hiện thực và huyền ảo trong tác phẩm trăm năm cô đơn của márquez - Pdf 43

Đề tài: HIỆN THỰC VÀ HUYỀN ẢO TRONG TÁC
PHẨM TRĂM NĂM CÔ ĐƠN CỦA MÁRQUEZ


1. HUYỀN THOẠI NHƯ MỘT PHƯƠNG THỨC NGHỆ THUẬT ĐẶC TRƯNG
TRONG TRĂM NĂM CÔ ĐƠN
1.1. Macondo – không gian huyền ảo, thần thoại
Trở đi trở lại nhiều lần trong các sáng tác của Márquez ở cả truyện ngắn, truyện vừa và
tiểu thuyết, Macondo là không gian hư cấu đặc trưng mang tính liên văn bản, xuất hiện
trong nhiều sáng tác của nhà văn như: Bà già Montien, Một ngày sau thứ bảy, Buổi
chiều kỳ diệu của Bantaxa, Độc thoại ngắm mưa của Isabel ở làng Macondo, Biển của
thời đã mất, Đám tang Bà mẹ vĩ đại, Ngài đại tá chờ thư…
Đây là thành phố do Márquez tưởng tượng ra, nơi đây ông đã chắp cánh cho biết bao
câu chuyện quái dị và hấp dẫn. Aracataca quê hương tác giả sống có nhiều điểm tương
đồng với Macondo. Cho đến nay, người dân Aracataca tự hào với cái tên Macondo và tự
hào đón chào du khách bằng tấm biển: “Welcome to Macondo” (Chào mừng các bạn
đến với Macondo). Trong tiếng địa phương, “ara” chỉ một con sông nhỏ, còn “cataca”
là tên của một tộc người cư trú ở đó. Macondo trong mỗi tác phẩm của nhà văn lại có
những nguồn gốc tên gọi khác nhau.
Macondo trong Trăm năm cô đơn là một thị trấn nhỏ bé nhưng mang tầm vóc Mỹ
Latinh. Nơi đây chứng kiến bao thăng trầm của cả một dòng họ, một cộng đồng dân cư.
1.1.1. Hành trình khám phá ra Macondo khác thường
Về mặt địa lý, Macondo gắn với cuộc hành trình đi tìm biển nhằm thoát khỏi mặc cảm
tội lỗi của vợ chồng José Arcadio Buendía và một nhóm bạn bè của ông. Hai nhân vật
lập ra làng Macondo có những nét tương đồng với ông ngoại (người hay nặn hình
những con cá vàng) và bà ngoại nhà văn (người thường đổ những chiếc kẹo hình con
thú). Cuộc chạy trốn ấy bắt nguồn từ huyền tích của tổ tiên José Arcadio Buendía và
Úrsula. Sau thảm họa bị tên cướp biển Francis Drake tấn công, bà tổ của Úrsula quá
kinh ngạc đến mức quẫn trí ngồi vào bếp than hồng, kết quả là những vết sẹo cháy đã
biến cụ thành “người vợ ăn bám suốt đời”. Kể từ đó, cụ thu mình trong ốc đảo của riêng
mình, bị ám ảnh bởi ý nghĩ người mình phả ra mùi khó chịu. Tự cụ tổ bà của Úrsula

Buendía không những không chạy trốn được bóng ma Prudencio mà còn rơi vào cái bẫy
do chính mình gài sẵn. Cuối cùng, cục diện thay đổi hoàn toàn, bóng ma ông chạy trốn
lại trở thành bạn tâm giao lúc sắp lìa đời. Ngược lại, những người thân yêu nhất lại trở
nên xa lạ. Ngay cả giải pháp gia đình chọn: trói ông dưới một gốc cây dẻ khi ông mắc
chứng điên loạn cũng là nguyên nhân đẩy ông đến vương quốc cô đơn nhanh hơn.
1.1.2. Nguồn gốc và ý nghĩa tên gọi Macondo - huyền thoại
Về mặt tên gọi, cái tên Macondo cũng không xuất phát từ cơ sở phong thủy, địa lý, mà
lại xuất phát từ giấc mơ kì lạ của José Arcadio Buendía. “Trong đêm ngủ lại bên một
con sông nhiều đá, nước trong như một dải pha lê đông lạnh, José Arcadio Buendía nằm
mộng thấy ngay ở đó một thành phố đông vui với những ngôi nhà có tường kính mọc
lên. Ông hỏi đó là thành phố gì và được trả lời bằng một cái tên chưa bao giờ nghe thấy
và chả có ý nghĩa gì nhưng nó cứ vang vọng trong mơ: Macondo. Ngay ngày hôm sau,
ông thuyết phục các bạn mình rằng sẽ chẳng bao giờ bọn họ tìm thấy biển. Ông hạ lệnh
cho họ phát quang một vùng bên cạnh sông, nơi thoáng mát hơn và tại đó họ lập làng” .
Tưởng như ngẫu nhiên, nhưng với Márquez lại là ý đồ nghệ thuật. Đặc biệt, bản thân ý
đồ nghệ thuật đó cũng mang màu sắc huyền thoại. Tác giả cũng không lý giải được cái


tên Macondo có thật hay không. Trong ngôn ngữ Bantu, Macondo nghĩa là chuối. Loài
cây này trở đi trở lại trong suy nghĩ của cậu bé hay ưu tư và sầu muộn ngay từ thủa còn
thơ. Trong Hồi ức Sống để kể lại,Márquez kể rằng trong dịp cùng mẹ về Aracataca để
bán ngôi nhà cũ của bà ngoại, tàu dừng lại trước một đồn điền trồng chuối mang tên
Macondo. Lớn lên, ông nhận rằng hồi đó mình rất thích cái tên Macondo vì khi đọc
nghe rất nên thơ.
Khi dùng tên gọi Macondo trong tác phẩm của mình, ông tìm thấy trong một cuốn Bách
khoa toàn thư giải thích đó là một loài cây vùng nhiệt đới, giống cây gạo nhưng không
có hoa và quả, thân gỗ xốp thường được dùng làm thuyền độc mộc và đồ dùng nhà bếp.
Tiếp đó, ông lại phát hiện ra trong một cuốn Bách khoa toàn thư của Anh ghi rằng ở
Tanganyika có một tộc người du mục tên là Makondos. Nhà văn cho rằng cách giải
thích này là hợp lý hơn cả. Tuy nhiên, Márquez cũng nói rằng ông đã từng nhiều lần hỏi

trượng José Arcadio Buendía ra đi trong cơn mưa hoa vàng. Các nhân vật và cả làng
Macondo dường như chỉ có một phần nhỏ bé thuộc về trần thế.
Trong suốt quá trình phát triển của mình, khung cảnh và những biến cố gắn với
Macondo thực sự chỉ có trong mơ. Thế nhưng, nhà văn lại cho người ta cảm giác đó là
giấc mơ có thật. Bởi lẽ, ở nơi đó, cuộc sống thường nhật của con người vẫn diễn ra, chỉ
có điều, theo cách riêng của họ.
Cảnh tượng ban đầu của Macondo quả thật mới chỉ thấy trong cổ tích. Đó là “một ngôi
làng gồm vài chục nóc nhà trách vách đất dựng bên bờ con sông nước trong như pha lê,
ào ào chảy qua những tảng đá nhẵn thín thời tiền sử. Thế giới lúc ấy còn ở buổi hồng
hoang, chưa có tên gọi các đồ vật và để gọi chúng cần phải dùng ngón tay chỉ đích vào
từng cái một”. Nơi đó không có ai quá ba mươi tuổi, không có người chết và nghĩa địa.
Người ta chỉ thấy những ngôi nhà trắng như những con bồ câu, nghe được tiếng chim
hót líu lo với đủ các loại chim hoàng yến, tổ đỏ, axuleho. Hơi thở thanh bình của cuộc
sống tràn đầy, khiến người ta có cảm giác đó là một không gian lý tưởng cho cuộc sống
của con người. Sự thật, đó là lại một không gian khép kín, tù túng, và chỉ thật sự bộc lộ
điểm yếu của mình khi họ sống cô đơn, thu mình trong ốc đảo lạnh lẽo. Nó chỉ giữ
được vẻ thanh bình ấy trong một thời gian ngắn, khi chưa có những xáo trộn của cuộc
sống, chưa có sự xuất hiện của người Digan và người Ả Rập.
José Arcadio Buendía và bạn bè của mình sau những ngày tháng miệt mài tìm kiếm con
đường để giao lưu với bên ngoài đã hoàn toàn tuyệt vọng, Macondo đã bị nước vây
quanh, là một ngôi làng tù đọng, như chính quan niệm địa lý về Aracataca cũng như Mỹ
Latinh của Márquez. Chính vì thế, nhà văn gửi gắm vào hình tượng Macondo ước mơ
về một xã hội văn minh, nói cách khác chính là không gian đối thoại, không gian giao
lưu văn hóa của quê hương mình.
Sự xuất hiện của những cái được gọi là văn minh do người Digan và Ả Rập mang tới
hầu hết đều đem đến thảm họa cho Macondo. Bản thân những phát minh ấy là hữu ích,
tiến bộ, nhưng do cách tiếp nhận thiếu hiểu biết, thậm chí mù quáng của dân làng
Macondo mà trở nên phản tác dụng. José Arcadio Buendía sẵn sàng đổi mọi của cải làm
ra để được trải nghiệm những phát minh. Ông thậm chí ngồi hàng giờ để nấu vàng, và
cuối cùng là bao nhiêu tích lũy của vợ bị ông làm tiêu tan hết. Ông nhận thức được tính

trên bếp, ngạc nhiên thấy rằng sao nó lâu sôi thế và cụ thấy giòi bọ đầy nồi sữa”. Vào
những năm cuối đời mình, Amanta cũng đã linh tính được rằng cái chết của mình sẽ
đến sớm hơn dự định vài năm nên bà đã tự may đồ liệm cho mình và nhận những bức
thư của người còn sống mang xuống mộ gửi cho người đã chết.
Đó là khả năng đồng cảm tuyệt vời giữa hai chú bé Hôsê Accađiô Sêgunđô và
Aurêlianô: khi người này uống nước chanh thì người bên kia nói đúng một trăm phần
trăm là nước chanh không pha đường, bên cạnh đó họ còn có những đặc điểm sinh hoạt
giống nhau “họ cùng dậy một lúc, cùng vào nhà tiêu một giờ, cùng chịu cơn trái nắng
trở trời và họ mơ thấy giấc mơ giống hệt nhau”. Chỉ khi lớn lên họ mới mang những nét
khác biệt nhau, nhưng đến khi chết họ lại giống nhau như đúc khiến người ta nhầm lẫn
người này sang người khác như khi họ còn nhỏ. Những linh tính, điềm báo đó nó như


một thứ giác quan thứ sáu giúp con người cảm nhận dược những sự việc, những biến cố
quan trọng sẽ xảy ra trong cuộc đời mình hoặc của những người thân mình.
Những hiện tượng đó khó giải thích, nhất là ở làng Môcônđô còn chìm đắm trong u mê
lạc hậu này nhưng nó đã tồn tại trong nhận thức của dân chúng thời xưa. Nó như một
biến ảo kì diệu được cảm nhận bằng tâm linh, dựa trên niềm tin về một thế giới vô hình
của người dân. Đây là những hiện tượng thuộc đời sống trực quan tiền lôgic của dân
chúng mà theo G.Marquez đó là những hiện tượng có thật trong đời sống ý thức của
người dân Mỹ Latinh. Thực chất những hiện tượng đó có mặt khắp mọi nơi, tồn tại
trong mọi dân tộc nhưng nó đã được G.Marquez đưa vào tác phẩm, tạo thành những nét
độc đáo trong nghệ thuật xây dựng tác phẩm của ông. Trong sáng tác của ông người đọc
bắt gặp ông sử dụng nhiều đặc điểm của hiện tượng này, tạo nên một nét độc đáo riêng
trong phong cách sáng tác của G.Marquez.
1.2.2 Hình ảnh thiên nhiên kì diệu, dị thường
Marquez đưa vào tác phẩm những hiện tượng đời sống tinh thần kết hợp với cảm
quan người nghệ sĩ. Đó có thể là những vấn đề có thật trong cuộc sống, cũng có thể
là những chi tiết do tác giả tưởng tượng ra nhưng được tái hiện qua lăng kính chủ
quan của tác giả nó cũng mang một màu sắc huyền ảo. Vì “thực tại không chỉ bao

nhiều phát minh mới nhưng cũng đưa đến không biết bao nhiêu là tệ nạ, nhiều thứ văn
hóa đồ trụy, làm cho ngôi làng hiền hòa năm nào giờ thay đổi một cách chống mặt.
Người Mỹ, ở đây là Brao rất xảo quyệt và tráo trở tìm mọi cách thoái thác những yêu
cầu chính đáng của công nhân đòi hỏi cho quyền lợi của họ, buộc họ phải đứng lên đấu
tranh. Khi cuộc đấu tranh lên đến cao trào, người Mỹ thẳng tay tắm máu công nhân
bằng một vụ thảm sát tất cả những ai có mặt ở sân ga và sau đó dùng đoàn tàu dài trăm
toa chở xác chết ném xuống biển như công ty chuối vẫn đổ chuối thối. Hình ảnh trận
mưa lụt thể hiện cảm quan của tác giả trước thực tại trì động đến ngày tận thế của Mỹ
Latinh. Một vùng đất lạc hậu, chậm phát triển so với sự biến đổi của thế giới
1.2.3. Hình tượng con người mang đặc điểm huyền thoại, ma quỷ
Hình tượng về con người quá dị có cái đuôi lợn - là câu chuyện về dòng họ Buênđya
tồn tại bảy thế hệ, người đầu tiên bị trói vào gốc cây và người cuối cùng đang bị kiến
ăn, một dòng họ tự lưu đày vào cõi cô đơn để chạy trốn tội loạn luân. Cái tội loạn luân
này khởi sự từ việc tên cướp biển Phranxit Đrăc tấn công Riôacha khiến các cụ tổ của
Ucsula Igoaran phải chuyển đến lập nghiệp ở một làng hẻo lánh. Tại đây các cụ tổ của
Hôsê Accađiô Buênđya đã lập nghiệp bằng nghề trồng thuốc lá. Qua ba thế kỷ, hai dòng
họ này đã có quan hệ thâm giao, cháu chắt họ lấy lẫn nhau dẫn tới thảm hoạ đẻ ra một
người đàn ông có đuôi lợn. Chính cái gương tày liếp này đã khiến cha mẹ Hôsê Accađiô
Buênđya và Ucsula Igoaran tìm mọi cách ngăn cản nhưng họ vẫn cứ lấy nhau. Khi đã là
vợ chồng rồi và dẫu Hôsê Accađiô Buênđya tuyên bố "dù có đẻ ra kỳ đà anh cũng cóc
cần". Ucsula Igoaran vẫn sợ đẻ ra đứa con có đuôi lợn, nên khi đi ngủ bao giờ cô cũng
mặc chiếc quần trinh tiết do mẹ may cho… Và rồi, những Hôsê Accađiô và những
Aurêlianô, những Rêmêđiôt và những Amaranta đã ra đời, sống cuộc đời với số phận bi
đát dường như đã được định trước: lay lắt trong nỗi cô đơn và hoài nhớ, thấp thỏm lo
phạm tội loạn luân. Và một thảm cảnh vì không biết rõ gốc gác, không nắm được
quan hệ ruột thịt, Amaranta Ucsula và Aurêlianô Babilônia đã yêu nhau mãnh
liệt, ăn nằm với nhau và lấy nhau với hy vọng tình yêu sẽ cải tạo nòi giống mình.


Nhưng họ đã đẻ ra đứa con quái thai có đuôi lợn và con vật huyền thoại này đã kết

trong thế giới nhân vật đó, tác giả dùng những biện pháp miêu tả, cường điệu,
phóng đại với phong cách quái dị pha trộn với phong cách kỳ diệu, huyền thoại và
đời thường kết hợp với hiện thực và huyền ảo để tạo nên những con ngươi phi
thường, quái dị.
Đầu tiên phải kể đến nhân vật Menkyađêt – một con người phi thường, ông già
thông thái, người gắn bó với nhiều thế hệ trong gia đình Buênđya. Menkyađêt hiện lên


trong tâm trí người đọc với hình ảnh một người đàn ông đầu đội mũ cách quạ mang
nhiều nét huyền bí về lai lịch và thân thế. “Một người Digan lực lưỡng, hàm râu lởm
chởm, bàn tay lông lá, tự giới thiệu mình là Menkyađêt, làm ngay một thí nghiệm kinh
rợn trước công chúng về cái mà ông ta gọi là kỳ quan thứ tám của các nhà thuật sĩ về
luyện đá giả kim uyên bác xứ Masêđoan”. Cùng với những người trong bộ tộc của
mình, ông đã mang những phát minh vĩ đại của thế giới bên ngoài để giới thiệu cho dân
làng Macônđô và đã làm kinh ngạc những người dân sống khép kín đến u mê lạc hậu
nơi đây. Menkyađêt trở thành người bạn thâm tam giao của Hôsê Accađiô Buêđya và đã
khơi nguồn đam mê nghiên cứu khoa học của ông.
Một nhân vật nữa được G. Marquez xây dựng mang nhiều nét phi thường, quái dị
là nàng Rêmêđiôt – người đẹp, con gái Accađiô Hôsê và nàng Santa Sôpia
Dêlapieđat. Nàng được miêu tả là một thiếu nữ tuyệt trần, vẻ đẹp của nàng ngơ ngẩn
biết bao nhiêu người đàn ông vô tình nhìn thấy. Có biết bao nhiêu chàng trai si mê và đã
chết oan vì nàng. Kẻ chết gục ngoài song cửa sổ. Kẻ lao đầu từ mái nhà xuống chết
tươi. Kẻ bị ngựa đá dập ngực mà chết. Lại có kẻ say mê nàng lại hóa rồ. Rêmêđiôt –
người đẹp được xem người hơi thở “không phải là làn hơi ái tình mà là luồng khí giết
người”. Nhưng “thực ra Rêmêđiôt – người đẹp không phải là người thuộc cõi thế tục
này. Cho đến nay khi cô đã qua tuổi dậy thì từ lâu rồi… hai mươi tuổi đầu rồi mà cô
vẫn chưa học đọc và học viết, vẫn chưa ngồi vào bàn ăn và tự dùng lấy thìa nỉa, vẫn cứ
để truồng thổn thển đi lại trong nhà bởi vì bản thể trong người cô không chịu được bất
kỳ hình thức lễ nghi nào”. Nàng sống với những hồn nhiên, ngây thơ, khờ dại mà không
để ý đến bất kỳ lời ong bướm nào của những người đàn ông đau khổ thể hiện tình yêu

Khi đọc tác phẩm, người đọc không khỏi ngạc nhiên và buồn cười trước những
đặc điểm dị thường, quái dị của nhân vật Pêtra Côtêt. Đó là tình dục của cô ta có
ảnh hưởng quyết định đến tính mắn đẻ của bầy gia súc, “Chỉ cần anh mang Pêtra Côtêt
đến các chuồng trại, để ả ngồi trên ngựa, dẫn ả đi chơi các trang trại là đủ cho súc vật
của anh phải sinh đẻ rất nhanh”. Aurêlianô Sêgunđo là tình nhân của ả, sự nồng thắm
trong yêu đương của hai người không chỉ giúp họ thỏa mãn hạnh phúc mà khiến cho
đàn gia súc của họ sinh sôi nảy nở một cách nhanh chóng đến mức kì lạ, mang tính chất
hoang đường.

2. Hiện thực và phương thức huyền thoại hóa hiện thực trong Trăm năm cô đơn
2.1. Hiện thực
Trong tác phẩm Trăm năm cô đơn chúng ta có thể nhận thấy chủ nghĩa hiện thực trong
tác phẩm được thể hiện qua những yếu tố khách quan trong hiện thực đời sống và chủ
quan. Và trong tác phẩm ta còn thấy yếu tố hiện thực nó còn bị xóa nhòa làm cho người
đọc tưởng chừng nó là những ảo ảnh.
2.1.1 Yếu tố hiện thực được thể hiện qua hiện thực khách quan và chủ quan trong
tác phẩm
2.1.1.1Thứ nhất là chủ nghĩa khách quan trong tác phẩm
Những sự kiện lịch sử từng xảy ra ở Côlômbia và Mỹ Latinh được tác giả tái
hiện chính xác tới từng chi tiết. Ðó là cuộc nội chiến triền miên và khốc liệt giữa phái


Bảo hoàng và phái Tự do. Sĩ quan hai phái ban ngày đánh nhau kịch liệt, ban đêm làm
bạn cờ bạc. Trong Trăm năm cô đơn, điều đó được phản ảnh trong quan hệ bạn bè giữa
đại tá Aurêlianô và tướng Raken Môncađa.
VD:
Aurêlianô, hãy lấy vợ đi", ông bố vợ bảo anh. "Ta có sáu đứa con gái để cho anh
kén đấy". Có một lần, có lẽ sự việc xảy ra trước ngày bầu cử, đông Apôlina Môscôtê từ
trên tỉnh về làng đầy lo âu trước tình hình chính trị của đất nước. Những người thuộc
phái Tự do đã sẵn sàng lao mình vào cuộc chiến. Vì lúc ấy, Aurêlianô còn có những

hai thanh nam châm. Hoặc là Hôsê Accađiô Buênđya, ngay đến an ủi vợ cũng không có
ý định, đã vội dốc toàn lực vào những việc thí nghiệm với đam mêcủa một nhà khoa
học và hơn thế nữa còn dấn thân vào những nguy hiểm chết người. Ðể làmrõ hiệu quả


của kính lúp đối với quân địch, chính ông đã tự mình đứng ngay vào vùng ánh sánglà
nơi kính lúp đã hội tụ tia nhiệt mặt trời, và ông bị bỏng, những vết bỏng này trở thành
ung nhọt phải mất nhiều thời gian mới chữa lành.
Ngoài ra còn có thước đo góc, la bàn, nước đá (ở phần đầu), máy hát, máy nổ,
phim ảnh, xe lửa (ở phần cuối). Ðó là những công cụ từng được sáng chế và sử dụng
phổ biến trên thế giới nhưng vẫn là những thứ tân kì đối với dân chúng Macônđô. Do
làng ẩn sâu và tách biệt với thế giới ngoài đời chính vì thế mà những phát triển lạc hậu
đó, mà Accađiô Buênđya tưởng rằng đó là những phát triển của khoa học và anh ta bị
cuốn vào đó mà không biết rằng những cái vật đó nó đã lạc hậu rồi.
2.1.1.2 Thứ hai là chủ nghĩa chủ quan trong tác phẩm
Cái có thực mang tính chất kì diệu được tác giả đưa vào tác phẩm. Ðó là khả
năng ngoại cảm tuyệt vời của đại tá Aurêlianô Buênđya. Ðó là sự đồng cảm tuyệt đối
giữa hai chú bé sinh đôi khi người này uống nước chanh thì người kia, mặc dù không
uống, vẫn cứ nói đúng trăm phần trăm là nước chanh không pha đường..
Cái có thực được nhà văn tưởng tượng theo nguyên tắc huyền thoại hoá đẩy nó
tới mức phi thường hoặc quái dị. Ðó là trường hợp Rêmêđiôt - Người đẹp là một cô hầu
người Anhđiêng. Cô ta vốn không đẹp. Cô ta vô cớ bỏ nhà chủ và chủ nhà không hay
biết cô ta bỏ đi lúc nào và đi đâu. Trong Trăm năm cô đơn, cái cô người ở ấy đã trở
thành người trong gia đình, người đẹp và cô ta đã bay lên trời vì cô ta là hiện thực là cái
đẹp không thuộc cõi thế tục này. Ngược lại với trường hợp cô gái là vụ thảm sát hơn ba
ngàn người là chuyện có thực từng xảy ra ở Côlômbia vào cuối những năm hai mươi
thế kỉ này, nhưng đã được Gacxia Mackêt huyền thoại hoá theo hướng quái dị để bộc lộ
bản chất xấu xa, đê tiện, tàn nhẫn của tư bản Mỹ.
Tóm lại : Yếu tố hiện thực khách quan và chủ quan trong tác phẩm ta thấy nó được
nhà văn thể hiện với sự trộn lẫn và dường như bị xóa nhóa những sự kiện hiện thực

thế hệ sau trẻ em được học trong sử ký rằng chẳng hề có cuộc đình công hay thảm sát
nào và thậm chí chẳng có cái đồn điền trồng chuối nào ở đó cả!
Nói tóm lại : Trong tác phẩm Trăm năm cô đơn, chúng ta người dân ở đó có thể xem
những điều phi hiện thực là hiện thực, nhưng chính họ lại xem những điều có thật,
hiện thực lại là những điều không hề có bởi họ bị đánh lừa bởi một hệ thống chính
trị gian manh.

2.2. Huyền thoại hóa hiện thực
Mọi yếu tố lịch sử hay mọi sự sáng tạo nên huyền thoại mới trong Trăm năm cô
đơn cũng chỉ nhằm phục vụ mục đích cốt lõi của tiểu thuyết: khám phá hiện sinh con
người (hiện thực). (Note: trong TNCD, có rất nhiều hiện thực được xây dựng trên
phương thức huyền thoại hóa. Ở đây, tập trung làm rõ hai yếu tố huyền thoại phản ánh
hiện thực bao trùm tác phẩm là Huyền thoại về đại hồng thủy và Huyền thoại về motif
loạn luân)
- Huyền thoại về đại hồng thủy, các dân tộc trên thế giới đều lưu truyền huyền thoại về
đại hồng thủy với những phiên bản khác nhau tùy theo văn hóa từng vùng đất. Trong
Trăm năm cô đơn, Marquez đã tái hiện lại huyền thoại ấy nhưng với một sự tái hiện
hiện thực và một ý nghĩa hiện sinh hoàn toàn khác. Về mặt lịch sử, trận đại hồng thủy
mang hai tầng ý nghĩa cùng phản ánh thực tại của Colombia và Mĩ Latin. Thứ nhất, đại
hồng thủy là ẩn dụ cho hậu quả của công cuộc khai thác tàn bạo đến mức kiệt quệ của
công ty chuối lên mảnh đất này. Ngôi làng Macodon không còn giữ được bản sắc của
mình mà phụ thuộc hoàn toàn vào những ảnh hưởng bên ngoài, công ty chuối rút đi đã


mang theo cả cuộc sống thinh vương, phát đạt và gây racảnh hoang tàn, ảm đạm cho
ngôi làng. Thứ hai, hồng thủy là một dạng của cổ mẫu nước cùng với ý nghĩa gột rửa tất
cả những hành viđộc ác, những tội lỗi để tái sinh một cuộc sống mới. Theo đó, đại hồng
thủy dội xuống ngôi làng Mancodon quết sạch những hậu quả của công ty chuối để lại
nơi đây. Những khácvới huyền thoại, trong Trăm năm cô đơn, cơn hồng thủy đi qua
không mang lại sự tái sinh, ngược lại, nó theo một thảm họa khác hủy diệt Mancodo.

nghĩa đó, motif loạn luân trong Trăm năm cô đơn mang ý nghĩa khác xa với huyền thoại
vì nó mang hơi thở của cuộc sống hiện đại. Hơn hết, từ bi kịch một dòng họ, một ngôi
làng, Marquez đã mở rộng ra vấn đề đất nước, thậm chí toàn châu lục. Theo đó, trong


quá trình phát triển của mình nếu Colombia và khu vực Mĩ Latin đóng kín cửa không
giao lưu với thế giới bên ngoài thì sẽ mãi trong đói nghèo lạc hậu
Ngoài ra, phương thức huyền thoại hóa hiện thực còn được thể hiện ở rất nhiều
chi tiết khác như sau:
- Nhân vật Premediot bay lên trời cùng những chiếc khăn thô vàomột buổi chiều tháng
ba được xây dựng dựa trên hình tượng Đức mẹ Maria, huyền thoại này nhằm chỉ một
tình huống hiện sinh, khi cái đẹp đang từ bỏ loài người hoặc thế giới này đã không còn
chỗ cho cái đẹp trú ngụ.
- Amaranta Ursular đẻ ra đứa con có cái đuôi lợn huyền thoại thì thân phận hiện sinh
của loài người đã đến lúc cáo chung bởi một tình yêu mù quáng, loạn luân sẽ là sự tuyệt
diệt của con người.
- Vụ thảm sát hơn ba ngàn người ở Comlobia xảy ra cuối những năm 20 thế kỷ 20 đã
được huyền thoại hóa thành quái dị để tố cáo bản chất xấu xa đê tiện tàn bạo của tư bản
Mỹ.
- Huyền thoại về dòng máu của Jose Arcadio chảy dài trên phố về báo tin cho mẹ về
cái chết, thì nó đã chỉ ra tình trạng hiện sinh đẫm máu của thời hậu hiện đại, thời đại mà
con người trước khi chết không bao giờ bị tuyên án như tinh thần “Vụ án” Kapka,
không biết lí do và sẽ chẳng ai trong dòng thời gian miên viễn có thể biết được lí do mà
mình bị giết, một ám dụ về thời đại khủng bố ngày nay.
- Quỷ dữ Giudio Erante lại được xây dựng dựa trên Kinh Thánh, nó phản ánh quá trình
đàn áp Do thái giáo lẫn các tín ngưỡng địa phương của Kyto giáo.
- Sự kiện Amaranta trước khi chết đã thông báo với dân làng sẽ mang giúp thư của họ
xuống âm phủcho những người thân đã chết của họ xuất phát từ ma thuật và tín ngưỡng
của người Indian, người da đen nô lệ.
- Cơn bão tố khủng khiếp nhấn chìm làng Macondo cuối tác phẩm không phải nhằm

nhiều yếu tố huyền ảo.
Cả yếu tố thực và ảo trong tác phẩm đều được tác giả dùng để phản ánh một vấn
đề nào đó.
VD: Cái thực để thấy được tình hình xã hội Mỹ La tin bấy giờ… chiếc
kính lúp đã làm khuynh đảo gia đình…
“Ðể làm rõ hiệu quả của kính lúp đối với quân địch, chính ông đã tự mình
đứng ngay vào vùng ánh sáng là nơi kính lúp đã hội tụ tia nhiệt mặt trời,
và ông bị bỏng, những vết bỏng này trở thành ung nhọt phải mất nhiều thời
gian mới chữa lành. Suýt nữa ông đốt nhà vì không thể chịu nổi những lời rỉa
rói của bà vợ, người từng cảnh giác trước nỗi nguy hiểm của phát minh
này.”
Cho thấy XH còn mông mụi…
Đôi khi, cả thực và ảo đan xen cùng nhau tạo ra một hiệu quả nghệ thuật nhất
định.
VD: Hiện thực trước mắt là Aghila đã chết, hiện thực tồn tại lúc bấy giờ
là nỗi đau đớn khi đồng loại chết dưới tay mình, sự ân hận và nỗi ám ảnh
đeo bám Buendia, kết hợp với chi tiết huyền ảo là bóng ma hiện lên sống
động đứng đối diện, đối mặt trực tiếp với hung thủ như đòi lại công bằng
để bớt sau đớn. Mazquez kéo hai thế giới âm dương lại gần với nhau, ông
xóa bỏ khoảng cách giới hạn giữa cõi sống và cõi chết, cho rằng chúng
đều bằng nhau. Tất cả những điều đó cùng nhấn mạnh không gian và thời
gian huyền ảo hiện thực đan xen…chỉ tâm trạng dằn vặt của Buendia.




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status