Thời gian và không gian huyền thoại trong Trăm năm cô đơn của Gabriel García Márquez - Pdf 25


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ HẢO

THỜI GIAN VÀ KHÔNG GIAN HUYỀN THOẠI TRONG
TRĂM NĂM CÔ ĐƠN CỦA
GABRIEL GARCÍA MÁRQUEZ

Chuyên ngành: Văn học nước ngoài
Mã số: 60 22 30
TRONG TRĂM NĂM CÔ ĐƠN CỦA GABRIEL
GARCÍA MÁRQUEZ Luận văn thạc sĩ chuyên ngành: Văn học nước ngoài
Mã số: 60 22 30
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Đào Duy Hiệp Hà Nội - 2010
Luận văn Thạc sĩ Nguyễn Thị Hảo - Cao học Văn K52
1

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 2
1. Lí do chọn đề tài 2
2. Lịch sử vấn đề 3
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9
4. Phương pháp nghiên cứu 9
5. Cấu trúc luận văn 9
6. Yêu cầu cần đạt 9
CHƯƠNG 1. HUYỀN THOẠI VÀ CHỦ NGHĨA 11
HIỆN THỰC HUYỀN ẢO 11

TÀI LIỆU THAM KHẢO 78
PHỤ LỤC 80
Luận văn Thạc sĩ Nguyễn Thị Hảo - Cao học Văn K52
2 MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài

Luận văn của chúng tôi lựa chọn đề tài Thời gian và không gian huyền thoại
trong Trăm năm cô đơn của Gabriel García Márquez xuất phát từ những lí do
sau đây:
Thứ nhất: Chủ nghĩa hiện thực huyền ảo Mỹ Latinh thế kỉ XX là một trào lưu
văn học tiêu biểu, đã khẳng định được vị trí ưu việt của mình trên văn đàn thế
giới. Tuy nhiên, ở Việt Nam, những nghiên cứu về mảng văn học này còn lẻ tẻ
và chưa thành hệ thống. Hầu hết các nghiên cứu mới dừng lại ở những bài giới
thiệu, dịch thuật về tác phẩm, tác giả. Vì thế, đi vào địa hạt văn học này nằm
trong mong muốn góp phần hoàn thiện cái nhìn về văn học thế giới ở Việt Nam
ở chúng tôi.
Thứ hai: Márquez (nhà văn Columbia) là một cây bút xuất sắc của văn học
hiện thực huyền ảo Mỹ Latinh. Ông thành công trên cả thể loại tiểu thuyết và
truyện ngắn với các tác phẩm nổi tiếng: Trăm năm cô đơn (One Hundred Years
of Solitude, 1967), Ngài đại tá chờ thư (No one write to the Cononel,
1957)…Trong đó, ưu thế sáng tác thuộc về tiểu thuyết. Đồng thời, tiểu thuyết
cũng là một trong những thể loại “đinh” của văn học. Vì thế, chúng tôi tập trung
vào tiểu thuyết của tác giả, cụ thể là tác phẩm Trăm năm cô đơn (One Hundred
Years of Solitude).
Xuất bản lần đầu vào tháng 6 năm 1967 nhưng thực tế, Trăm năm cô đơn đã
được tác giả hoài thai trước đó hơn một thập kỷ, do chưa tìm được giọng điệu
thích hợp, nên nhà văn đã rèn luyện, mài sắc ngọn bút của mình qua nhiều sáng

* Trong nước:
Từ khi Trăm năm cô đơn được Nguyễn Trung Đức dịch ra Tiếng Việt (năm
1982) đến nay, trong giới nghiên cứu xuất hiện nhiều bài viết lẻ tẻ về tác phẩm.
Trong đó, một số công trình đề cập đến thời gian và không gian trong tác phẩm
là gợi ý cho luận văn của chúng tôi như: Bài Hiệu quả nghệ thuật của không -
Luận văn Thạc sĩ Nguyễn Thị Hảo - Cao học Văn K52
4

thời gian trong tiểu thuyết Trăm năm cô đơn của Márquez của Nguyễn Trung
Đức (bài viết này cũng đã được chọn là lời giới thiệu cho bản Tiếng Việt của tác
phẩm); bài viết nhan đề Cô đơn nghĩa là sự tiêu diệt của Lê Nguyên Cẩn; bài Từ
Đông ki sốt đến Trăm năm cô đơn của Đỗ Đức Dục; công trình Thi pháp huyền
thoại của Eleaza Moiseevich Meletinsky do dịch giả Song Mộc và Trần Nho
Thìn chuyển ngữ sang Tiếng Việt; cuốn Chủ nghĩa hiện thực huyền ảo Gabriel
García Márquez của Lê Huy Bắc; Luận văn thạc sĩ Nghệ thuật tiểu thuyết Trăm
năm cô đơn của Vũ Trung Kiên.
Trong Hiệu quả nghệ thuật của không - thời gian trong tiểu thuyết Trăm năm cô
đơn của Márquez, Nguyễn Trung Đức tổng kết một cách ngắn gọn những nét cơ
bản về nội dung và nghệ thuật của tác phẩm. Trong đó, tác giả xếp không gian, thời
gian và nhân vật vào kết cấu cơ bản của tác phẩm. Ông viết: “Trăm năm cô đơn là
chuyện về dòng họ Buendía được viết tỉ mỉ đến từng chi tiết theo phương thức thời
gian đồng hiện với kết cấu phức tạp và chặt chẽ” [4, tr.12]. Trong đó, hai loại thời
gian được Nguyễn Trung Đức đặc biệt lưu ý là: thời gian văn bản thứ nhất (văn bản
tác phẩm) gắn với người kể chuyện thứ nhất - chính là thời gian tâm lý gắn với qua
trình hồi tưởng lại và thời gian văn bản thứ hai (văn bản của Melquíades) - gắn với
người kể chuyện thứ hai - chính là thời gian cốt truyện, mang tính biên niên sử. Tác
giả tiến hành phân tích hai loại thời gian này với những tiểu loại thời gian cụ thể
hơn: thời gian vĩnh cửu, thời gian vòng tròn, khép kín, thời gian đa chiều…Tuy tác
giả không phân tích trực tiếp vào thời gian huyền thoại, nhưng những phân tích về
hiệu quả nghệ thuật sử dụng thời gian của tác giả mang những dấu hiệu về thời gian

văn học viết bằng tiếng Tây Ban Nha, Đỗ Đức Dục viết: “Chính cái trào lộng
nhiều cung bậc, cái tâm lý uẩn ảo, cái chiều sâu triết lý của tác phẩm, thể hiện
bằng những thủ pháp nghệ thuật tinh vi như thời gian đồng hiện, thời gian phức
hợp và chồng chéo, như cường điệu và kệch cỡm hóa, huyền thoại hóa (…) tất cả
những cái đó thể hiện cái thực tại huyền ảo, là đối tượng mô tả của chủ nghĩa
hiện thực kỳ diệu - đặc sản của nền văn học châu Mỹ Latinh hiện đại” [3, tr.65].
Theo Đỗ Đức Dục, để giới thiệu một tác phẩm cỡ lớn như Trăm năm cô đơn
thì trước tiên cần xác định tọa độ không-thời gian của tác phẩm một cách đúng
đắn. Ông đi vào phân tích thời gian lịch sử của tiểu thuyết này, chỉ ra những nét
Luận văn Thạc sĩ Nguyễn Thị Hảo - Cao học Văn K52
6

tương đồng với hoàn cảnh lịch sử của Columbia. Đồng thời, tác giả bài viết
cũng chứng minh những cuộc đụng độ văn hóa giữa các phát minh khoa học Tây
Âu kể cả tinh thần duy lý với một nền văn minh bán khai và hết sức lai tạp cùng
tập tục, tín ngưỡng thô sơ của những người da đen (đặc biệt là người Anh điêng)
từ Châu Phi sang còn mang ý thức huyền thoại lạc hậu. Theo Đỗ Đức Dục, đó là
thời đại đã nảy sinh ra những áng trào lộng tuyệt vời. Tình trạng trì đọng, chậm
phát triển của Mỹ Latinh sản sinh ra Trăm năm cô đơn dung chứa cả tiếng cười
ngậm ngùi cay đắng của Don Kihoté lẫn tiếng cười giòn giã của Gargantua và
Pangtagruyel, yếu tố kệch cỡm (grotesque), hội giả trang (carnavalesque) và
bợm nghịch (picaresque) của văn học Tây Ban Nha.
Bài viết của Đỗ Đức Dục phân tích tọa độ không-thời gian là xuất phát điểm
để Márquez chắp bút cho tác phẩm. Nó là gợi ý hữu ích khi chúng tôi phân tích
cấp độ trật tự thời gian trong tác phẩm.
Thi pháp huyền thoại của Eleaza Moiseevich Meletinsky được dịch ra tiếng
Việt và xuất bản năm 2004 dành 4 trang (trang 503 – 506) nói về tác giả Márquez
và các tác phẩm của ông (chủ yếu là Trăm năm cô đơn) với tư cách là cây bút đại
diện cho những dạng thức huyền thoại hoá khác nhau trong tiểu thuyết hiện đại.
Tác giả nhận định mối quan hệ giữa không gian và thời gian là một trong những

Garcia Márquez của tác giả Lê Huy Bắc chia làm hai phần với các nội dung:
Chủ nghĩa hiện thực huyền ảo và Gabriel Gacía Márquez. Phần nói về sáng tác
của Márquez là tập hợp các bài viết của tác giả đã được đăng tải trên các báo, tập
san, có bổ sung một số bài mới. Trong đó, chương 6 trực tiếp đề cập đến tác
phẩm Trăm năm cô đơn trên các phương diện: cốt truyện, nhân vật, huyền thoại
về cái cô đơn, trần thuật. Phần 5 trong chương 6 đề cập đến Macondo huyền
thoại. Trong đó, tác giải thích nguồn gốc tên gọi Macondo và quá trình hư cấu để
tìm ra tên gọi này. Tác giả cũng phân tích quá trình hình thành, phát triển và diệt
vong của làng Macondo gắn với yếu tố huyền thoại. Phần 6: “Trần thuật mê lộ -
biên niên sử huyền ảo” đề cập đến thời gian nhưng chủ yếu tập trung vào yếu tố
tự sự. Những phân tích của tác giả về thời gian không gian trong công trình này
cũng là những gợi ý bổ ích cho đề tài của chúng tôi.

Luận văn Thạc sĩ Nguyễn Thị Hảo - Cao học Văn K52
8

* Ngoài nước:
Một số bài nghiên cứu rất có ích cho chúng tôi trong quá trình tìm đề tài như:
Bài của Jon Lee Anderson với nhan đề The power of Gabriel Garccía Márquez,
bài giới thiệu One Hundred Years of Solitude.
Bài viết của Anderson dài 24 trang. Đây là một công trình khái quát về cuộc
đời và sự nghiệp sáng tác của Márquez. Trong đó, tác giả đề cập đến quan điểm
sáng tác, những thăng trầm trong cuộc sống và sự nghiệp của nhà văn. Anderson
chú ý đến giá trị lịch sử được tạo ra bởi không-thời gian trong tác phẩm. Theo
ông, không-thời gian trong tác phẩm có mối quan hệ chặt chẽ, là sự kết hợp giữa
hiện thực (reality) và huyền ảo (fantastic), nhằm tạo ra tính phi thời gian
(timeless) cho tiểu thuyết.
Bài giới thiệu One Hundered Years of Solitude đi từ việc giới thiệu bối cảnh
lịch sử, biểu tượng, nhân vật, chủ đề chính… Phần 6 với tiêu đề The fluidity of
time (Trạng thái lỏng của thời gian) đề cập đến thời gian của tác phẩm. Mở đầu

Do tính chất tổng hợp của luận văn, nên chúng tôi kết hợp sử dụng các
phương pháp nghiên cứu: phê bình huyền thoại; phê bình phân tâm học; phê bình
cấu trúc; phê bình thi pháp học; phương pháp nghiên cứu liên ngành kết hợp với
các thao tác: đối chiếu, so sánh (bản tiếng Anh và tiếng Việt), phân tích, tổng
hợp, thống kê. Trong đó, phương pháp chính là phê bình huyền thoại và thi pháp
học.
5. Cấu trúc luận văn
Ngoài lời nói đầu và kết luận, luận văn bao gồm 3 chương:
Chương 1: Huyền thoại và chủ nghĩa hiện thực huyền ảo
Chương 2: Thời gian huyền thoại
Chương 3: Không gian huyền thoại
6. Yêu cầu cần đạt
Nghiên cứu đề tài này chúng tôi nhằm đạt được các yêu cầu sau đây:
Thứ nhất: Có một cái nhìn tổng quan về chủ nghĩa hiện thực huyền ảo.
Thứ hai: Tìm hiểu các cấp độ thời gian làm nên thời gian huyền thoại trong
tác phẩm Trăm năm cô đơn và ý nghĩa, vai trò của nó.
Luận văn Thạc sĩ Nguyễn Thị Hảo - Cao học Văn K52
10

Thứ ba: Nghiên cứu các kiểu không gian huyền thoại đặc trưng trong Trăm
năm cô đơn và ý nghĩa của nó.
Cuối cùng, trên cơ sở nghiên cứu thời gian và không gian huyền thoại trong
Trăm năm cô đơn, chúng tôi muốn đề xuất hướng nghiên cứu lâu dài cho các tác
phẩm và sáng tác của Márquez nói riêng và văn học hiện thực huyền ảo nói
chung. Luận văn Thạc sĩ Nguyễn Thị Hảo - Cao học Văn K52
11



thoại phát triển mạnh mẽ ở các nước phương Tây. Nhiều lí thuyết và trường
phái văn học được hình thành khi nghiên cứu huyền thoại: trường phái nghi lễ và
chức năng (đại diện: James George Frazer, Malinowski…); trường phái xã hội
học Pháp (Lucien Lévy Bruh…); lí thuyết biểu tượng về huyền thoại (E.
Cassier); lí thuyết phân tâm học (C. G. Jung…). Lịch sử phát triển và quan điểm
của mỗi trường phái đã được trình bày rất chi tiết trong các tài liêu nghiên cứu về
huyền thoại, đặc biệt là cuốn Thi pháp huyền thoại của Meletinsky.
Đi cùng với “myth” còn có khái niệm “archetype” (mẫu gốc, cổ mẫu, siêu
mẫu). Đó là những nguyên mẫu trong thần thoại, trong các câu chuyện dân gian
được sử dụng trong huyền thoại. Ở huyền thoại hiện đại, các mẫu gốc thường tồn
tại dưới dạng ẩn nên người đọc không dễ dàng nhận ra. Việc tìm ra các mẫu gốc
trong mỗi huyền thoại, đặc biệt là huyền thoại hiện đại là không thể thiếu khi
nghiên cứu ý nghĩa của các hình tượng. Nhà tâm lý học Thụy Sĩ C.G. Jung cho
rằng mẫu gốc làm cho huyền thoại không chỉ là phỏng dụ về đời sống vật chất
mà còn là đời sống tinh thần của các bộ lạc nguyên thuỷ. Nó phản ánh trực tiếp
tư duy của đối tượng được phản ánh, là hình ảnh thu nhỏ, đặc trưng cho thế giới
tâm linh của con người.
Văn học và huyền thoại có mối quan hệ chặt chẽ. Trước hết, huyền thoại là
cội nguồn của văn học. Những câu chuyện thần thoại, truyền thoại phản ánh tâm
tư nguyện vọng của con người. Nó phát triển từ hình thức truyền miệng, rồi được
ghi chép lại, sáng tác theo hình thức của văn học hiện đại. Quan trọng hơn, văn
học và huyền thoại có cùng một thuộc tính: khả năng tái hiện những quan niệm
chung nhất trong một hình thức cụ thể - cảm tính. Schelling, nhà triết học, mỹ
học Đức thế kỉ XVII, đã rút ra nhận xét có tính quy luật rằng huyền thoại là điều
kiện thiết yếu và vật chất đầu tiên của nghệ thuật, nó là vật chất nguyên sơ sinh
ra mọi cái, nghĩa là thế giới của các hình tượng nguyên thuỷ. Huyền thoại đặt
những viên gạch đầu tiên cho văn học, và sự vận động của văn học góp phần giữ
gìn và phát triển yếu tố huyền thoại.
Tùy theo phông văn hóa của mỗi vùng miền, huyền thoại sẽ có những đặc

1
http://dictionary.reference.com/browse/myth: “Myths are "stories about divine beings, generally
arranged in a coherent system; they are revered as true and sacred; they are endorsed by rulers and
priests; and closely linked to religion. Once this link is broken, and the actors in the story are not
regarded as gods but as human heroes, giants or fairies, it is no longer a myth but a folktale. Where
the central actor is divine but the story is trivial the result is religious legend, not myth."
Luận văn Thạc sĩ Nguyễn Thị Hảo - Cao học Văn K52
14

Trong tập bút ký Huyền thoại ngày nay, Roland Barthes cho rằng huyền
thoại gắn chặt với ngôn ngữ và thông tin, trong đó đặc trưng của nó là một “hệ
thống thông báo” hay một “thông điệp”. Ý nghĩa của huyền thoại thường có
nguyên cớ thông qua các loại suy.
Theo Từ điển Robert, huyền thoại là một câu chuyện hoang đường, có nguồn
gốc trong dân gian từ thời sơ khai; nó kể chuyện dưới dạng biểu tượng, những
con người, những sức mạnh thiên nhiên như là những mặt khác nhau của thân
phận con người.
Theo Claude Lévy-Strauss, huyền thoại vừa có tính lịch đại (với tư cách là
một truyện kể về quá khứ), vừa có tính đồng đại (với tư cách là công cụ cắt
nghĩa hiện tại và tương lai).
Như thế, nội hàm của huyền thoại có thể xác định là:
- Những câu chuyện kể về những điều kì diệu, hoang đường, có nguồn gốc từ
trong dân gian sơ khai.
- Nhân vật của huyền thoại thường là những người phi thường, có khả năng
đặc biệt hay có những đặc điểm kì lạ.
- Là phương tiện để phản ánh hiện thực, có ý nghĩa sâu thẳm, vĩnh cửu,
thường được thể hiện dưới dạng biểu tượng.
1.2. Thời gian và không gian huyền thoại
Huyền thoại là những câu chuyện gắn liền với cội nguồn, sự hình thành và
phát triển qua các thời kỳ của một vùng lãnh thổ. Vì thế, nó luôn gắn với thời

- Bóng tối, mùa đông, nỗi tuyệt vọng - huyền thoại về lễ khải hoàn của các
thế lực đen tối.
Như thế, thời gian huyền thoại là cách thức làm cho một câu chuyện hiện
thực bị tách ra khỏi bối cảnh lịch sử, bối cảnh xã hội của nó. Câu chuyện hiện
thực trở nên phi thời gian, cuộc sống diễn ra trong truyện có thể đã, đang và sẽ
Luận văn Thạc sĩ Nguyễn Thị Hảo - Cao học Văn K52
16

diễn ra tại bất cứ thời điểm nào mà không mất đi tính chân thực của nó. Mốc
thời gian lịch sử, thời gian xã hội trở nên không quan trọng để diễn đạt một hiện
thực vĩnh cửu thuộc về con người. Thời gian huyền thoại thường trải màu sắc
bàng bạc của nó qua sự tái điệp thời gian (xét trong trật tự niên biểu) và những
câu chuyện xảy lặp từ quá khứ đến hiện tại (của một nhân vật hay một số nhân
vật), những đoạn ngưng của hồi ức, trữ tình ngoại đề khiến người đọc khó nắm
bắt thời gian, sự mờ hóa thời gian. Thời gian mang tính nghệ thuật, không nằm ở
vỏ ngoài mà nằm trong tâm thức, bản chất của nó.
Không gian huyền thoại là không gian pha lẫn thực và hư. Người đọc cảm
giác mình đặt chân đến một miền đất vừa hư vừa thực. Không gian huyền thoại
thường có tính biểu tượng.
Theo các tác giả của triết học huyền thoại, không gian huyền thoại là không
gian cấu trúc. Nó được đặt trong sự khác biệt với không gian toán học. Trong đó,
các quan hệ gắn kết ở dạng “tĩnh”, mọi quan hệ dựa trên sự đồng nhất ban đầu.
Vì vậy, thế giới thường được xây dựng theo một mô hình xác định, theo kiểu
làng Maconđo là hình ảnh thu nhỏ của Mỹ Latinh. Những yếu tố quy định trực
giác của con người: trên/dưới, xa/gần, trái/phải, trước/sau, ngày/đêm… và các
khía cạnh giá trị: thiêng liêng/trần tục, cao cả/thấp hèn… quy định các quan hệ
trong không gian huyền thoại. Nó tạo ra các kiểu không gian đối lập, không gian
biểu tượng…
Không gian huyền thoại không nhất thiết phải là những không gian kỳ bí như
trong thần thoại: thiên đường, địa ngục hay miền đất xa lạ. Nó là hiện thực ngay

Luis Leal cho rằng chủ nghĩa hiện thực huyền ảo là “thái độ đối với hiện thực”
(an attitude toward reality).
3
Thái độ này có thể diễn tả bằng hình thức “đại
chúng” (in porpular) hay “bác học” (cultured form), thông qua phong cách tinh
tế (elaborate style) hay “thô mộc” (rustic style). Trong đó, nhà văn đối diện và
khám phá ra hiện thực.

2
http://www.public.asu.edu/~aarios/resourcebank/definitions/: “Magical realism we find the
transformation of the common and the everyday into the awesome and the unreal. It is
predominantly an art of surprises. Time exists in a kind of timeless fluidity and the unreal happens
as part of reality. Once the reader accepts the fait accompli, the rest follows with logical precision”.
3
Luis Leal, Magical Realism in Spanish American Literature. Magical Realism. Ed. Zamora and
Faris, p. 119-123.
Luận văn Thạc sĩ Nguyễn Thị Hảo - Cao học Văn K52
18

Mircea Eliade - nhà huyền thoại học Pháp khi nghiên cứu về tư duy huyền
thoại đi đến kết luận rằng huyền thoại không phải là dối trá hay ảo ảnh. Nó là
kinh nghiệm tồn tại của con người cổ xưa, nhờ đó mà họ tìm thấy lại mình và
hiểu được mình. Hiện thực mà huyền thoại nói lên là hiện thực thiêng liêng nắm
bắt được sự tồn tại và nguồn gốc của những ý nghĩa ở chiều sâu của chúng. Từ
đó, Eliade giải thích sự kháng cự dai dẳng của tôn giáo đối với những biến đổi xã
hội là do sự bền vững của các siêu mẫu, chẳng hạn như các cổ mẫu về thiên
đường đã mất, sự trở về vĩnh cửu…
Văn học Mỹ Latinh là nền văn học của 20 nước, trong đó có Brazin nói tiếng Bồ
Đào Nha và 19 nước nói tiếng Tây Ban Nha như: Columbia, Urugoay, Achentina…
Tuy không phải là một khối đồng nhất, nhưng các nước Mỹ Latinh đều có hoàn

maravilloso). Nhà phê bình văn học Cu Ba Arama viết về lục địa bùng cháy của
mình: “Chúng ta không chỉ sống trong thế kỉ XX. Trong hiện thực của chúng ta,
tất cả các thời đại của nhân loại đều song song tồn tại, bắt đầu từ thời đại cổ xưa
nhất, nguyên thủy, phong kiến, bộ lạc, tư bản chủ nghĩa, hiện đại, siêu hiện đại,
công nghiệp và may mắn thay cả cách mạng nữa. Nói một cách khác, chúng ta
có ở đây một lối kết hợp nhìn ra thực tại hỗn loạn” [14, tr.112]. Thực tại kỳ ảo ở
đây là thực tại đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc diễn ra ở những nước còn
mang nặng tàn tích của quá khứ trong đời sống tinh thần con người. Thực tại kỳ
ảo là một lục địa tồn tại cùng một lúc những hình thái xã hội cách biệt nhau về
trình độ. Đặc biệt, một phần quan trọng của dân chúng ở đây là thổ dân Anh
điêng và người da đen. Họ mang trong mình ý thức đa thần đậm nét cùng một
kho tàng thần thoại phong phú. Mặt khác, bất mãn trước thực tại chịu nhiều nô
dịch, con người có xu hướng đắm mình vào tưởng tượng hư ảo để tìm sự an ủi.
Maguel Angel Asturias giải thích một cách cụ thể rằng một người dân da đỏ
hoặc một người dân lai sống trong một làng nhỏ rất có thể mô tả cách thức anh ta
thấy một tảng đá lớn hóa thành một người đàn ông khổng lồ thế nào, hoặc một
đám mây biến thành một tảng đá ra sao. Đó không phải là một thực tại ta sờ thấy
được, mà là một thực tại có liên hệ tới sự hiểu biết sức mạnh siêu nhiên. Một
Luận văn Thạc sĩ Nguyễn Thị Hảo - Cao học Văn K52
20

thiếu phụ rớt xuống vực sâu lúc đi lấy nước vì một rủi ro nào đó, hoặc một
người cưỡi ngựa bị ngã ngựa. Người ta có thể gọi đó là chuyện vụn vặt, nhưng
những chuyện vụn vặt đó có thể biến thành thần kỳ. Bỗng dưng, trong mắt người
thổ dân, hoặc người dân kia, người thiếu phụ đã không rớt xuống vực mà chính
cái tảng đá mà cô đập đầu phải hay dòng nước mà cô đã chết đuối trong đó đã
gọi cô. Cứ như vậy, các truyện trở thành truyền kỳ hoang đường. Nền văn
chương của thổ dân da đỏ trước kia, cũng như sách vở của họ viết ra trước kia,
cũng như sách vở của họ viết ra trước khi người Châu Âu chinh phục Châu Mỹ,
những truyện Popul hoặc Los Anales los Xáhil đã nhuộm màu thực tại trung

đó, người ta tin là đã có ma và đã trải qua những kinh nghiệm có thực về ma.
Người đọc sẽ hóa thân hoàn toàn vào cái thực tại khác biệt này đến nỗi thông
suốt nó. Nếu như sau khi đọc xong một câu chuyện huyễn tưởng về ma mị, phù
thủy của Ấn Độ hay của Australia, thì khi gấp sách lại chúng ta biết chắc chắn
rằng cảm giác sợ hãi là do những gì vừa đọc xong tạo ra. Thế nhưng, khi đọc
xong một huyền thoại về những nhân vật đó, như Nghi lễ của Lesllie Marmon
Siko hay Đất dữ của Jorge Amado cảm giác về một thế giới có thật của những
phù thủy, ma mị cùng chung sống gần như là tuyệt đối. Những cái tưởng chừng
như không thể lại trở thành có thể. Cục nước đá mà những người Digan đem đến
Macondo là một cục nước đá bình thường ấy thế mà nó lại làm cho các nhân vật
trong chuyện kinh sợ đến mức không biết miêu tả như thế nào. Ngài tổng thống
của Asturias có giấc mơ của Diện mạo thiên thần kì lạ với tiếng đàn lục huyền,
tiếng xương vụn ra trong cuốn từ điển âm u và hầm tối. Trong giấc mơ của nhân
vật Camila có nhiều giấc mơ đan xen vào nhau và cả hiện thực: những vì tinh tú
trò chuyện, hương xà phòng, hang cọp, tiếng trống, tiếng gõ cửa lẫn lộn.
Mục đích sáng tác của dòng văn học hiện thực huyền ảo nhằm vạch trần các
thế lực đen tối của các chế độ độc tài, phê phán tính trạng sống khép kín của con
người. Văn học hiện thực huyền ảo có tính chiến đấu cao. Bằng ngòi bút tinh tế,
Asturias đã viết bản án đanh thép lên án chế độ độc tài đang hoành hành trên quê
hương. Thế kỉ ánh sáng của Carpentier (1962) phơi bày những quy luật cách
Luận văn Thạc sĩ Nguyễn Thị Hảo - Cao học Văn K52
22

mạng sâu sắc ở Mỹ Latinh. Đất dữ (1943) của Jorge Amado là bức tranh sống
động về hiện thực đau thương của mảnh đất của những vũ điệu Samba: những
rừng ca cao uống no máu người để nở ra hoa vàng rực rỡ. Brazin thế kỉ XX là
sản phẩm kỳ quái của chế độ thực dân nửa phong kiến và các thế lực tư sản
ngoại bang và tư sản dân tộc. Câu chuyện được lồng vào bối cảnh huyền thoại, ở
đó có yêu ma hiện ra trong đêm tối, có phù thủy cưỡi ngựa rong ruổi trên mọi
nẻo đường với đủ các loại quỷ lùn, quỷ lạ, ma chó sói… Đó chính là những hình

Trích đoạn Niên biểu (chronique) Melquíade s chủ nhân huyền bí của tấm da thuộc Tấm da thuộc biết nó Phòng thí nghiệm Căn phòng của Melquíades
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status