kinh
tế huyện nhà, đời sống nhân dân gặp khó khăn, một bộ phận nhân dân gặp khó khăn
không có khả năng tài chính để mua BHYT.
- Đầu tư phát triển cơ sở vật chất, trang thiết bị, nguồn nhân lực phục vụ khám
chữa bệnh chưa đáp ứng tốt nhu cầu của các đối tượng tham gia BHYT.
- Quy chế phối hợp giữa các cấp, các ngành có liên quan chưa rõ ràng, nhất là sự
phối hợp giữa ngành Y tế và BHXH còn nhiều lúng túng trong xử lý các tình huống
mới phát sinh.
- Một số quy định về mức đóng, giá dịch vụ, giá thuốc, mức hưởng, điều kiện chi
trả, thanh toán… chưa hợp lý, chậm sửa đổi.
- Nhận thức về BHYT của một bộ phận nhân dân chưa đúng, chưa có thói quen
phòng xa và ý thức cùng chia sẻ cộng đồng, chỉ khi nào có bệnh mới tham gia.
Chương 3:
MỤC TIÊU, GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH PHÁT TRIỂN BẢO HIỂM
Y TẾ TOÀN DÂN Ở HUYỆN CHÂU THÀNH ĐẾN NĂM 2020
3.1. Mục tiêu
Từ nay đến năm 2020 phấn đấu thực hiện thắng lợi mục tiêu chung của Đảng
và Kế hoạch số 164/KH-UBND ngày 07/10/2013 của Ủy ban nhân dân huyện Châu
Thành về việc thực hiện Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 22/11/2012 về tăng cường sự
lãnh đạo của Đảng đối với công tác BHXH, BHYT giai đoạn 2012 – 2020. Cụ thể:
Ủy ban nhân dân huyện tiếp tục ban hành các văn bản chỉ đạo các cơ quan, ban,
ngành tăng cường công tác kiểm tra, đánh giá và đôn đốc thực hiện Kế hoạch số 54/
KH-UBND ngày 01/8/2013 của Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang về việc thực hiện
Chương trình hành động số 23-CTr/TU của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh An Giang
về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác BHXH, BHYT giai đoạn 2012-
2020 và chiến lược phát triển ngành BHXH tỉnh An Giang đến năm 2020 và Kế
hoạch số 164/KH-UBND ngày 07/10/2013 của Ủy ban nhân dân huyện Châu Thành
về việc thực hiện Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 22/11/2012 về tăng cường sự lãnh
đạo của Đảng đối với công tác BHXH, BHYT giai đoạn 2012 – 2020, coi đây là một
trong những nhiệm vụ trọng tâm trong thực hiện chính sách, pháp luật về an sinh xã
hội.;
Hàng năm, Hội đồng nhân dân các cấp cần xây dựng Nghị quyết về thực hiện
chính sách BHYT tại các địa phương, đưa chỉ tiêu thực hiện BHYT thành chỉ tiêu
bắt buộc về kinh tế - xã hội của mỗi địa phương;Ủy ban nhân dân các xã, thị trấn
phải đưa mục tiêu, kế hoạch thực hiện lộ trình BHYT toàn dân vào các chương trình
phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, thực hiện nghiêm các tiêu chí phát triển
BHYT trong chương trình phát triển nông thôn mới; chỉ đạo các cơ quan, ban, ngành
chức năng thuộc xã, thị trấn, trong phạm vi nhiệm vụ quyền hạn của mình thực hiện
nghiêm các quy định của Luật Bảo hiểm y tế.
Các đoàn thể, các tổ chức xã hội theo chức năng, nhiệm vụ tuyên truyền, vận động
các hội viên tham gia BHYT, đồng thời tăng cường huy động các nguồn lực của xã
hội, của mỗi cá nhân để hỗ trợ cộng đồng tham gia BHYT.
3.2.3. Tăng tỷ lệ bao phủ BHYT
Đối với các nhóm đối tượng đã đạt tỷ lệ bao phủ trên 90% thì tiếp tục duy trì tỷ lệ
bao phủ và các giải pháp nâng cao chất lượng khám chữa bệnh, tăng cường tiếp cận
các dịch vụ y tế; đồng thời, tiếp tục thực hiện các giải pháp tuyên truyền chính sách,
pháp luật về BHYT.
Đối với một số nhóm đối tượng có tỷ lệ tham gia BHYT thấp, cùng với giải pháp
chung như tăng cường công tác tuyên truyền chính sách, pháp luật về BHYT, vận
động tham gia, tăng cường tính hấp dẫn của BHYT, tổ chức các đại lý BHYT bảo
thông tin, tuyên truyền, vận động, giáo dục với nhiều hình thức để nâng cao nhận thức
của cấp ủy đảng, chính quyền, các cơ quan, tổ chức, đoàn thể và mọi người dân về
ý nghĩa, tầm quan trọng của chính sách BHYT và nghĩa vụ của mỗi người dân trong
tham gia BHYT và thực hiện chính sách BHYT. Tăng cường trách nhiệm của các cấp
ủy đảng, chính quyền các cấp trong việc lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức triển khai thực
hiện chính sách BHYT, triển khai thực hiện Luật Bảo hiểm y tế; Đẩy mạnh công tác
thông tin, tuyên truyền, vận động rộng rãi trong nhân dân về: Vai trò của BHYT trong
phát triển kinh tế - xã hội và đảm bảo an sinh xã hội; lợi ích của BHYT đối với mỗi
người dân và với toàn xã hội; cách thức tham gia BHYT thông qua các đại lý BHYT,
người hoặc tổ chức đại điện, hoặc tại cơ quan Bảo hiểm xã hội; sử dụng thẻ BHYT
hợp lý; tiếp cận cơ sở y tế theo tuyến chuyên môn kỹ thuật.
3.2.6. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra
Các phòng, ban, ngành, Ủy ban nhân dân các cấp thực hiện nghiêm các biện pháp
xử phạt theo Nghị định số 92/2011/NĐ-CP ngày 17/10/2011 của Chính phủ quy định
về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực BHYT, cụ thể: Phòng Y tế thực hiện
chức năng thanh tra liên ngành về BHYT; thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm và giải
quyết khiếu nại, tố cáo về BHYT trên phạm vi toàn huyện; Ủy ban nhân dân các xã,
thị trấn có trách nhiệm thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm và giải quyết khiếu nại, tố
cáo về BHYT trên địa bàn.
3.2.7. Nâng cao năng lực quản lý nhà nước và hệ thống tổ chức thực hiện BHYT
- Công tác quản lý nhà nước về BHYT: Tăng cường năng lực quản lý nhà nước về
BHYT; củng cố, nâng cao năng lực bộ máy thực hiện BHYT tại huyện; tăng cường
đào tạo nâng cao năng lực, chất lượng chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ làm
công tác BHYT.
- Công tác tổ chức thực hiện chính sách BHYT: Tổ chức các đại lý thu BHYT
nhằm phát triển đối tượng tham gia BHYT: Tiếp tục ký hợp đồng đại lý thu với Hiệu
trưởng các trường học để làm nhiệm vụ đại lý thu BHYT tế học sinh của trường; phối
hợp với Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn để thực hiện việc vận động tuyên truyền
và thu BHYT đối với những người tự nguyện tham gia BHYT; Tiếp tục hỗ trợ chi phí
phát hành thẻ BHYT đến tay đối tượng thụ hưởng đối với những đối tượng được ngân
đủ về vị trí, tầm quan trọng của BHYT trong hệ thống an sinh xã hội; các chính sách
BHYT chưa bắt kịp với sự phát triển kinh tế - xã hội và sự thay đổi mô hình bệnh tật,
công tác tuyên truyền, phồ biến và vận động thực hiện chính sách BHYT chưa thường
xuyên, hiệu quả chưa cao; việc khám, chữa bệnh BHYT còn nhiều bất cập, chưa thể
hiện tính ưu việt của BHYT; năng lực tổ chức, quản lý của cán bộ BHYT còn yếu;
sự phối hợp liên ngành Y tế - BHXH – Tài chính trong hướng dẫn, kiểm tra, giám sát
việc thực hiện chính sách BHYT chưa tốt, hiệu quả thực hiện chủ trương xã hội hoá
trong lĩnh vực y tế chưa cao.
Để thực hiện tốt Kế hoạch đề ra, các cấp, các ngành, đặc biệt là ngành Y tế và
BHXH cần nổ lực phấn đấu, tăng cường công tác tham mưu cho cấp Ủy và chính
quyền các cấp tìm giải pháp phù hợp để đẩy mạnh, phát triển BHYT toàn dân ở huyện
nói riêng và cả nước nói chung, góp phần hoàn thành mục tiêu mà Đảng và Nhà nước
đề ra.
2. KIẾN NGHỊ
- Ngành Y tế cần đầu tư về con người và các trang thiết bị cho y tế cơ sở (trạm y
tế), vì trạm y tế là nơi chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho nhân dân, là nơi tạo niềm tin
cho người dân, người tham gia BHYT.
- Tạo điều kiện để ngành BHXH nâng cao năng kực quản lý, tăng cường bổ sung
cán bộ cả về chất lượng và số lượng. Có cơ chế khuyến khích cán bộ trong công tác
vận động người dân tham gia BHYT.
- Việc thực hiện BHYT toàn dân không chỉ là trách nhiệm của ngành BHXH mà
còn là trách nhiệm của cấp uỷ Đảng, chính quyền địa phương. Vấn đề này cần thể
hiện trong các văn bản chỉ đạo của Đảng và Nhà nước./.