Khoá luận tốt nghiệp
Vũ Ngọc Dũng - Lớp KTB51
PHẦN I. ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam có gần 80% dân số sinh sống ở nông thôn; trong các cuộc
chiến tranh chống ngoại xâm, bảo vệ Tổ Quốc, lao động nông nghiệp nông
thôn nước ta đã có những đóng góp to lớn cả về sức người, sức của cho sự
thắng lợi của cách mạng, đấu tranh chống ngoại xâm và đánh thăng giặc Mỹ
để dành độc lập, thống nhất tổ quốc. Chính vì vậy, Đảng và Nhà nước luôn có
nhiều chính sách phù hợp với từng giai đoạn lịch sử và tạo điều kiện cho nông
dân phát triển sản xuất kinh doanh, xây dựng cơ sở hạ tầng nhằm phát triển
nông nghiệp nông thôn, tăng thu nhập và cải thiện đời sống người nông dân.
Sau 20 năm thực hiện đổi mới của Đảng và Nhà nước đề ra, kết hợp
với thực hiện Nghị quyết 10 của Bộ chính trị (4/1988) về: "Đổi mới quản
lý kinh tế nông nghiệp”, từ đây hộ đã trở thành đơn vị kinh tế tự chủ,
góp phần quan trọng vào sự phát triển của nền kinh tế của đất nước.
Thực tế nông nghiệp và nông thôn nước ta đã có những bước phát triển
vượt bậc và đã đạt được những thành tựu đầy khích lệ về năng suất, chất
lượng sản phẩm và tăng nhanh sản lượng lương thực, thực phẩm, tăng
thu nhập, tăng tích luỹ và đời sống nông dân được tăng lên cả về vật chất
và tinh thần.
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đã đạt được thì đời sống nông
dân ở nhiều vùng, nhất là vùng sâu, vùng xa sản xuất kinh doanh vẫn còn
gặp nhiều những khó khăn, đời sống nông dân còn nghèo, đây là tính tất
yếu khách quan của xu thế phát triển xã hội từ một nước nông nghiệp lạc
hậu, điểm xuất phát rất thấp và mới tiến hành thực hiện nền kinh tế thị
trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, đó là nền kinh tế hàng hoá
nhiều thành phần đã tạo ra sự chênh lệch về thu nhập giữa các tầng lớp
dân cư, giữa các vùng, giữa thành thị và nông thôn, dẫn đến phân hoá
Để thực hiện đường lối chủ trương nêu trên Dương Quang đang tăng
cường xây dựng cơ sở hạ tầng, tăng cường áp dụng công nghệ mới vào
sản xuất kinh doanh và tăng cường tri thức cho người lao động đồng thời
khuyến khích kinh tế nông hộ phát huy nội lực và tăng cường sự hợp
2
Khoá luận tốt nghiệp
Vũ Ngọc Dũng - Lớp KTB51
tác, liên doanh liên kết kinh tế với bên ngoài trên cơ sở đó nâng cao thu
nhập và cải thiện đời sống cho nhân dân xã Dương Quang. Để góp phần
giải quyết vấn đề trên, được sự phân công của Khoa Kinh tế, Trường Đại
học Nông nghiệp Hà Nội,Chúng tôi tiến hành thực hiện nghiên cứu đề
tài: “NGHIÊN CỨU MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO THU
NHẬP CHO HỘ NÔNG DÂN TRÊN ĐỊA BÀN XÃ DƯƠNG QUANG HUYỆN MỸ HÀO - TỈNH HƯNG YÊN”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Vận dụng những lý luận và kinh nghiệm phát triển kinh tế hộ trên thế giới
và các vùng ở Việt Nam để đẩy mạnh phát triển kinh tế hộ ở xã Dương Quang,
tăng nhanh năng suất, chất lượng sản phẩm nông nghiệp, tăng cao thu nhập và
cải thiện đời sống nông dân.
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Góp phần hệ thống hoá những cơ sở lý luận và thực tiễn về phát
triển kinh tế nông hộ.
- Đánh giá thực trạng về phát triển kinh tế nông hộ ở xã Dương
Quang.
PHẦN II. TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
2.1 Cơ sở lý luận
2.1.1 Khái niệm về Hộ
Về khái niệm về hộ vẫn còn tồn tại những quan điểm khác nhau:
Một số quan điểm cho rằng: "hộ là những người cùng sống chung trong
một ngôi nhà và nhóm người đó cùng chung huyết tộc và những người làm
chung, ăn chung”. Trong quá trình nghiên cứu, quá trình đô thị hoá ở các nước
Châu Á, giáo sư Mc. Gee và các đồng nghiệp đã lưu ý thêm rằng: Các thành
viên của hộ không nhất thiết sống chung trong một mái nhà, họ có thể sống xa
gia đình nhưng đóng góp vào phần thu nhập của hộ thì họ được coi là một
thành viên của hộ. Tuy nhiên đây chỉ là thiên về thu nhập của hộ. Một khái
niệm khác về hộ cho rằng "hộ là một đơn vị cơ bản của xã hội có liên hệ đến
sản xuất, tái sản xuất, tiêu dùng và các hoạt động xã hội khác”. Như vậy từ
các quan điểm khác nhau đưa ra về "hộ" cũng có những nét chung để phân biệt
về hộ, đó là:
1). Hộ là nhóm người có chung hay không có chung huyết tộc.
2). Hộ là một nhóm người cùng chung sống dưới một mái nhà.
3). Hộ là một nhóm người cùng có chung một nguồn thu nhập và ăn chung.
2.1.2. Khái niệm về nông hộ
Nông hộ là hộ nông dân trong đó bao gồm những người có phương tiện
kiếm sống chủ yếu là từ ruộng đất và sử dụng lao động gia đình cho sản xuất,
luôn nằm trong hệ thống kinh tế rộng hơn nhưng về cơ bản được đặc trưng bởi
sự tham gia từng thành phần vào thị trường với mức độ hoàn hảo không cao.
Quá trình đô thị hoá, công nghiệp hoá đang và sẽ còn tiếp tục diễn ra làm
thay đổi cơ cấu kinh tế nông thôn, từ đó hoạt động kinh tế của nông hộ cũng
có những biến đổi sâu sắc. Xã hội chắc chắn sẽ xuất hiện những nông hộ vì lý
do nào đó không có đất canh tác mà phải đi làm thuê tạo thu nhập. Cũng có
5
Từ những khái niệm và quan điểm trên cho thấy: Kinh tế hộ là hình thức
kinh tế cơ bản và tự chủ trong nông nghiệp, được hình thành và tồn tại khách
quan, lâu dài dựa trên cơ sở sử dụng sức lao động, đất đai và tư liệu sản xuất
của gia đình mình là chính. Kinh tế nông hộ là hình thức cơ bản có hiệu quả,
6
Khoá luận tốt nghiệp
Vũ Ngọc Dũng - Lớp KTB51
phù hợp với sản xuất nông nghiệp; nó tồn tại, thích ứng và phát triển trong
mọi chế độ kinh tế xã hội.
Có thể khái quát thành 6 đặc trưng cơ bản chủ yếu của kinh tế nông hộ
như sau: Thứ nhất: Có sự thống nhất chặt chẽ giữa quyền sở hữu với quá trình
quản lý và sử dụng các yếu tố sản xuất. Bởi vì sở hữu trong nông hộ là sở hữu
chung, mọi thành viên đều có thể sử dụng và tự quản lý các yếu tố sản xuất
như: vốn, đất đai ...để tạo ra của cải đóng góp vào ngân quỹ chung của hộ.
Thứ hai: Lao động quản lý và lao động trực tiếp có sự gắn bó chặt chẽ
với nhau và được chi phối bởi quan hệ huyết thống. Thông thường chủ hộ là
người quản lý, điều hành và trực tiếp tham gia sản xuất. Với đặc điểm này,
việc tổ chức sản xuất trong nông hộ diễn ra tương đối linh hoạt và thống
nhất, cơ cấu tổ chức rất đơn giản.
Thứ ba: Quy mô sản xuất nhỏ, hơn nữa các nguồn lực có thể được huy
động hay thu hồi dễ dàng nên các nông hộ hoàn toàn có khả năng thích nghi
và tự điều chỉnh tốt. Gặp điều kiện thuận lợi, nông hộ có thể phát huy tối đa
nguồn lực cho sản xuất ngay cả khi giảm khẩu phần ăn tất yếu của mình.
Trong hoàn cảnh bất lợi, sản xuất được thu hẹp, thậm chí có thể quay về với
sản xuất giản đơn.
yếu tố đất đai, lao động, tiền vốn và thái độ tiêu dùng của chủ hộ.
- Nó là đơn vị kinh tế cơ sở vừa sản xuất, vừa tiêu dùng nông sản, có sự
thống nhất giữa các đơn vị kinh tế và đơn vị xã hội. Do đó, nó thực hiện đồng
thời được nhiều chức năng mà đơn vị kinh tế khác không có được, kinh tế
nông hộ có khả năng tự điều chỉnh rất cao trong mối quan hệ sản xuất, trao
đổi, phân phối, tiêu dùng.
- Nó là tế bào của xã hội mang tính chất đặc thù phù hợp với điều kiện tự
nhiên - kinh tế mỗi nước và mỗi khu vực trên thế giới và được phát triển từ
thấp đến cao.
- Kinh tế nông hộ tuy là đơn vị kinh tế độc lập, nhưng không đối lập với
kinh tế hợp tác và kinh tế Nhà nước.
Ở nước ta hiện nay kinh tế nông hộ là một khái niệm chung chỉ các loại
nông hộ có trình độ sản xuất khác nhau, từ tự cung- tự cấp đến sản xuất hàng
hoá; kinh tế nông hộ đã có tác dụng to lớn để thúc đẩy nông nghiệp và nông
thôn nước ta phát triển.
8
Khoá luận tốt nghiệp
Vũ Ngọc Dũng - Lớp KTB51
Tuy nhiên, nông hộ là đối tượng nghiên cứu chủ yếu của khoa học nông
nghiệp và phát triển nông thôn. Tất cả các hoạt động nông nghiệp và phi nông
nghiệp ở nông thôn chủ yếu được thực hiện qua sự hoạt động của nông hộ.
2.1.4. Vai trò của kinh tế nông hộ
Việt Nam trong giai đoạn hiện nay đang phát triển kinh tế theo cơ chế thị
trường có sự định hướng xã hội chủ nghĩa thì sự tồn tại và phát triển của các
thành phần kinh tế, các phương thức sản xuất hoàn toàn khách quan phù hợp
nông thôn vào năm 2020 theo tinh thần của Đại hội Đảng IX đã đề ra.
2.2 Cơ sở thực tiễn
Vể thực tiễn mà nối kinh tế nông hộ đã trải qua rất nhiều thời kỳ lịch sử
cùng với sự thay đổi của xã hội, nó ngày càng được hoàn thiện về phương thức
và hoạt động. Nó trở thành một nhân tố quan trọng không thể thiếu được trong
nền kinh tế nông nghiệp ở các nước trên thế giới cũng như ở Việt Nam.
2.2.1. Quá trình phát triển kinh tế hộ trên thế giới
Trên thế giới, trải qua nhiều phương thức sản xuất xã hội, kinh tế chính trị
có nhiều biến động nhưng kinh tế hộ vẫn tồn tại và phát triển. Ban đầu là
những hộ sản xuất tự cung, tự cấp sau đó tiến lên phát triển nhiều hộ sản xuất
hàng hoá và chuyển thành kinh tế trang trại gia đình. Mặc dù kinh tế nông hộ
trên thế giới tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau, nhưng các hộ nông dân và
trang trại gia đình vẫn là lực lượng chủ yếu sản xuất các mặt hàng nông sản,
thực phẩm để đáp ứng nhu cầu của con người. Các hộ nông dân vẫn và sẽ đang
đóng vai trò chủ lực trong ngành sản xuất nông nghiệp trên thế giới và thực tế
cho thấy đến nửa cuối thế kỷ XVIII Chủ nghiã Tư bản đã thực sự phát triển ở
các nước châu Âu, sau đó là châu Á, châu Mỹ... nền sản xuất hàng hoá lớn đã
hình thành và dần thay thế kinh tế tiểu nông tự cung, tự cấp trên cơ sở có sự
tích tụ tập trung về tư liệu sản xuất và sự phân công lao động xã hội, nhưng
đến nay kinh tế hộ vẫn phát triển mạnh ở hầu hết các quốc gia và đang có xu
hướng mở rộng thành các nông trại gia đình có tính chuyên môn hoá cao.
* Các nước châu Âu và Bắc Mỹ
Châu Âu và Bắc Mỹ mà điển hình là Mỹ, là những nước phát triển, dân
số là nông nghiệp rất ít, quy mô nông trại lớn.
Các nước châu Âu, điển hình là các nước thuộc cộng đồng kinh tế châu
Âu (EEC), những tế bào trong nông nghiệp là các trạng trại gia đình. Khối
EEC có khoảng 11,5 triệu trang trại, số nông trại có quy mô 50 ha trở lên
10
phát triển là do quy luật khách quan của kinh tế nông nghiệp quy định, các
nông trại gia đình là tế bào sản xuất của xã hội. Tính ưu việt của việc tổ chức
kinh tế trang trại gia đình hơn hẳn các hình thức tổ chức khác. Trong quá trình
11
Khoá luận tốt nghiệp
Vũ Ngọc Dũng - Lớp KTB51
phát triển các trang trại ngày càng có quy mô lớn hơn do được tập trung ruộng
đất. Đó là quy luật và phụ thuộc vào trình độ phát triển của xã hội và đặc
điểm riêng của các cây trồng, vật nuôi. Về các hình thức hợp tác của các trang
trại, cấu trúc trang trại gồm 2 yếu tố: sản xuất tương đối độc lập của các trang
trại và liên kết giữa các trang trại với nhau hình thành các HTX, các hiệp hội.
Vì vậy sự ra đời của các HTX cũng mang tính tất yếu khách quan.
* Các nước Châu Á :
Hiện nay các nước châu Á đang thúc đẩy chương trình phát triển nông
thôn tổg hợp, trong đó mục đích quan trọng nhất là giúp đỡ kinh tế hộ nông
dân, xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ cho sản xuất và đời sống ở nông thôn.
Phát triển kinh tế nông thôn là để ngăn chặn dòng người từ nông thôn
đổ về thành phố, ngăn ngừa những tệ nạn xã hội, góp phần thúc đẩy kinh tế
chung của đất nước. Đại diện phát triển kinh tế nông hộ là Trung Quốc.
Trung Quốc là nước có trên 1,2 tỷ dân, trong đó gần 70% là nông dân. Vì
vậy, phát triển kinh tế nông hộ được Trung Quốc đặt lên hàng đầu. Năm 1982
Trung Quốc đã thực hiện khoán tới hộ nông dân, năm 1984 tiếp tục thực hiện
giao quyền sử dụng đất lâu dài cho hộ nông dân. Để thúc đẩy nền nông nghiệp
phát triển Chính Phủ Trung Quốc đã cho mở rộng hàng loạt dự án đầu tư nâng
cấp cơ sở vật chất - kỹ thuật, đầu tư phát triển công nghệ - khoa học phục vụ
tự nguyện, đảm bảo lợi ích của các chủ trang trại hợp tác với nhau. Trong quá
trình hợp tác nó vẫn không phá vỡ tính độc lập của nông trại. Người chủ nông
trại ngày càng được đào tạo về kỹ thuật nông nghiệp, nghiệp vụ quản trị kinh
doanh. Kinh tế trang trại được tự do cạnh tranh trong khuôn khổ pháp luật và
có sự hướng dẫn của Nhà nước để phát triển đúng hướng.
2.2.3 Quá trình phát triển kinh tế nông hộ ở Việt Nam
* Giai đoại trước thời kỳ đổi mới cơ chế quản lý kinh tế (trước 12/1986)
Dưới thời kỳ pháp thuộc: thời kỳ này, tầng lớp địa chủ với 3% dân số,
nhưng đã chiếm 41,4% ruộng đất canh tác; hiệu quả khai thác và sử dụng đất
đai thấp, nông dân sống chính bằng làm thuê, cuốc mướn trong điều kiện sản
xuất chủ yếu là độc canh cây lúa mà lại phụ thuộc nhiều vào tự nhiên, cộng với
phải chịu sự bóc lột của địa chủ, cường hào... vì vậy, có tới 98% nông dân phải
sống trong hoàn cảnh cuộc sống nghèo và đói. Từ khi Miền Bắc được giải
phóng khỏi ách đô hộ của thực dân Pháp năm 1955 – 1959 Đảng ta chủ
trương "người cày có ruộng", nông dân hăng hái sản xuất. Kinh tế hộ đã có
chuyển biến, đời sống nhân dân bước đầu được cải thiện, song vẫn rất khó
khăn- thiếu thốn, bởi lẽ quy mô tổ chức sản xuất vẫn trong thế thuần nông,
trình độ khoa học – kỹ thuật còn lạc hậu; tiểu - thủ công nghiệp chưa phát
triển. Từ năm 1960 - 1980: Chúng ta tiến hành phong trào hợp tác xã bắt đầu
hình thành và phát triển; đã có 84% số nông hộ vào làm ăn trong 2.639 hợp tác
14
Khoá luận tốt nghiệp
Vũ Ngọc Dũng - Lớp KTB51
xã (1964). Trong giai đoạn này năng lực quản lý, điều hành của Ban quản lý
HTX còn nhiều yếu kém, hiệu quả lao động sản xuất thấp; kinh tế hộ lúc này
Khoá luận tốt nghiệp
Vũ Ngọc Dũng - Lớp KTB51
còn phụ thuộc vào tập thể và vẫn bị mô hình này chi phối. Và chỉ sau một thời
gian ngắn khoán 100 bắt đầu bộc lộ những hạn chế. Bởi vì, tuy là khoán
nhưng HTX vẫn đảm nhiệm đến 5 khâu, còn xã viên chỉ đảm nhận 3 khâu,
HTX vẫn dựa trên công hữu về tư liệu sản xuất, sản xuất tập trung và phân
phối theo công điểm. Định mức khoán lại do HTX quy định nên đã xảy ra
tình trạng chủ quan, quan liêu, áp đặt... như: mức khoán không hợp lý, không
công bằng, không xuất phát từ thực tế, từ đó đã làm cho xã viên khôn thật sự
phấn khởi trong việc đầu tư thâm canh; vì vậy mà xã viên trong giai đoạn cuối
này mong muốn mất mùa hơn là được mùa, sản xuất nông nghiệp lại đi vào
khủng hoảng.
* Kinh tế hộ trong thời kỳ đổi mới (1986) đến nay
Trước những hạn chế của chỉ thị 100CT/TW các địa phương tiên phong
như: Hải Phòng, Vĩnh Phú lại làm thử hình thức giao hẳn ruộng đất cho hộ
nông dân sử dụng, đảm bảo cho họ có quyền tự quyết trên mảnh đất của mình,
kết quả đã khả quan hơn rất nhiều. Trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm của nhiều
địa phương, ngày 5/4/1988 Nghị quyết 10 của Bộ chính trị về đổi mới quản lý
kinh tế nông nghiệp nhằm giải phóng mạnh mẽ sức sản xuất trong nông thôn,
trong từng hộ gia đình đã ra đời.Theo tinh thần Nghị quyết thì HTX, các tập
đoàn sản xuất thực hiện chế độ tự quản, tự chịu trách nhiệm về kết quả và hiệu
quả sản xuất kinh doanh của mình. Thừa nhận kinh tế nông hộ là thành phần
kinh tế cơ bản của nông nghiệp và nông thôn.
Hộ gia đình nông dân được giao quyền sử dụng đất lâu dài, khẳng định
quyền tự chủ của hộ gia đình nông dân trong việc đầu tư thâm canh. Chính từ
đây kinh tế nông hộ mới trở thành tự chủ, nông dân mới dồn hết tâm huyết và
trí lực của mình vào sản xuất làm giàu cho gia đình, cho xã hội trên mảnh đất
của mình được giao. Trong giai đoạn này HTX cũng được thay đổi, HTX
hợp tác theo hướng tiến bộ.
- Về cơ bản thoát khỏi tình trạng thiếu lương thực, vươn lên đảm bảo an
ninh lương thực và thực hiện xuất khẩu lương thực. Nông sản hàng hoá tăng
về chủng loại.
- Huy động, sử dụng vốn và các nguồn lực cho phát triển sản xuất nông
nghiệp, kinh tế nông thôn một cách có hiệu quả. Trước hết phải kể đến là vốn,
đất đai, lao động, tính tự chủ sáng tạo và mở mang ngành nghề.
17
Khoá luận tốt nghiệp
Vũ Ngọc Dũng - Lớp KTB51
- Đại bộ phận dân cư nông thôn có thu nhập ngày càng cao, đời sống được
cải thiện, có triển vọng xoá đói giảm nghèo và có khả năng thực hiện mục tiêu
"Dân giàu - nước mạnh".
- Góp phần tích cực thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông
nghiệp - nông thôn theo hướng sản xuất hàng hoá.
Mặc dù đã đạt được những thành tựu đáng kể, nhưng thực tế kinh tế nông
hộ và điều kiện nông thôn đang đặt ra hàng loạt các vấn đề đòi hỏi cần có sự
nỗ lực của các cấp, các ngành, các thành phần kinh tế, đặc biệt là sự quan tâm
của Đảng và Nhà nước.
18
Khoá luận tốt nghiệp
Khoá luận tốt nghiệp
Vũ Ngọc Dũng - Lớp KTB51
Bảng 3.1: Tình hình phân bổ và sử dụng đất đai của xã qua 3 năm
CC
(%)
100
SL
(ha)
774,71
CC
(%)
100
SL
(ha)
774,71
CC
(%)
100
08/07
Tổng diện tích đất tự nhiên
SL
97,06
1.1 Đất sản xuất nông nghiệp
449,81
58,06
448,00
57,83
420,90
54,33
99,60
93,95
96,78
1.1.1 Đất trồng cây hàng năm
448,13
57,84
446,32
96,72
- Đất trồng cây hàng năm khác
6,60
0.85
6,60
0.85
6,60
0.85
100
100
100
1.1.2 Đất trồng cây lâu năm
1,68
0,22
1,68
100
II. Đất phi nông nghiêp
274,42
35,42
276,23
35,66
303,33
39,15
101,14
121,94
111,05
2.1 Đất ở
78,45
10,12
78,57
110,09
2.3 Đất tôn giáo tín ngưỡng
1,56
0,20
1,56
0,20
1,56
0,20
100
100
100
2.4 Đất nghĩa trang nghĩa địa
4,25
0,55
4,25
100
III. Đất bằng chưa sử dụng
6,98
00.90
6,98
00.90
6,98
00.90
100
100
100
BQDT đất nông nghiệp/khẩu
0.070
0.069
0.065
Khoá luận tốt nghiệp
Vũ Ngọc Dũng - Lớp KTB51
Từ bảng 3.1 ta thấy rằng: diện tích đất nông nghiệp năm 2007 là 493,31
ha chiếm 63,68% tổng diện tích đất tự nhiên, năm 2008 là 491,50 ha, năm
2009 giảm xuống còn 464,60 ha chiếm 59,95% tổng diện tích đất tự nhiên.
Bình quân qua 3 năm đất nông nghiệp giảm 2,94%. Nguyên nhân làm diện
tích đất nông nghiệp giảm đi một phần là do chuyển sang xây dựng khu công
nghiệp, một phần được chuyển sang đất chuyên dùng và chuyển sang đất thổ
cư do quá trình di dân và tách hộ của xã.
Trong diện tích đất nông nghiệp còn lại là ha thì có tới 419,22 ha đất
trồng cây hàng năm chiếm 54,11% tổng diện tích đất tự nhiên. Trong đó chỉ là
diện tích đất trồng lúa, không có diện tích đất trồng cây hàng năm khác. Bình
quân qua 3 năm diện tích đất trồng lúa giảm 3,28%. Diện tích đất trồng cây
lâu năm không đổi qua 3 năm với số lượng là 1,68 ha chiếm 0,22% tổng diện
tích đất tự nhiên. Diện tích đất nuôi trồng thuỷ sản cũng không tăng lên và chỉ
chiếm 5,61% tương đương 43,50 ha.
Đồng nghĩa với việc diện tích đất nông nghiệp giảm là sự tăng lên diện
tích đất phi nông nghiệp. Năm 2007 diện tích đất phi nông nghiệp là 274,42
ha chiếm 35,42% tổng diện tích đất tự nhiên, năm 2008 tăng 1,14% tức là
tăng lên 1,81 ha, năm 2009 tăng 21,94% tương ứng với 27,1 ha. Bình quân
qua 3 năm đất phi nông nghiệp tăng 11,05%. Diện tích đất phi nông nghiệp
tăng lên chủ yếu là do xây dựng khu công nghiệp và tăng lên về đất ở, ngoài
ra các loại đất khác như đất nghĩa trang nghĩa địa, tôn giáo tín ngưỡng… có
sự thay đổi không đáng kể. Diện tích đất chuyên dùng năm 2007 là 140,99 ha
chiếm 18,20% tổng diện tích đất tự nhiên, năm 2008 là 142,68 ha và năm
2009 tăng lên 167,76 ha. Mức độ tăng bình quân 3 năm là 10,09%. Đất chưa
sử dụng của xã qua 3 năm không có sự thay đổi với diện tích là 6,98 ha chiếm
0,90% tổng diện tích đất tự nhiên.
sang nghề khác. Chính vì vậy mà số hộ phi nông nghiệp đã tăng lên qua các
năm. Cụ thể, năm 2007 số hộ phi nông nghiệp là 242 hộ chiếm 13,37% tổng
số hộ toàn xã, năm 2008 số hộ phi nông nghiệp là 245 hộ, năm 2009 là 303 hộ
chiếm 16,65% tổng số hộ. Bình quân qua 3 năm số hộ phi nông nghiệp tăng
12,51%.
29
Khoá luận tốt nghiệp
Vũ Ngọc Dũng - Lớp KTB51
Bảng 3.2: Tình hình dân số và lao động của xã
Chỉ tiêu
ĐVT
Hộ
SL
1810
1. Tổng số hộ
a.Chia theo nghề
Hộ nông nghiệp
Hộ
1568
Hộ phi NN
Hộ
242
người/hộ
3,86
BQ lao động/hộ
LĐ/hộ
2,04
BQ LĐNN/hộ NN
LĐ/hộ
1,83
Nguồn: Ban thống kê xã Dương Quang
2007
CC(%)
100
SL
1814
2008
CC(%)
100
86,63
13,37
1569
245
23,81
66,36
9,83
BQ
100,28
86,49
13,51
1517
303
83,35
16,65
100,06
101,34
96,69
123,67
98,38
112,51
24,15
66,76
9,09
100
49.96
50.04
100
77,35
101.68
102,74
101,07
88,48
100.28
100,17
100,39
100,99
95,46
119,88
102,18
100,95
90,59
100.91
100,37
101,47
101,01
98,15
110,78
3,91
2,06
1,84
3,91
2,07
1,82
khi xây dựng khu công nghiệp trong xã.
3.1.2.3 Tình hình cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội
Với bất kì địa phương nào muốn kinh tế phát triển thì vấn đề điện,
đường, trường, trạm phải đi trước một bước. Chỉ có như vậy mới tạo điều
kiện cho phát triển kinh tế cũng như các vấn đề xã hội. Nhận thấy tầm quan
31
Khoá luận tốt nghiệp
Vũ Ngọc Dũng - Lớp KTB51
trọng của vấn đề này xã Dương Quang đã tập trung cho giao thông, hệ thống
thuỷ lợi cũng như trang bị cơ sở vật chất cho giáo dục đào tạo từ nhiều năm
trước. Tính đến năm 2009 về cơ bản xã đã có trạm y tế, trường học đạt chuẩn
quốc gia. Vì vậy mà quá trình xây mới không diễn ra, xã chỉ tập trung tu sửa và
phát triển nguồn nhân lực cũng như chăm sóc sức khoẻ cho bà con trong xã.
Về giao thông: Xã có đường quốc lộ 5 chạy qua cùng hệ thống đường
liên thôn, liên xã. Hiện xã có 8/8 thôn cơ bản đã cứng hoá bê tông đường giao
thông nông thôn. Tuy nhiên trong tương lai vẫn cần phải đầu tư, nâng cấp thì
mới đáp ứng được nhu cầu phát triển và lưu thông hàng hoá như hiện nay.
Về thuỷ lợi: Xã có các kênh mương tưới tiêu nội đồng, các trạm bơm
được phân bố khá hợp lý. Mặc dù vậy trong giai đoạn tới để đáp ứng kịp thời
nhu cầu tưới tiêu cần làm thêm một số tuyến kênh mương nữa đồng thời nạo
vét và cứng hoá các công trình hiện có.
Hệ thống điện: toàn xã có 9 trạm biến thế với số hộ dùng điện là 100%.
Như vậy xã đã có hệ thống điện tương đối tốt và tỉ lệ hộ dùng điện là rất cao
so với nhiều xã trong toàn tỉnh.
Giáo dục đào tạo: trong những năm qua dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ,
sự nghiệp giáo dục trong toàn xã luôn được giữ vững và phát triển cả về quy