Đề cương bài giảng môn Tiếng việt thực hành
CHƯƠNG TRÌNH MÔN HỌC
TIẾNG VIỆT THỰC HÀNH
----------------------1. Tên học phần: Tiếng Việt thực hành.
2. Hệ số: 4
3. Trình độ cho sinh viên: Từ năm thứ nhất trở lên
4. Phân bố thời gian: 41 tiết lý thuyết, 15 tiết thực hành, 4 bài kiểm tra
hệ số 2.
5. Mục tiêu của môn học:
- Mục tiêu của môn học là hệ thống hóa và củng cố hệ thống trị thức cơ
bản về tiếng Việt, phát triển các kỹ năng sử dụng tiếng Việt (chủ yếu là viết và
nói) cho sinh viên, trên cơ sở đó rèn luyện tiếng mẹ đẻ cho sinh viên.
- Góp phần cùng các môn học khác rèn luyện tư duy khoa học cho sinh
viên.
6. Tài liệu học tập:
- Diệp Quang Ban (chủ biên), Ngữ pháp Tiếng Việt, tập I, Nxb Giáo dục,
1998.
- Diệp Quang Ban (chủ biên), Ngữ pháp Tiếng Việt, tập II, Nxb Giáo dục,
1998.
- Nguyễn Đức Dân, Trần Thị Ngọc Lang – Câu sai và câu mơ hồ - Nxb
Giáo dục, 1993.
- Cao Xuân Hạo và các tác giả - Lỗi ngữ pháp và cách khắc phục – Nxb
Khoa học xã hội, 2002.
- Lê Trung Hoa - Lỗi chính tả và cách khắc phục – Nxb Khoa học xã hội,
2002.
- Hà Thúc Loan - Tiếng Việt thực hành – Nxb TP Hồ Chí Minh, 1998.
- Hồ Lê và các tác giả - Lỗi từ vựng và cách khắc phục – Nxb Khoa học
xã hội, 2002.
- Hồ Lê, Lê Trung Hoa - Sữa lối ngữ pháp – Nxb Khoa học xã hội, 2003.
- Vương Hữu Lễ, Đinh Xuân Quỳnh - Tiếng Việt thực hành – Nxb Giáo
liệu khoa học
Chương IV: Rèn luyện kỹ năng tạo
lập văn bản
Chương V: Một số vấn đề về đặt
câu trong Tiếng Việt
Chương VI: Một số vấn đề về dùng
từ trong văn bản
Chương VII: Một số vấn đề về chữ
viết trong văn bản
Tổng cộng
Số
giờ lý
thuyết
Số
giờ
thảo
luận
Kiểm
tra
Tổng
số giờ
1
1
7
2
1
8
41
15
4
60
9
1
9
9
NỘI DUNG CHI TIẾT
Bài mở đầu:
TIẾNG VIỆT VÀ BỘ MÔN TIẾNG VIỆT
I. Khái quát về Tiếng Việt
II. Gĩư gìn sự trong sáng của Tiếng Việt và chuẩn hóa Tiếng Việt
III. Môn Tiếng Việt thực hành - Mục tiêu và nhiệm vụ
Chương I:
KHÁI QUÁT VỀ VĂN BẢN
I. Khái quát về hoạt động giao tiếp và các nhân tố giao tiếp
2. Tìm hiểu khái quát nội dung văn bản
II. Phân tích đoạn văn
3 tiết
1. Tìm ý chính của đoạn văn
2. Tìm hiểu cách lập luận trong văn bản
3. Phân tích sự liên kết giữa các câu trong đoạn văn
III. Phân tích bố cục và lập luận toàn văn bản
2 tiết
1. Bố cục của văn bản
2. Tái tạo đề cương văn bản
Bài tập
2 tiết
Kiểm tra 1 tiết
1 tiết
Chương III:
9 tiết
THUẬT LẠI NỘI DUNG TÀI LIỆU KHOA HỌC
I. TÓM TẮT MỘT TÀI LIỆU KHOA HỌC
2 tiết
1. Mục đích, yêu cầu của việc tóm tắt
2. Cách tóm tắt.
II. TỔNG THUẬT CÁC TÀI LIỆU KHOA HỌC.
2 tiết
1. Khái niệm, mục đích và yêu cầu của việc tổng thuật tài liệu khoa học.
2. Cách tổng thuật các tài liệu khoa học.
3. Cấu trúc văn bản tổng thuật.
III. TRÌNH BÀY LỊCH SỬ VẤN ĐỀ.
2 tiết
1. Khái niệm, mục đích và yêu cầu.
2. Phân biệt giữa trình bày lịch sử vấn đề với điểm tình hình nghiên
4. Đoạn văn không có câu chủ đề
IV. Tách đoạn, chuyển đoạn và liên kết đoạn
0.5 tiết
1. Tách đoạn
2. Chuyển đoạn và liên kết đoạn
V. Sữa chữa và hoàn thiện văn bản
0.5 tiết
1. Sữa lối trong cấu tạo đoạn văn
2. Lỗi sử dụng từ và viết câu
Bài tập
2 tiết
Kiểm tra
1 tiết
Chương V:
9 tiết
MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ ĐẶT CÂU TRONG TIẾNG VIỆT
I. Yêu cầu về câu trong văn bản
1 tiết
1. Yêu cầu về câu xét theo quan hệ hướng nội
2. Yêu cầu về câu xét theo quan hệ hướng ngoại
II. Đặc điểm câu trong các văn bản
2 tiết
1. Đặc điểm của câu trong văn bản khoa học
2. Đặc điểm của câu trong văn bản nghị luận
3. Đặc điểm của câu trong văn bản hành chính
III. Một số thao tác rèn luyện về câu
2 tiết
1. Mở rộng và rút gọn câu
2. Tách và ghép câu
3. Thay đổi trật tự các thành phần câu
1 tiết
Chương VII:
8 tiết
MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ CHỮ VIẾT TRONG VĂN BẢN
I. CHỮ QUỐC NGỮ.
1 tiết
1. Chữ cái:
2. Nguyên tắc xây dựng chữ quốc ngữ:
3. Những bất hợp lý trong chữ quốc ngữ:
II. CHÍNH TẢ
2 tiết
1. Đặc điểm chính tả tiếngViệt:
2. Nguyên tắc kết hợp chính tả tiếng Việt:
3. Quy tắc viết hoa hiện hành
4. Quy tắc viết tên riêng và thuật ngữ nước ngoài.
III. LỖI CHÍNH TẢ
2 tiết
1. Lỗi chính tả do sai nguyên tắc chính tả hiện hành
2. Lỗi chính tả so viết sai với phát âm chuẩn
a. Lỗi về phụ âm đầu
b. Lỗi về âm cuối
c. Lỗi về thanh điệu
Bài tập
2 tiết
Kiểm tra
1 tiêt
Trang 5
Đề cương bài giảng môn Tiếng việt thực hành
nghiên cứu tiếng Việt. Điều đó cho thấy tiếng Việt ngày càng được đề cao và
khẳng định.
Tiếng Việt, đã từ lâu, còn là chất liệu của sáng tạo nghệ thuật- nghệ thuật
ngôn từ với những sáng tác văn chương đa dạng về thể loại, đạt đến thành tựu
rực rỡ, đã tỏ rõ sức mạnh và sự tinh tế, uyển chuyển trong lĩnh vực hoạt động
nghệ thuật.
Tiếng Việt còn là công cụ nhận thức, tư duy của người Việt, mang rõ dấu
ấn của nếp cảm, nếp nghĩ và nếp sống của người Việt. Chính điều đó tạo nên
bản sắc và đặc điểm dân tộc của tiếng Việt Vì vậy, học và sử dụng tiếng việt
phải hiểu và cảm được phần “linh hồn dân tộc” ấy trong tiếng Việt.
Ngoài những chức năng trên, tiếng Việt còn đóng một vai trò hết sức
trọng đại là: Phương tiện tổ chức và phát triển xã hội. Nó là phương tiện để mọi
người bàn bạc và trao đổi ý kiến trong tổ chức cộng đồng và đấu tranh xã hội
(Báo chí) từ đó mà phát triển hội.các tổ chức xã hội và các cơ quan nhà nước tư
trung ương đến địa phương ngày càng nhận thức rõ và khẳng định vai trò của
tiếng Việt trong tổ chức và quản lý xã hội.
Tiếng Việt có những đặc điểm riêng trong cơ cấu tổ chức, nên khi sử
dụng cần chú ý một số đặc điểm sau:
a. Ở tiếng Việt, dòng lời nói (nói ra hoặc viết ra) luôn luôn được phân
cách thành các âm tiết, mỗi âm tiết được nói và viết tách bạch. Do đó, tiếng Việt
là thứ tiếng phân tiết tính.
Âm tiết tiếng Việt có các đặc điểm sau:
- Có ranh giới rõ ràng, tách bạch.
- Có cấu trúc chặt chẽ và luôn mang thanh điệu.
Nhìn chung, mỗi âm tiết là một đơn vị nhỏ nhất có nghĩa, là thành tố cấu
tạo từ hoặc làm thành một từ.
b. Ở tiếng Việt, từ không biến đổi hình thức âm thanh và cấu tạo khi tham
gia vào cấu tạo câu dù ý nghĩa ngữ pháp và quan hệ ngữ pháp của từ có thay
+ Có sự khác biệt giữa dùng hư từ và không dùng hư từ:
Ví dụ:
Thành phố này KHÁC Những thành phố này.
Tính tình trẻ con KHÁC Tính tình của trẻ con.
+ Có sự khác biệt giữa các hư từ khác nhau:
Ví dụ:
Tôi mua hàng của nó. KHÁC Tôi mua hàng cho nó.
Bức ảnh của nó chụp. KHÁC Bức ảnh do nó chụp.
Tuy nhiên, khi ngữ cảnh cho phép thì không nhất thiết phải dùng hư từ.
Ví dụ:
Hôm qua, tôi (đã) mua quyển sách ấy rồi.
Tôi mượn của thư viện quyển sách này.
- Ngữ điệu: Là đặc điểm trong giọng nói thể hiện ở sự thay đổi khi nhấn
giọng, lên hay xuống, liên tục hay ngắt quãng. Khi viết ngữ điệu thường được
Trang 8
Đề cương bài giảng môn Tiếng việt thực hành
biểu hiện bằng các dấu câu. Nếu vị trí của chỗ nghĩ hơi khác thì ý nghĩa của câu
cũng khác. So sánh:
Phương pháp làm việc mới/ là điều quan trọng.
Phương pháp làm việc/ mới là điều quan trọng.
II. GIỮ GÌN SỰ TRONG SÁNG CỦA TIẾNG VIỆT VÀ CHUẨN HOÁ
TIẾNG VIỆT
Trên đây, chúng ta đã thấy tiếng Việt đảm nhận những chức năng xã hội
hết sức trong trọng đại. Để bảo vệ và phát huy hơn nữa những phẩm chất, ưu
thế và tác dụng, hiệu quả của tiếng Việt, một vấn đề được đặt ra từ lâu là phải
giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt, sự giàu đẹp và phong phú của nó. Vậy phải
làm gì để giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt?
- Chuẩn mực về phong cách: Chuẩn mực này xác định những đặc điểm
tất yếu của việc dùng tiếng Việt trong các lĩnh vực giao tiếp và các tình huống
giao tiếp khác nhau của cuộc sống xã hội. Mỗi lĩnh vực và mỗi tình huống như
vậy có những nhiệm vụ và mục đích giao tiếp nhất định, do đó cũng đòi hỏi
những nhân tố và những phương tiện ngôn ngữ đặc thù.
Tuy nhiên, việc sử dụng tiếng Việt theo chuẩn mực không hề phủ nhận và
thủ tiêu những sáng tạo trong sử dụng, những cách dùng độc đáo, những đóng
góp mới mẻ và sự uyển chuyển, linh hoạt trong sử dụng.
Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt còn hàm chứa cả nội dung luôn luôn
tiếp nhận những yếu tố ngôn ngữ có giá trị tích cực từ các tiếng bên ngoài, đặc
biệt là trong giai đoạn hiện nay khi mà sự giao lưu quốc tế và tiếp xúc văn hoá
ngày càng được mở rộng.
III. MÔN TIẾNG VIỆT THỰC HÀNH- MỤC TIÊU VÀ NHIỆM VỤ.
1. Mục tiêu:
- Bồi dưỡng tình cảm yêu quí và thái độ trân trọng đối với tiếng Việt,
đồng thời rèn luyện thói quen và ý thức sử dụng tiếng Việt một cách cân nhắc,
lựa chọn thấu đáo.
- Tiếp tục nâng cao những hiẻu biết có cơ sở khoahọc về tiếng Việt.
- Tiếp tục rèn luyện và nâng cao năng lực sử dụng tiếng Việt trong giao
tiếp hằng ngày và nhất là trong học tập và nghiên cứu.
- Rèn luyện khả năng nhận thức và tư duy của con người.
- Tạo nên sự tương tác, hỗ trợ giữa giữa môn tiếng Việt và môn ngoại
ngữ.
2. Nhiệm vụ:
- Bồi dưỡng tình cảm, thái độ , ý thức đối với tiếng Việt.
Trang 10
Đề cương bài giảng môn Tiếng việt thực hành
Trang 11
Đề cương bài giảng môn Tiếng việt thực hành
của hoạt động giao tiếp ngôn bản. Sơ đồ các nhân tố chi phối hoạt động giao
tiếp:
NGUỜI NÓI
(VIẾT)
VĂN BẢN
NGƯỜI NGHE
(ĐỌC)
a. Nhân vật giao tiếp: Người nói, người viết, người nghe, người đọc.
Nhân tố này trả lời cho câu hỏi: Ai viết? Viết cho ai?
b. Nội dung giao tiếp: Hoạt động giao tiếp hướng về vấn đề gì, sự vật,
hiện tượng nào, về nội dung tư tưởng hay tình cảm nào? Nhân tố này trả lời cho
câu hỏi:
Viết cái gì? Viết về cái gì?
c. Hoàn cảnh giao tiếp: Là hoàn cảnh thời gian, không gian cụ thể, hoàn
cảnh lịch sử xã hội, môi trường văn hoá, xã hội...Nhân tố này trả lời cho câu
hỏi: Viết trong hoàn cảnh nào?
d. Mục đích giao tiếp: Nhân tố này trả lời cho câu hỏi: Viết để làm gì?
Nhằm mụ đích gì?Mục đích luôn chi phối bản thân hoạt động giao tiếp, chi phối
sự tổ chức văn bản.
e. Cách thức giao tiếp: Hoạt động giao tiếp được thực hiện bằng công cụ
Mỗi văn bản hướng tới một mục tiêu nhất định. Đó chính là mục đích
giao tiếp của văn bản.
Mục tiêu của văn bản qui định việc lựa chọn chất liệu nội dung, tổ chức
chất liệu nội dung, lựa chọn phương tiện ngôn ngữ và tổ chức văn bản theo một
cách thức nhất định.
d. Văn bản có tác giả
Đặc trưng này có ý nghĩa quan trọng đối với văn bản khoa học bởi loại
này mang đậm dấu ấn cá nhân người viết và muốn có hiểu biết về tác giả, hiểu
được tác phẩm và ngược lại.
Như vậy, có thể nói:
Văn bản là sản phẩm của hoạt động giao tiếp ngôn ngữ ở dạng viết,
thường là tập hợp của các câu, có tính trọn vẹn về nội dung, tính hoàn chỉnh về
hình thức, có tính liên kết chặt chẽ, hướng tới một mục tiêu giao tiếp nhất định
và có tác giả.
III. GIẢN YẾU MỘT SỐ LOẠI VĂN BẢN.
Trang 13
Đề cương bài giảng môn Tiếng việt thực hành
1. Văn bản khoa học:
a. Khái niệm: Là các văn bản dùng trong lĩnh vực hoạt động khoa học,
với chức năng chủ yếu là thông tin - nhận thức. Nó bao gồm các văn bản khoa
học chuyên sâu (như luận văn, luận án, công trình nghiên cứu khoa học… các
văn bản khoa học giáo khoa (sách giáo khoa, tài liệu giảng dạy trong nhà
trường), các văn bản phổ cập khoa học (báo chí, tài liệu phổ biến KH)
b. Đặc trưng:
Mang tính trí tuệ, tính lôgic và tính khái quát trừu tượng nó phản ánh
thành quả tư duy trừu tượng của con người.
c. Đặc điểm trong cách diễn đạt:
c. Đặc điểm trong cách diễn đạt: Được trình bày, sắp xếp theo các khuôn
mẫu quy định và trong nhiều trường hợp đã có bản in sẵn
- Về từ ngữ: dùng nhiều từ hành chính và các quán ngữ, đồng thời từ ngữ
mang tính khách quan, toàn dân, không dung nạp các từ địa phương, các biệt
ngữ, các từ có sắc thái biểu ngữ.
- Về cú pháp: cách đặt câu rõ ràng, rành rọt.
Chương II
RÈN LUYỆN KỸ NĂNG TIẾP NHẬN VĂN BẢN KHOA HỌC
---------------------------------------------------------------------I. TÌM HIỂU KHÁI QUÁT VỀ VĂN BẢN
1. Tìm hiểu một số nhân tố có liên quan đến nội dung văn bản
a. Xác định người viết văn bản và đối tượng giao tiếp mà văn bản
hướng tới:
Văn bản là sản phẩm được người viết tạo lập ra một cách có ý thức. Văn
bản nào cũng mang đậm dấu vết của người viết, như sở thích cá nhân, thói quen
nghề nghiệp, trình độ văn hóa…của người viết ảnh hưởng trực tiếp đến nội
dung và hình thức của văn bản.
Viết văn bản, người viết bao giờ cũng hướng tới đối tượng giao tiếp cụ
thể, tùy thuộc vào đối tượng giao tiếp mà lựa chọn nội dung và hình thức giao
tiếp phù hợp.
b. Hoàn cảnh giao tiếp của văn bản:
Giao tiếp bao giờ cũng xảy ra trong một hoàn cảnh nhất định, phụ thuộc
vào hoàn cảnh giao tiếp. Để nắm được hoàn cảnh giao tiếp, người đọc cần phải
Trang 15
Đề cương bài giảng môn Tiếng việt thực hành
hiện. Thường được vạch rõ ở đề cương chi tiết của văn bản.
Trang 16
Đề cương bài giảng môn Tiếng việt thực hành
Có hai trường hợp thể hiện ý chính: Trường hợp đoạn văn có câu chủ đề
và đoạn văn không có câu chủ đề.
Đoạn văn có câu chủ đề:
Câu chủ đề là câu nêu nội dung khái quát, gần trùng với ý chính của cả
đoạn văn có cấu tạo tương đối ngắn gọn, đầy đủ các thành phần cơ bản. Câu
chủ đề có thể đứng ở đầu đoạn, cuối đoạn cũng có thể vừa đầu vừa cuối đoạn.
Đoạn văn không có câu chủ đề: Là đoạn văn không có câu nào biểu hiện
ý chính của đoạn. Chủ đề của loại văn bản này được thể hiện rải ra trong tất cả
các câu, mỗi câu thể hiện một khía cạnh nào đấy của ý chính cả đoạn.
2. Tìm hiểu cách lập luận trong văn bản
a. Về khái niệm lập luận: Lập luận là đưa ra một hoặc một số luận cứ
(lý do nhằm dẫn dắt người nghe, người đọc đến một kết luận nào đấy mà người
viết, người nói muốn đạt tới. Trong lập luận, cần dùng các lý lẽ, dẫn chứng có
sức thuyết phục để khẳng định hay bác bỏ một nhận xét hay kết luận nào đấy.
b. Các kiểu lập luận thường gặp trong đoạn văn:
- Quy nạp: Là quá trình lập luận đi từ cái riêng đến cái chung, từ sự quan
sát, nghiên cứu các hiện tượng, đối tượng cụ thể, riêng biệt, đơn nhất tiến đến
những kết luận tổng quát, phổ biến.
- Diễn dịch: Là phương pháp ngược lại với quy nạp. Đi từ cái chung, khái
quát, đến cái riêng, cái cụ thể, vận dụng nguyên lý chung để xem xét những sự
vật riêng biệt.
- Phối hợp diễn dịch với quy nạp: Tương ứng với bố cục ba phần (mở,
thân, kết) của một văn bản chính luận hoặc đoạn văn có kết cấu tổng - hợp phân.
- Nêu phản đề: Tức là nêu ý kiến phản bác lại kết luận, ý kiến của mình.
dựng nên nước Việt Nam độc lập. Dân ta lại đánh đổ chế độ quân chủ mấy
mươi thế kỷ mà lập nên chế độ dân chủ Cộng hòa.
b. Phương thức thế:
- Thế bằng đại từ: câu đi sau dùng đại từ thay thế cho một từ, một ngữ
của câu đi trước.
Ví dụ: Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu
của ta.
- Thế bằng từ đồng nghĩa, gần nghĩa: Ông Tám Xẻo Đước chết làm cho
quân giặc khiếp sợ. Sự hi sinh của ông khiến cho đồng bào quyết tâm hơn.
c. Phương thức liên tưởng:
Liên tưởng là quan hệ giữa các từ mà khi một từ xuất hiện làm cho người
ta nghĩ đến từ khác. Bao gồm các dạng sau:
- Liên tưởng đồng loại: Triệu Thị Trinh 19 tuổi đứng dậy diệt thù.
Nguyễn Huệ 18 tuổi phất cao cờ đào khởi nghĩa.
Trang 18
Đề cương bài giảng môn Tiếng việt thực hành
- Liên tưởng bộ phận với toàn thể hoặc ngược lại: Thế mà hơn 80 năm
nay, bọn thực dân Pháp lợi dụng lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái, đến cướp nước
ta, áp bức đồng bào ta.
- Liên tưởng định vị: Sau khi mở cửa phòng mổ, đèn bật sáng trưng. Bác
sĩ đang rửa tay thay áo. Các y tá lăng xăng chạy đi chạy lại.
d. Phương thức nối:
- Nối bằng các quan hệ từ: Chúng ta phải chống tất cả những thói rỗng
tuyếch. Nhưng trước hết phải chống thói đã rỗng lại dài.
- Nối bằng các từ ngữ có tác dụng chuyển tiếp: Từ đó nhân dân ta càng
cực khổ, nghèo nàn. Kết quả là cuối năm ngoái sang đầu năm nay, từ Quảng Trị
văn bản dưới dạng khái quát nhất. Nội dung của đề cương là sự tóm tắt ngắn
gọn các luận điểm, luận cứ, quá trình lập luận theo tầng bậc, trật tự trên dưới
trước sau. Để phân thành các ý lớn nhỏ, người ta thường dùng cách xuống
dòng, các dòng kế tiếp nhau được trình bày lùi dần về phía tay phải của trang
giấy và được ký hiệu tuần tự bằng các chữ số La Mã, chữ cái in, chữ số Ả Rập
rồi các con chữ nhỏ.
CHƯƠNG III
THUẬT LẠI NỘI DUNG TÀI LIỆU KHOA HỌC
-------------------------------------------------I. TÓM TẮT MỘT TÀI LIỆU KHOA HỌC
1. Mục đích, yêu cầu của việc tóm tắt
a. Mục đích.
Tóm tăt tài liệu khoa học là rút ngắn, thu gọn nội dung của văn bản gốc
theo mục đích yêu cầu đã định trước. Do vậy tài liệu tóm tắt bao giờ cũng ngắn
hơn tài liệu gốc, nhưng ngắn đến đâu thì phụ thuộc vào mục đích tóm tắt.
Việc tóm tắt tài liệu khoa học có nhiều mục đích khác nhau:
- Lưu trữ tài liệu ở dạng ngắn gọn nhất dùng để trích dẫn khi cần thiết, dễ
nhớ.
- Để giới thiệu lại trên báo chí, từ điển hoặc báo cáo lại cho người khác.
Cũng có lúc, người ta chỉ cần tóm tắt một phần, một luận điểm nào đó
của văn bản để phục vụ cho một ý kiến nào đấy. Trong nhà trường, mỗi khi học
xong một chương, hoặc cả giáo trình, ta cũng có thể tóm tắt để nắm chắc phần
Trang 20
Đề cương bài giảng môn Tiếng việt thực hành
được học hơn. Việc tóm tắt các taì liệu khoa học vừa giúp ta hệ thống hoá đựoc
Trang 21
Đề cương bài giảng môn Tiếng việt thực hành
+ Phần tên tài liệu: Tài liệu khoa học thường có đầu đề. Đầu đề cần được
viết giữa dòng, với khổ to hơn, kiểu chữ khác để phân biệt với các phần của văn
bản. Sau đó ghi tên tác giả, xuất xứ tài liệu, nơi xuất bản, năm xuất bản, nhà
xuất bản...
+ Phần mở đầu: Xác định đối tượng nghiên cứu, lí do và mục đích nghiên
cứu, tình hình nghiên cứu, nhiệm vụ nghiên cứu, các phương pháp nghiên cứu
đựoc sử dụng. Tuy nhiên, không phải mọi tài liệu đều có đầy đủ các nội dung
trên, khi tóm tắt, ta cần căn cứ vào văn bản cụ thể mà lựa chọn một trong những
nội dung kể trên.
+ Phần triển khai: Đối với các văn bản khoa học chuyên sâu triển khai hệ
thống luận điểm, luận cứ bằng một hệ thống các đề mục ở nhiều tầng bậc khác
nhau. Người tóm tắt chỉ cần ghi lại các đề mục đó theo một hệ thống là có thể
khôi phục các luận điểm và luận cứ của tài liệu khoa học cần tóm tắt.
Đối với vản bản khoa học thông thường không triển khai thành hệ thống
các tiêu đề thì người tóm tắt phải tìm các ý lớn bằng cách dựa vào hệ thống các
câu chủ đề và trình bày theo tầng bậc từ lớn đến nhỏ.
Chú ý: Bằng một vài câu thích hợp để diễn giải lại câu chủ đề, điều đó
đựoc thực hiện khi ngưòi tóm tắt đã nắm vững văn bản gốc.
+ Phần kết luận: Đối với các văn bản khoa học, bản tóm tắt phần kết luận
thuờng nêu lên những kết quả tìm tòi nghiên cứu, những đóng góp của người
nghiên cứu, nêu lên những phương hướng ứng dụng, phương hướng triển khai
ứng dụng mà văn bản khoa học gốc đã nêu ra. Những nội dung trên đuợc viết
thành một câu hay một đoạn ngắn.
b. Tóm tắt thành văn bản hoàn chỉnh.
Tóm tắt từ một văn bản gốc trở thành một văn bản của mình. Lời mở đầu
khuynh hướng nhằm giúp ngưòi đọc hình dung được một cách khái quát diện
mạo của vấn đề được nghiên cứu ở các thời gian khác nhau.
- Để học hỏi hay phê phán các tài liệu đã được nghiên cứu về một vấn đề
khoa học nào đấy mà có liên quan đến vấn đề mà mình nghiên cứu.
2. Cách tổng thuật các tài liệu khoa học.
- Đọc và suy ngẫm tất cả những tài liệu được tổng thuật để nắm được ý
của tác giả và các nội dung được triển khai.
- Khái quát hoá để rút ra các mặt nội dung cơ bản của vấn đề, rút ra được
những điểm riêng, điểm chung, điểm cá biệt giữa các tác giả đối với vấn đề
nghiên cứu.
- Chọn các tác giả, tác phẩm chủ yếu, lần lượt tổng thuật các nội dung
được tổng quát, nêu các nội dung cơ bản của tài liệu hiện thực. Muốn bản tóm
Trang 23
Đề cương bài giảng môn Tiếng việt thực hành
tắt hấp dẫn người đọc cần phải chọn và trích dẫn các từ ngữ, các đoạn, các đoạn
thể hiện quan niệm của các nhà nghiên cứu.
3. Cấu trúc văn bản tổng thuật.
- Phần mở đầu: Giới thiệu khái quát tên các tài liệu mình sẽ tổng thuật về
tác giả, tên tài liệu, thời gian xuất bản. Nếu tổng thuật các tài liệu trong một hội
nghị thì phải giới thiệu chủ đề hội nghị, các thành phần tham gia, thời gian, địa
điểm...
- Phần triển khai:
+ Nêu lên những đặc điểm chung của các công trình. Giới thiệu khái quát
những tác giả, tác phẩm chủ yếu.
+ Nêu những luận điểm cơ bản được trình bày trong các văn bản. Chỉ ra
những điểm chung thống nhất cũng như những ý khác biệt, cá biệt.
- Phần kết luận: Tóm tắt lại những ý kiến chung nhất. Người tổng thuật
ngaòi có liên quan đến đề tài của mình theo trình tự thời gian hoặc theo quan
điểm, theo vấn đề.
- Mỗi công trình phải nêu rõ tên tác giả, tên công trình, năm xuất bản, nơi
xuất bản.
- Điều quan trọng là phải phân tích, phê phán, đánh giá mức độ nông sâu,
chỉ cho người đọc thấy những điểm nào của đề tài đã đựoc giải quyết, mức độ
đến đâu, điểm nào còn sơ lược...Trên cơ sở đó khẳng định đến thời điểm này
chưa có công trình nào nghiên cứu một cách sâu sắc, toàn diện và triệt để về
vấn đề đang xét. Từ đó xác định nhiệm vụ nghiên cứu và huớng giải quyết
những nhiệm vụ đó của đề tài.
2. Phân biệt giữa trình bày lịch sử vấn đề với điểm tình hình nghiên
cứu.
Hiện nay có một thực tế là khi nghiên cứu các tác giả còn xem nhẹ, trình
bày sơ sài phần lịch sử vấn đề hay nhầm lẫn không phân biệt rõ giữa trình bày
lịch sử vấn đề với điểm tình hình nghiên cứu.
- Giống nhau: Hai việc làm này cùng nhìn nhận đánh giá các kết quả
nghiên cứu đã có của các tác giả đi trước để xác định ý nghĩa và những đóng
góp mới của nguòi nghiên cứu trong việc nghiên cứu khoa học.
- Khác nhau: Việc trình bày lịch sử vấn đề là phương pháp trình bày theo
lịch đại, còn việc điểm tình hình nghiên cứu là theo hướng đồng đại.
+ Trình bày lịch sử vấn đề là thường bao quát một thời gian dài nặng về
tính lịch đại, căn cứ vào căn nguyên lịch sử vấn đề, lai lịch vấn đề.
+ Còn việc điểm tình hình nghiên cứu thì theo một lát cắt ngang đồng
đại, chú trọng vào tính thời sự, tính cập nhật của vấn đề.
Trang 25