ii
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, tôi luôn nhận được sự giúp đỡ và chỉ bảo
tận tình của Thầy giáo PGS.TS. Trần Hữu Dào, Trường Đại học Lâm nghiệp.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đối với sự quan tâm và động
viên của Thầy cô giáo Khoa Sau Đại học, Trường Đại học Lâm nghiệp.
Xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè đã luôn quan tâm,
giúp đỡ tôi trong quá trình làm đề tài.
Cuối cùng, tôi xin chúc quý Thầy, Cô dồi dào sức khỏe và thành công
trong sự nghiệp cao quý. Đồng kính chúc các bạn cùng lớp luôn mạnh khỏe
và đạt được nhiều thành công trong công việc.
Tôi xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày 20 tháng 10 năm 2015
Tác giả
Trần Đức Bình
iii
MỤC LỤC
LỜI CẢM ĐOAN ........................................................................................... i
LỜI CẢM ƠN ................................................................................................ ii
DANH MỤC CHỮ KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT .................................. v
DANH MỤC BẢNG ..................................................................................... vi
DANH MỤC BIỂU ĐỒ ............................................................................... vii
MỞ ĐẦU ....................................................................................................... 1
1. Sự cần thiết của vấn đề nghiên cứu ......................................................... 1
2.1. Mục tiêu chung ................................................................................. 2
2.2. Mục tiêu cụ thể ................................................................................. 2
iv
2.2.5. Phương pháp xử lý và phân tích số liệu........................................ 60
Chương 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN ........................... 61
3.1. Thực trạng về thu nhập của Hộ ở Việt Nam và của Hộ ở Quảng Xương 61
3.1.1. Thực trạng thu nhập của Hộ ở Việt Nam...................................... 61
3.1.2. Thực trạng về thu nhập của Hộ nông dân huyện Quảng Xương ... 63
3.2. Thực trạng thu nhập của Hộ khảo sát ................................................. 65
3.2.1. Về tuổi, trình độ học vấn, trình độ chuyên môn của chủ hộ và phân
loại hộ.................................................................................................... 65
3.2.2. Về nhân khẩu và lao động của Hộ ................................................ 69
3.2.3. Về đất đai của hộ ......................................................................... 69
3.2.4. Về nguồn vốn của hộ ................................................................... 71
3.2.5. Tổng nguồn thu của các hộ khảo sát ............................................ 72
3.2.6. Tổng chi phí sản xuất của các hộ khảo sát .................................... 73
3.2.7. Thu nhập của hộ khảo sát trên địa bàn huyện Quảng Xương ........ 75
3.3. Một số yếu tố ảnh hưởng đến việc nâng cao thu nhập cho Hộ ............ 77
3.3.1. Ảnh hưởng của lao động .............................................................. 77
3.3.2. Ảnh hưởng bởi trình độ chuyên môn của chủ hộ .......................... 78
3.3.3. Ảnh hưởng bởi yếu tố đất đai ....................................................... 78
3.3.4. Ảnh hưởng bởi yếu tố vốn ........................................................... 79
3.3.5. Ý kiến của Hộ khảo sát về yếu tố ảnh hưởng tích cực, tiêu cực đến
thu nhập của Hộ ..................................................................................... 81
3.3.6. Đánh giá chung về một số yếu tố ảnh hưởng đến việc nâng cao thu
nhập của Hộ trên địa bàn huyện Quảng Xương...................................... 87
3.4. Một số giải pháp nhằm nâng cao thu nhập cho Hộ nông dân trên địa
bàn huyện Quảng Xương .......................................................................... 88
3.4.1. Định hướng chung ....................................................................... 88
3.4.2. Một số giải pháp nhằm nâng cao thu nhập của hộ trên địa bàn
huyện Quảng Xương.............................................................................. 90
CPSX
Chi phí sản xuất
HĐSX
Hoạt động sản xuất
HTX
Hợp tác xã
KT-XH
Kinh tế - xã hội
LĐ
Lao động
LĐNN
Lao động nông nghiệp
NHCSXH
Ngân hàng Chính sách - xã hội
NHNN
TN
Thu nhập
TNBQ
Thu nhập bình quân
TB
Trung bình
GT
Giá trị
TĐPTTB
Tốc độ phát triển trung bình
TTCN
Tiểu thủ công nghiệp
TCTK
Tổng cục Thống kê
theo mục đích sử dụng năm 2014
Tổng giá trị sản xuất theo giá so sánh 2010của các
ngành kinh tế huyện Quảng Xương giai đoạn 2010 46
2014
Cơ cấu giá trị sản xuất của huyện Quảng Xương giai
đoạn 2010-2014
Dân số trung bình huyện Quảng Xương
Lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế
Số lượng hộ mẫu ở địa bàn khảo sát
Thu nhập bình quân đầu người một tháng phân theo
khu vực thành thị, nông thôn của cả nước
Thu nhập bình quân đầu người một tháng khu vực
nông thôn phân theo nguồn thu nhập của cả nước
Thu nhập bình quân đầu người một tháng của cả nước, Khu
vực, tỉnh Thanh Hóa và huyện Quảng Xương
Thu nhập bình quân đầu người/tháng huyện Quảng Xương
Một số chỉ tiêu như tuổi bình quân, trình độ văn hóa,
trình độ chuyên môn của chủ hộ, nhân khẩu và lao
động của Hộ khảo sát
Thực trạng về đất đai của Hộ khảo sát
Thực trạng về vốn của Hộ khảo sát
Tổng nguồn thu của các hộ khảo sát
Tổng chi phí của các hộ khảo sát
Thu nhập bình quân hộ/năm
Thu nhập của hộ phân theo số lượng lao động, trình
độ chuyên môn, diện tích đất sản xuất, vốn sản xuất
kinh doanh của Hộ khảo sát
Những yếu tố tác động tích cực đến việc nâng cao
thu nhập của Hộ
Những yếu tố ảnh hưởng tiêu cực đến việc nâng cao
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Số hiệu biểu
Tên biểu
Biểu đồ 3.1. Cơ cấu tổng thu của hộ phân theo nguồn thu
Trang
74
1
MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết của vấn đề nghiên cứu
Thực tiễn quá trình sản xuất nông nghiệp của nước ta trải qua hàng
ngàn năm sản xuất theo kinh nghiệm, tuy có những bước tiến quan trọng,
nhưng về căn bản vẫn là nền sản xuất nhỏ lẻ, kỹ thuật canh tác lạc hậu mang
tính độc canh, tự cung, tự cấp là chính.Những năm gần đây, nông nghiệp và
nông thôn nước ta đã có sự phát triển vượt bậc, đạt được nhiều thành tựu đáng
khích lệ.Việc đổi mới cơ chế quản lý trong nông nghiệp nông thôn ở Việt
Nam thời gian qua đã mang lại nhiều thành công khích lệ đối với Việt Nam
trong gần 30 năm qua. Trong đó nổi bật là thành công về chuyển đổi tình
trạng thiếu nông sản, thực phẩm sang dư thừa và tạo điều kiện để Việt Nam
xuất khẩu gạo, sản phẩm cây công nghiệp, thủy sản ra thị trường thế giới, vừa
thu được ngoại tệ cho đất nước, vừa tạo thêm thu nhập cho hộ nông dân và
những người sản xuất nông nghiệp.
Cùng với gia tăng khối lượng sản xuất và xuất khẩu nông sản, Ngành
nông nghiệp Việt Nam đã đi đầu trong hội nhập kinh tế quốc tế, mở rộng xuất
khẩu ra thị trường nhiều nước phát triển và đang phát triển, tạo cục diện mới
đối với nông nghiệp. Nhưng vấn đề đang đặt ra là, sản xuất - xuất khẩu tăng
một số giải pháp nhằm nâng cao thu nhập cho hộ nông dân trên địa bàn huyện
Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa.
2.2. Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về thu nhập và nâng cao thu
nhập cho hộ nông dân.
- Đánh giá thực trạng về thu nhập của hộ nông dân trên địa bàn huyện
Quảng Xương.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao thu nhập cho các hộ nông
dân trên địa bàn huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là thu nhập của hộ nông dân và các
yếu tố ảnh hưởng đến việc nâng cao thu nhập của hộ nông dân.
3
3.2. Phạm vi nghiên cứu
3.2.1. Phạm vi về thời gian
Thời gian nghiên cứu:
Số liệu và thông tin thứ cấp được thu thập qua 5 năm (2010 - 2014).
Số liệu, thông tin sơ cấp thu thập bằng bảng hỏi được thực hiện 1 lần
vào năm 2015, để thu thập thông tin về hộ.
3.2.2. Phạm vi về không gian
Địa bàn nghiên cứu: Huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa.
4. Nội dung nghiên cứu
- Cơ sở lý luận và thực tiễn thu nhập của hộ nông dân.
- Thực trạng về thu nhập của hộ nông dân trên địa bàn huyện Quảng
Xương, tỉnh Thanh Hóa.
- Các yếu tố ảnh hưởng đến việc nâng cao thu nhập của hộ nông dân
nghiệp (làm đất, thủy nông, giống cây trồng, bảo vệ thực vật, vv) và thông
thường nguồn sống chính của hộ là dựa vào nông nghiệp. [3] [16]
Từ các khái niệm trên, có thể hiểu nông hộ là những hộ sống ở nông
thôn, có ngành nghề sản xuất chính là nông nghiệp, nguồn thu nhập và sinh
sống chủ yếu là nghề nông. Ngoài nông nghiệp, nông hộ còn tham gia vào các
hoạt động phi nông nghiệp (như tiểu thủ công nghiệp, thương nghiệp, dịch
vụ) ở các mức độ khác nhau.
- Đặc điểm của Hộ nông dân
Nông hộ, hay hộ nông dân theo như phân tích ở trên có những đặc điểm
cơ bản như sau:
5
Hộ nông dân là một đơn vị kinh tế cơ sở vừa là một đơn vị sản xuất vừa
là một đơn vị tiêu dùng. quan hệ giữa tiêu dùng và sản xuất thể hiện ở trình
độ phát triển của hộ tự cấp tự túc. Trình độ này quyết định quan hệ giữa hộ
nông dân và thị trường.
Các hộ nông dân ngoài hoạt động nông nghiệp còn tham gia vào các
hoạt động phi nông nghiệp với các mức độ rất khác nhau.
Có sự thống nhất chặt chẽ giữa quyền sở hữu với quá trình quản lý và
sử dụng các yếu tố sản xuất, các thành viên của hộ nông dân có sự thống nhất
chặt chẽ. Bởi sở hữu trong nông hộ là sở hữu chung, mọi thành viên đều có
thể sử dụng và tự quản lý các yếu tố sản xuất như vốn, đất đại để tạo ra của
cải đóng góp vào quỹ chung của nông hộ.
Lao động quản lý và lao động trực tiếp có sự gắn bó chặt chẽ với nhau
và được chi phối bởi quan hệ huyết thống. Thông thường chủ hộ thường là
người quản lý, điều hành và trực tiếp tham gia sản xuất. với đặc điểm này,
việc tổ chức sản xuất trong nông hộ diễn ra tương đối linh hoạt và thống nhất,
cơ cấu tổ chức rất đơn giản.
Chính vì vậy mà các hộ này luôn có nhu cầu mở rộng và phát triển sản
xuất tức là có nhu cầu đầu tư thêm vốn. Việc vay vốn đối với những hộ sản
xuất này hoàn toàn chính đáng và rất cần thiết trong quá trình mở rộng và
phát triển sản xuất kinh doanh. Đây chính là các khách hàng mà tín dụng ngân
hàng cần phải quan tâm và coi là đối tượng chủ yếu quan trọng cần tập trung
đồng vốn đầu tư vào đây sẽ sử dụng đúng mục đích, sẽ có khả năng sinh lời,
hơn thế nữa lại có thể hạn chế tối đa tình trạng nợ quá hạn. Đây cũng là một
trong những mục đích mà ngân hàng cần thay đổi thông qua công cụ lãi suất
tín dụng, thuế... Nhà nước và Ngân hàng có khả năng kiểm soát và điều tiết
hoạt động của các hộ sản xuất bằng chính sách tiền tệ, chính sách tài khóa ở
tầm vĩ mô.
- Nhóm thứ hai là: Các hộ có sức lao động làm việc cần mẫn nhưng
7
trong tay họ không có hoặc có rất ít tư liệu sản xuất, tiền vốn hoặc chưa có
môi trường kinh doanh. Loại hộ này chiếm số đông trong xã hội do đó việc
tăng cường đầu tư tín dụng để các hộ này mua sắm tư liệu sản xuất có ý nghĩa
rất quan trọng để phát huy mọi năng lực sản xuất nông thôn trong lĩnh vực
sản xuất nông nghiệp. Việc cho vay vốn không những giúp cho các hộ này có
khả năng tự lao động sản xuất nông nghiệp. Việc cho vay vốn không những
giúp cho các hộ này có khả năng lực lao động sản xuất tạo sản phẩm tiêu
dùng của chính mình mà còn góp phần giúp các hộ này có khả năng tự chủ
sản xuất. Mặt khác, bằng các hoạt động đầu tư tín dụng ngân hàng có thể giúp
các hộ sản xuất này làm quen với nên sản xuất hàng hoá, với chế độ hạch toán
kinh tế để các hộ thích nghi với cơ chế thị trường, từng bước đi tự sản xuất
hàng hóa, tự tiêu dùng (tự cung tự cấp) đến sản xuất sản phẩm hàng hóa đáp
ứng nhu cầu thị trường.
- Nhóm thứ 3 là: Các hộ không có sức lao động, không tích cực lao
xã hội khoảng 90% sản lượng thịt và cá, 90% sản lượng lương thực, thực
phẩm, cây công nghiệp, cây ăn quả. Đẩy mạnh xuất khẩu và góp phần sử
dụng tốt hơn tài nguyên đất, lao động, vốn, rừng, biển,... nâng cao thu nhập
cho người nông dân. Từng bước phát triển các ngành nghề dịch vụ ở nông
thôn theo tinh thần mà Đảng và Nhà nước ta đang hướng tới CNH - HĐH
nông nghiệp và nông thôn.
Trong cơ chế phát triển của nền kinh tế chúng ta đang chủ trương xoá
bỏ thế độc canh để đa canh cây trồng vật nuôi và phát triển ngành nghề, dịch
vụ ở nông thôn theo điều kiện của từng vùng, từng bước xóa bỏ cơ chế sản
xuất tự cung tự cấp sang sản xuất hàng hóa theo hình thức trang trại giai trại
để tăng khả năng đầu tư cũng như các tiềm lực khác, góp phần nâng cao năng
suất chất lượng cây trồng, vật nuôi, phát triển các ngành nghề dịch vụ, nâng
cao thu nhập cho người nông dân, từng bước “thành thị hóa” trong lòng nông
thôn để phát triển một nền nông nghiệp mạnh và bền vững. Một số vai trò của
hộ nông dân đối với sự phát triển kinh tế, chính trị và xã hội của đất nước
9
được thể hiện như sau:
- Hộ nông dân với vấn đề việc làm và sử dụng tài nguyên ở nông thôn.
Việc làm hiện nay là một vấn đề cấp bách với nông thôn nói riêng và
với cả nước nói chung. Đặc biệt nước ta có tới 66,89% dân sống ở nông thôn
và 46,27% lao động đang làm việc trong lĩnh vực nông lâm nghiệp và thủy
sản (Niên giám Thống kê 2014). Nếu chỉ trông chờ vào khu vực kinh tế quốc
doanh, Nhà nước hoặc sự thu hút lao động ở các thành phố lớn thì khả năng
giải quyết việc làm ở nước ta còn rất hạn chế.
Lao động là một nguồn lực rất dồi dào nhất ở nước ta, là yếu tố năng
động và là động lực của nền kinh tế quốc dân nhưng việc khai thác và sử
dụng nguồn nhân lực vẫn đang ở mức thấp.
Tóm lại, khi hộ sản xuất được tự chủ về sản xuất kinh doanh, chịu trách
nhiệm về kết quả sản xuất kinh doanh của mình. Đất đai, tài nguyên và các
công cụ lao động cũng được giao khoán. Chính họ sẽ dùng mọi cách thức,
biện pháp sử dụng chúng sao cho có hiệu quả nhất, bảo quản để sử dụng lâu
dài. Họ cũng biết tự đặt ra định mức tiêu hao vật tư kỹ thuật, khai thác mọi
tiềm năng kỹ thuật vừa tạo ra công ăn việc làm, vừa cung cấp được sản phẩm
cho tiêu dùng của chính mình và cho toàn xã hội.
- Hộ nông dân có khả năng thích ứng được thị trường thúc đẩy sản xuất
hàng hóa phát triển.
Kinh tế thị trường là tự do cạnh tranh trong sản xuất hàng hóa. Là đơn
vị kinh tế độc lập, các hộ sản xuất hoàn toàn được làm chủ các tư liệu sản
xuất và quá trình sản xuất. Căn cứ điều kiện của mình và nhu cầu của thị
trường họ có thể tính toán sản xuất cái gì? sản xuất như thế nào? Hộ sản xuất
tự bản thân mình có thể giải quyết được các mục tiêu có hiệu quả kinh tế cao
nhất mà không phải qua nhiều cấp trung gian chờ quyết định. Với quy mô nhỏ
hộ sản xuất có thể dễ dàng loại bỏ những dự án sản xuất, những sản phẩm
không còn khả năng đáp ứng nhu cầu thị trường để sản xuất loại sản phẩm thị
trường cần mà không sợ ảnh hưởng đến kế hoạch chi tiêu do cấp trên quy định.
Mặt khác, là chủ thể kinh tế tự do tham gia trên thị trường, hòa nhập
với thị trường, thích ứng với quy luật trên thị trường, do đó hộ sản xuất đã
11
từng bước tự cải tiến, thay đổi cho phù hợp với cơ chế thị trường. Để theo
đuổi mục đích lợi nhuận, các hộ sản xuất phải làm quen và dần dần thực hiện
chế độ hạch toán kinh tế để hoạt động sản xuất có hiệu quả, đưa hộ sản xuất
đến một hình thức phát triển cao hơn.
Như vậy, hộ nông dân có khả năng ngày càng thích ứng với nhu cầu
của thị trường, từ đó có khả năng đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của toàn xã
vi “nhàn cư vi bất thiện” gây ra.
1.1.1.2. Các nguồn lực của Hộ
Khái niệm về nguồn lực: theo nghĩa hẹp, nguồn lực thường được hiểu
là các nguồn lực vật chất cho phát triển (tài nguyên thiên nhiên, tài sản vốn
bằng tiền...). Theo nghĩa rộng, nguồn lực bao gồm tất cả những lợi thế, tiềm
năng vật chất và phi vật chất để phục vụ cho một mục tiêu phát triển nào đó.
Tùy thuộc vào phạm vi phân tích, khái niệm nguồn lực được sử dụng rộng rãi
ở cấp độ khác nhau như quốc gia, vùng lãnh thổ, ngành, doanh nghiệp, hộ gia
đình hay từng chủ thể là cá thể tham gia vào quá trình phát triển.
Đề cập tới nguồng lực quốc gia, Trần Văn Chứ (2007) cho rằng: nguồn
lực tổng thể là tổng thể vị trí địa lí, các nguồn tài nguyên thiên nhiên, hệ
thống tài sản quốc gia, nguồn nhân lực, đường lối chính sách, vốn và thị
trường... ở cả trong nước và nước ngoài có thể được khai thác nhằm phục vụ
cho việc phát triển kinh tế của một lãnh thổ nhất định. Nói một cách ngắn
gọn, nguồn lực là toàn bộ những yếu tố trong và ngoài nước đã, đang và sẽ
tham gia vào quá trình thúc đẩy, phát triển, cải biến xã hội của một quốc
gia.[2]
- Về nguồn nhân lực (lao động)
Con người là yếu tố đầu tiên cho mọi hoạt động sản xuất kinh doanh.
Con người là trung tâm, là nguồn vốn vô tận để tạo ra của cải vạt chất, chính
con người quyến định nên hình thức lao động. Yếu tố lao động được phân
chia thành nhiều yếu tố khác nhau như lao động trong độ tuổi, người độ tuổi;
lao động nam, nữ; lao động có trình độ học vấn cao hay thấp, số năm kinh
13
nghiệp nhiều hay ít...
Độ tuổi của người lao động ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng lao động
cũng như hình thức lao động. Đặc biệt là lao động ở nông thôn thì cần nguồn
dịch vụ, tiểu thủ công...
- Về nguồn lực tự nhiên
Nguồn lực tự nhiên chính là các đặc điểm về địa lý, địa hình, thời tiết và khí hậu nơi
hộ nông dân sinh sống và thực hiện các hoạt động sản xuất của mình.
- Về nguồn lực xã hội
Nguồn lực xã hội được thể hiện ở khả năng hỗ trợ của các tổ chức xã
hội trong việc phát triển kinh tế hộ gia đình. Các ngành nghề truyền thống,
phương thức canh tác, tổ chức hiệp hội, đoàn thể trên địa bàn, sự hỗ trợ về kỹ
thuật và vốn của một số tổ chức chính trị, xã hội, trạm khuyến nông... Ngoài
ra nguồn lực xã hội còn được hiểu là thị trường các yếu tố đầu vào và đầu ra
cho nông hộ, sự tiếp cận của nông hộ đối với các thị trường này.
1.1.2. Lý thuyến về thu nhập của Hộ nông dân
1.1.2.1. Khái niệm về thu nhập của Hộ nông dân
Khi nghiên cứu về hộ nông dân, nhiều nhà khoa học và nghiên cứu kinh
tế ở Việt Nam đã sử dụng chỉ tiêu thu nhập hỗn hợp để đánh giá thu nhập của
nông hộ. Thu nhập hỗn hợp của nông hộ là phần thu được sau khi lấy tổng thu
(tức là toàn bộ giá trị sản phẩm từ các hoạt động sản xuất trong nông hộ) trừ
đi chi phí vật chất, trừ đi tiền công thuê ngoài và trừ chi phí khác (bao gồm
thuế, khấu hao tài sản cố định,...) (Khôi, 2007). Như vậy, trong phần thu nhập
của hộ sẽ bao hàm tiền công lao động của chủ hộ và các thành viên cùng với
tiền lãi.[8]
Theo Võ Thành Nhân (2011), thu nhập của hộ gia đình là toàn bộ số
tiền và giá trị hiện vật mà hộ và các thành viên của hộ nhận được trong một
thời gian nhất định (thường là một năm), bao gồm: (1) thu tiền công, tiền
lương; (2) thu từ sản xuất nông lâm nghiệp, thuỷ sản (đã trừ đi chi phí sản
xuất và thuế sản xuất); (3) thu từ sản xuất ngành nghề phi nông lâm nghiệp,
15
- Thu nhập từ hoạt động nông nghiệp: Bao gồm thu nhập từ các hoạt
động sản xuất trong nông nghiệp (gồm cả nghề rừng và nghề cá theo nghĩa
rộng) như: trồng trọt (lúa, màu, rau, quả, v.v...); chăn nuôi (gia cầm, gia súc),
nuôi trồng thủy sản (tôm, cua, cá, v.v...).
- Thu nhập từ hoạt động phi nông nghiệp: Là thu nhập được tạo ra từ
các hoạt động ngành nghề công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp, bao gồm các
ngành nghề chế biến, sản xuất vật liệu xây dựng, gia công cơ khí,... Ngoài ra,
thu nhập từ hoạt động phi nông nghiệp còn được tạo ra từ các hoạt động
thương mại, dịch vụ như buôn bán, thu gom,...
- Thu nhập khác: Đó là nguồn thu từ người ngoài cho biếu mừng giúp,
học bổng, thưởng trong giáo dục, thu y tế và các khoản thu khác...
1.1.2.2. Đặc điểm thu nhập của nông hộ
Thu nhập của nông hộ có những đặc điểm sau:
- Thu nhập của hộ nông dân thấp và tăng chậm so với thu nhập của dân
cư thành thị. Hộ nông dân chủ yếu sống ở nông thôn nơi có điều kiện khó
khăn về cơ sở hạ tầng, trình độ dân trí thấp, dân số tăng nhanh và thiếu việc
làm,... Ngành sản xuất chính của hộ nông dân là trồng trọt và chăn nuôi,
những ngành này thường gặp nhiều rủi ro, việc đầu tư của hộ bị hạn chế nên
thu nhập của hộ nông dân thấp.
- Nguồn thu nhập của hộ nông dân phong phú và đa dạng. Hoạt động
sản xuất kinh doanh của hộ nông dân bao gồm các hoạt động sản xuất nông
nghiệp và sản xuất phi nông nghiệp. Trong đó, sản xuất nông nghiệp lại bao
gồm nhiều ngành sản xuất khác nhau như trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng
thủy sản, dịch vụ nông nghiệp. Hoạt động phi nông nghiệp bao gồm các
ngành nghề như tiểu thủ công nghiệp, công nghiệp, kinh doanh thương mại và
dịch vụ. Ngoài ra, hộ nông dân còn tham gia vào nhiều hoạt động khác để
tăng thu nhập như: làm thuê, xuất khẩu lao động, một số hộ còn được hưởng
17
18
chủ yếu là sử dụng lao động gia đình nên việc sử dụng lao động của hộ hết
sức linh hoạt. Trong cùng một thời gian, một người có thể làm nhiều việc
khác nhau, tạo ra các khoản thu nhập khác nhau nên khó có thể hạch toán
được chi phí lao động vào tổng chi phí. Chính vì vậy, thu nhập của hộ được
tính bao gồm cả chi phí lao động gia đình.
1.1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đếnthu nhập của hộ
Như đã phân tích ở trên, hộ nông dân vừa là một đơn vị kinh tế cơ sở,
vừa là một đơn vị sản xuất vừa là một đơn vị tiêu dùng. Quan hệ giữa tiêu
dùng và sản xuất thể hiện ở trình độ phát triển của hộ từ hoàn toàn tự cấp đến
sản xuất hàng hóa hoàn toàn. Trình độ này quyết định quan hệ giữa hộ nông
dân và thị trường. Chính vì vậy khi xem xét đến vấn đề thu nhập cần phải
xem xét đến các yếu tố ảnh hưởng khác nhau cũng như những ứng xử của hộ
nông dân trong việc lựa chọn các quyết định nhằm cải thiện mức thu nhập của
mình.
Trong sản xuất, do sự hạn chế về đất đai là yếu tố tiên quyết ảnh hưởng
trực tiếp đến thu nhập của hộ nông dân. Trong điều kiện đất canh tác gia đình
quá nhỏ hẹp như hiện nay làm cho kinh tế hộ gia đình chỉ thích ứng với các
kiểu tổ chức lao động gia đình và với các điều kiện sản xuất thủ công. Chính
điều này đã làm cản trở rất nhiều trong việc cải thiện thu nhập của hộ nông dân.
Trong tiêu dùng, đặc trưng phổ biến nhất của người nông dân đã được
các nhà kinh tế xác định là cuộc sống của họ cơ bản do tự cung tự cấp. Điều
này có nghĩa là sản phẩm nông nghiệp mà họ sản xduất ra được trực tiếp tiêu
dùng cho gia đình chứ không phải để đem bán trên thị trường, và người nông
dân thường được gọi là người nông dân tự cung tự cấp. Chính sự tự cung tự
cấp này là một nguyên nhân làm cho người nông dân ít gắn bó với thị trường.
Do vậy, khi phân tích thu nhập của hộ nông dân cũng cần phải đề cập đến các
khoản tiêu dùng của họ. Ngoài ra, các khoản thuế và các đóng góp xã hội
trong sản xuất kinh doanh.
Kinh nghiệm sản xuất là những gì mà người lao động tích lũy được