A - ĐẶT VẤN ĐỀ
I - LỜI MỞ ĐẦU
Như chúng ta đã biết ngôn ngữ là chìa khoá để tư duy, ngôn ngữ là phương tiện để giao tiếp, ngôn ngữ còn là điều kiện không thể thiếu được của xã
hội loài người. Mác – Lê Nin đã nói: “ ngôn ngữ là công cụ giao tiếp quan
trọng nhất của con người”. Thật đúng như vậy ngôn ngữ là phương tiện phản
ánh hiện thực khách quan, không có ngôn ngữ thì không phản ánh được đặc
trưng tâm lý xã hội của con người. Mặt khác ngôn ngữ còn ảnh hưởng đến
việc hình thành tất cả các yếu tố tâm lý của con người.
Giáo dục mầm non có vai trò hết sức quan trọng trong việc hình thành
và phát triển nhân cách trẻ em. Trong đó phát triển ngôn ngữ cho trẻ là một
nhiệm vụ không thể thiếu đối với các trường mầm non.
Ngôn ngữ được ví như cơm ăn nước uống hàng ngày đối với trẻ. Nếu
thiếu ngôn ngữ trẻ sẽ không giao tiếp được với những người xung quanh và
ngôn ngữ còn giúp trẻ tham gia tích cực vào các hoạt động nhận thức, giúp trẻ
củng cố các biểu tượng làm phát triển nhận thức đặt nền móng cho sự phát
triển của trẻ sau này.
Cha ông ta từng nói: "trẻ lên ba cả nhà học nói" câu nói đó hoàn toàn
đúng bởi nó chứng minh cho sự phát triển ngôn ngữ nhất là ngôn ngữ nói ở trẻ
tuổi vườn trẻ. Đặc biệt là trẻ 25-36 tháng tuổi, trẻ ở giai đoạn này vùng ngôn
ngữ được hình thành tương đối ổn định, vốn từ của trẻ phát triển rất nhanh, trẻ
có khoảng 500-700 từ. Trẻ biết tập trung chú ý nghe và hiểu được lời người
khác nói và đặc biệt hơn trẻ đã biết trả lời câu hỏi của người lớn và nói được
các câu đơn giản. Tuy nhiên trong quá trình sử dụng từ, câu của trẻ chưa được
chính xác, trẻ chưa biết dùng từ đúng với nội dung cần diễn đạt, sử dụng câu
thiếu thành phần ngữ pháp, còn sai nhiều về lỗi phát âm như nói ngọng, nói
lắp.
Ngôn ngữ là phương tiện nhận thức thế giới xung quanh, trẻ luôn có nhu
cầu muốn tìm hiểu, tiếp thu và khám phá thế giới xung quanh là nhờ sự giúp
1
2
Hơn thế nữa bản thân là người yêu nghề mến trẻ, ở lớp có phòng học
riêng, thoáng mát, sạch sẽ, ngăn nắp, gọn gàng, bàn ghế và mọi đồ dùng phục
vụ sinh hoạt của trẻ đầy đủ. Cùng với sự quan tâm giúp đỡ của BGH nhà
trường và chị em đồng nghiệp đã tạo điều kiện để tôi hoàn thành tốt nhiệm vụ
được giao.
2. Khó khăn:
Bên cạnh những thuận lợi trên còn có những khó khăn đó là: Thị trấn
Vạn Hà là một thị trấn có tới 90% dân số là nông dân, điều kiện kinh tế khó
khăn, bố mẹ trẻ lo làm ăn kinh tế mà không quan tâm đến việc chăm sóc giáo
dục trẻ. Phần lớn trẻ nhóm tôi phụ trách là con nông thôn các thành viên trong
gia đình đều nói tiếng địa phương do đó đã ảnh hưởng rất lớn đối với trẻ. Một
số trẻ khác do bố mẹ nuông chiều con hoặc không quan tâm và cho rằng các
con ăn no mặc ấm, đầy đủ về vật chất là được, để mặc trẻ muốn làm gì thì
làm, nên trẻ nói gì họ cũng cho là được.
Có những phụ huynh cho rằng trẻ nói ngọng là hay hay, ngộ nghĩnh,
đáng yêu nên không sửa sai cho trẻ và không tập cho trẻ nói theo người lớn,
theo mẫu câu đúng nên trẻ nói ngọng lại càng nói ngọng thêm, nói lắp lại nói
lắp thêm. Từ đấy trẻ nói nhiều trở thành thói quen và rất khó sửa sai cho trẻ.
Một số phụ huynh chưa hiểu biết về cách chăm sóc và nuôi dạy trẻ, chưa hiểu
về đặc điểm phát triển tâm sinh lý của trẻ.
3. Khảo sát chất lượng ban đầu.
Ngay từ đầu năm học tôi được phân công nuôi dạy cháu nhóm 25-36
tháng tuổi, tổng số có 30 cháu trong đó 18 cháu nam và 12 cháu nữ, phần đa
là các cháu lần đầu tiên đi học nên còn khóc và chưa có nề nếp trong sinh
hoạt, trẻ còn nhút nhát, có những trẻ khi đến lớp chỉ ngồi khóc đòi về nhà,
không thích chơi với bạn, ngại giao tiếp, thích ngồi chơi một mình...
đủ từ, đủ
nói lắp, nói
30 cháu
câu
ngọng
Số trẻ % Số trẻ
%
5
16.7
11
36.7
ngữ pháp
Số trẻ
8
%
26.6
Số trẻ
6
%
20
Qua khảo sát tôi thấy số lượng trẻ nói đủ từ còn thấp số trẻ nói ngọng,
nói lắp, ít nói, nói không đúng ngữ pháp, chưa mạch lạc còn nhiều.
Tôi cố gắng phát âm đúng, không phát âm sai vì trẻ bắt chước. Sửa sai
các lỗi phát âm cho trẻ khi phát âm ở mọi lúc mọi nơi trong hoạt động hàng
ngày.
Tháng 11- 12: Phát triển làm phong phú vốn từ cho trẻ
Giáo viên cần nói diễn cảm, rõ ràng, giải thích các từ khó cho trẻ hiểu và
nhớ. Có những trò chơi phát triển vốn từ cho trẻ.
Ví dụ : Trò chơi bắt chước tiếng kêu của con vật.
Trò chơi ai đoán nhanh.
Trò chơi ai đoán giỏi.
Tháng 1-2/2011: Vẫn thực hiện xuyên xuốt hai nhiệm vụ trên đi sâu vào vấn
đề luyện trí nhớ cho trẻ qua các bài thơ đặc biệt là những câu truyện kể đầy lôi
cuốn và hấp dẫn.
Tháng 3-4-5: Tôi xây dựng trò chơi giúp trẻ nói đúng ngữ pháp, nói mạch lạc
VD: Trẻ nói theo mẫu câu của một trò chơi “có một bác gấu dạo chơi trong
rừng” hoặc nói “trời nắng trời nắng thỏ đi tắm nắng” trẻ nói “vươn vai vươn
vai thỏ rung đôi tai”.
Một khi đã có vốn từ phong phú thì trẻ tự tin trong mọi hoạt động.
Biện pháp 2: Tìm hiểu kỹ đặc điểm tâm sinh lý của trẻ 25-36 tháng tuổi.
5
- Đặc điểm phát âm:
Trẻ 25-36 tháng tuổi có khả năng phát âm được các âm khác nhau chủ
yếu là danh từ người (gọi tên sự vật hiện tượng).
VD: Bố ơi, mẹ ơi, chuối...phát âm chính xác các từ ngữ tuy nhiên vẫn
còn ngọng sinh lý do cơ quan phát âm của trẻ chưa hoàn thiện.
Vốn từ nói của trẻ ở giai đoạn này tăng rất nhanh, ở giai đoạn này vốn từ
của trẻ lên tới 150 từ.
- Cấu trúc ngữ pháp: Đến cuối năm thứ 2 trẻ đã phát âm được một câu
ngắn, đơn giản đầy đủ các thành phần chủ ngữ, vị ngữ gồm 4 – 5 từ.
nhịp nhàng, linh hoạt. Ví dụ: Cho trẻ chơi trò chơi ‘’gọi gà’’ cho trẻ bặm hai
môi vào nhau thật chặt và phát âm ‘’bập bập... bập” trò chơi này có tác dụng
luyện môi và răng.
Biện pháp 4 : Dạy trẻ nói đúng ngữ pháp, phát âm đúng, nói mạch lạc
qua xây dựng mẫu câu đơn giản.
Dạy trẻ nói đúng ngữ pháp là dạy trẻ nói đúng cấu trúc câu tiếng Việt,
bởi lời nói có nội dung thông báo rõ ràng, dễ hiểu phù hợp với hoàn cảnh giao
tiếp.
Ngôn ngữ có vai trò rất quan trọng đối với quá trình nhận thức. Bởi vậy
muốn cho trẻ nói đúng ngữ pháp có hiệu quả nhất chúng ta phải có phương
pháp và biện pháp dạy trẻ nói đúng ngữ pháp. Nghĩa là người lớn phải sử
dụng ngôn ngữ thật rõ ràng, đúng với hoàn cảnh giao tiếp, dễ hiểu gần gũi đối
với trẻ, trước tiên phải truyền thụ kiến thức và giúp trẻ lĩnh hội nền văn hoá
văn minh, phải hiểu được thứ tiếng phổ thông để giao tiếp. Vậy giọng nói phải
biểu hiện đầy đủ các mặt của âm thanh, ngôn ngữ, giọng nói biểu hiện tình
cảm của người lớn, luyện giọng cho trẻ là giúp trẻ biểu hiện thái độ, tình cảm
của mình trong lời nói thủ thỉ, âu yếm, âm vang, trầm bổng...
Qua đặc điểm phát âm của trẻ 25-36 tháng tuổi giai đoạn này là ‘phát cảm
ngôn ngữ” chủ yếu là bắt chước người lớn, vì vậy người lớn nên dạy trẻ nói
theo mẫu câu.
7
Chúng ta hướng dẫn trẻ nói theo mô hình câu tiếng Việt có thể là câu đơn,
có thể là câu ghép cũng có thể là câu phức nhưng câu phức trẻ ấu nhi ít khi sử
dụng. Bước đầu dạy trẻ, chúng ta phải có giáo cụ trực quan.
VD: Cô dạy trẻ nhận biết tập nói về con chim thì phải có tranh con chim
đang đậu trên cành cây, cô đưa tranh ra hỏi trẻ: Đây là tranh con gì? Trẻ trả lời
tranh con chim, con chim đang làm gì? Trẻ trả lời: Con chim đang hót. Câu trả
mạch lạc cô giáo phải xây dựng mẫu câu mà chủ yéu là câu đơn và thường
xuyên cho trẻ tập luyện theo mẫu câu, nếu trẻ nói sai, nói cụt câu thì phải sửa
sai cho trẻ ngay. Dạy trẻ nói theo mẫu câu đơn giản, chúng ta thực hiện như
sau :
- Xây dựng mẫu câu bằng cách đặt câu hỏi, câu hỏi phải đúng cấu trúc ngữ
pháp, đúng mô hình từ ngữ rõ ràng, dễ hiểu.
- Tập cho trẻ nói theo mẫu câu nhiều lần hoặc trong lúc trả lời câu hỏi với
các mô hình câu theo nội dung thông báo khác nhau.
Khi trẻ mắc lỗi ngữ pháp cần sửa chữa cho trẻ bằng cách: dùng từ đúng nhắc
trẻ để trẻ sửa lỗi dùng từ đúng. Giảng để trẻ hiểu đúng nghĩa của từ cần dùng
hoặc nhắc lại mẫu câu và yêu cầu trẻ nói lại.
VD: Cô cho trẻ nhận biết tập nói về con gà trống (có tranh con gà trống).
Cô hỏi:
Trẻ trả lời:
Cô có tranh con gì đây?
Con gà trống ạ
Trên đầu con gà trống có cái gì đây?
Trên đầu con gà trống có cái
mào đỏ tươi
Nhưng cũng có trẻ nói: Con gà có cái mào đỏ... thì cô nhắc lại câu đúng
để trẻ nói đúng câu hoặc trẻ muốn uống nước, trẻ nói: uống nước, cô hỏi ai
uống nước? Và cô phải nói trước câu định trả lời cho trẻ nói theo như: Con
phải nói là: Con muốn uống nước và yêu cầu trẻ nhắc lại nhiều lần để lần sau
trẻ nói đúng và rõ ràng, đầy đủ thành phần trong câu hơn.
dinh dưỡng cao.
Cách chơi: Cho trẻ hái quả trên cây theo yêu cầu của cô và yêu cầu trẻ
nói tên quả và một số đặc điểm của các loại quả đó, tác dụng, cách ăn quả...
Chẳng hạn: Cô yêu cầu trẻ hái quả
Cô hỏi trẻ: Quả gì đây?
Trẻ trả lời : Quả cam
Quả cam màu gì?
Quả cam màu xanh
10
Vỏ quả cam như thế nào?
Vỏ quả cam nhẵn
Quả cam hình gì?
Quả cam hình tròn
Tương tự các quả khác cũng yêu cầu trẻ làm như vậy, cuối trò chơi cho trẻ
ăn các loại quả mà trẻ vừa được hái và hỏi trẻ ăn quả gì đấy? có ngon không?
khi ăn quả đó con bỏ gì? Đồng thời giáo dục trẻ cho trẻ biết các loại quả đó ăn
vào thì làm cho da dẻ hồng hào, khoẻ mạnh.
Không những thế còn phải dạy trẻ nói đúng ngữ pháp qua các hoạt động
khác như: Hoạt động vận động, luyện đọc thơ, ca dao, đồng dao, giờ ăn, giờ
chơi...
VD: Giờ vận động, luyện cho trẻ thổi nơ, thổi cháo khỏi nóng, ngửi hoa...
thức về thế giới xung quanh, cung cấp vốn từ cho trẻ và giúp trẻ tích luỹ kinh
nghiệm sống để trẻ phát triển ngôn ngữ.
2.Thông qua tổ chức hoạt động chung
a. Hoạt động với đồ vật
Như chúng ta đã biết hoạt động chủ đạo của trẻ ấu nhi là hoạt động với
đồ vật.Thông qua quá trình hoạt động với đồ vật đồ chơi trẻ muốn tìm hiểu
khám phá tên đặc điểm của nó dưới sự hướng dẫn của người lớn. Trẻ hiểu
được từ ngữ gắn liền với hình ảnh cụ thể của sự vật, hiện tượng cụ thể.
Ví dụ: trẻ có thể nói từ “đánh trống” nhưng trẻ hiểu được từ đánh trống gắn
liền với hoạt động cụ thể. Dần dần nhờ sự hướng dẫn của cô giáo và của
người lớn trẻ sẻ biết tách từ ngữ ra khỏi tình huống cụ thể.
Sự hình thành ngôn ngữ tích cực riêng của trẻ được thể hiện khi hành
động với đồ vật trẻ muốn gọi tên đặc điểm của đồ vật, đồ chơi.
VD: Ô tô , búp bê, tàu hoả, con gấu...
Điều đó giúp cho trẻ phát triển khả năng phát âm, trẻ thích thú khi gọi
đúng tên, sự vật hiện tượng mà trẻ được người lớn khen, trong quá trình hoạt
động với đồ vật trẻ được người lớn dạy cho để hiểu được từ ngữ, nhờ vậy mà
vốn từ của trẻ tăng càng nhanh cho nên người ta gọi đây là thời kì phát triển
mạnh mẽ hay còn gọi là thời kì “phát cảm ngôn ngữ’’ tức là ngôn ngữ nói tăng
nhanh. Vì vậy nhờ quá trình hoạt động với đồ vật mà các chức năng tâm lí (tri
giác, trí nhớ, tư duy, ngôn ngữ) của trẻ được phát triển.
12
b. Thông qua các giờ thơ, truyện:
Những trò chơi giúp trẻ nói đúng ngữ pháp, nói mạch lạc. Khi thực hiện
các hoạt động làm quen với tác phẩm văn học, thể loại truyện kể tôi luôn chú
ý đến khả năng phát âm của trẻ để có sự điều chỉnh và sữa sai luyện khả năng
phát âm cho trẻ. Bản thân tôi trước khi tổ chúc hoạt động cũng phải đầu tư
luyện giọng kể, cách sử dụng tranh, sách, rối... giúp trẻ cảm thụ tác phẩm văn
trong khi chơi.
3. Thông qua hoạt động góc:
Qua hoạt động góc tôi thấy viêc phát triển ngôn ngữ cho trẻ rất có hiệu
quả:
VD: Trước khi cho trẻ vào hoạt động góc tôi kêt hợp với môn âm nhạc
tôi cho trẻ hát một bài hát trong chủ đề sau đó tôi cho trẻ nhận các góc chơi
mà trẻ thích vì lùc này trẻ đã nhận biết được tất cả các góc chơi với sự hướng
dẫn và giới thiệu của cô, khi trẻ đã nhận góc chơi của mình giáo viên đi đến
từng góc chơi để hỏi trẻ nhằm phát triển ngôn ngữ cho trẻ.
VD: Ở góc thao tác vai trẻ đang xâu vòng xanh, đỏ tôi nhập vai chơi và
hỏi trẻ:
Bác đang làm gì thế?
Hạt vòng này màu gì?
Bác xâu vòng này tặng ai?
Ở góc bé giở sách tôi cũng nhập vai chơi cùng trẻ và hỏi trẻ
Bác đang làm gì thế ?
Thế trong sách có cái gí?...
Thông qua hoạt động góc mà trẻ có thể phát triển ngôn ngữ, nói rất
nhanh vì trẻ được trả lời các câu hỏi của cô, nếu trả lời sai cô có thể sửa sai
ngay cho trẻ, trẻ nói lại những câu mà cô vừa sửa, trẻ được giao lưu cùng bạn
trong nhóm chơi: VD: Bác mua cái gì thế? bao nhiêu tiền một cái áo?
Cô là người dẫn dắt trẻ tích cực tham gia các hoạt động, chính vì thế
cô phải gây được các tình huống để trẻ hứng thú chơi có như vậy ngôn ngữ
nói của trẻ mới được phát triển.
14
Biện pháp 6: Trang trí lớp học, các góc chơi, làm đồ dùng đồ chơi theo
từng chủ đề.
Cô giáo cần phải luôn tạo cho lớp học, giờ học nhẹ nhàng, thoải mái,
không khí ấm cúng, hấp dẫn, sinh động để trẻ học mà chơi- chơi mà học đạt
hiệu quả cao.
Luôn tìm hiểu nắm bắt đặc điểm tâm sinh lý của từng trẻ, đặc biệt chú ý
đến trẻ có tật bẩm sinh hay bệnh di truyền như : Ngắn lưỡi, dài lưỡi, nói
ngọng, nói lắp, nói nhỏ, ít nói, nói cụt câu, dùng từ không chính xác...để lập ra
kế hoạch luyện phát âm cho trẻ và dạy trẻ nói theo mẫu câu, uốn nắn trẻ
thường xuyên kịp thời ở mọi lúc mọi nơi.
Không nói tục, nói lóng, nói thiếu văn hoá trước mặt trẻ, không nói
những lời không phù hợp với lứa tuổi ấu nhi làm trẻ khó hiểu, đặc biệt phải
nói các câu có đủ thành phần ngữ pháp, nói rõ ràng, mạch lạc, biểu cảm, gần
gũi với trẻ để trẻ nghe rõ, hiểu nghĩa của từ, không nói quá to hoặc quá nhỏ
làm trẻ nhức tai và nghe không rõ.
Luôn phối hợp với gia đình tạo môi trường giáo dục tốt và chăm sóc tốt
để trẻ phát triển trí tuệ và thể chất tốt.
Khi trẻ nói ngọng, nói lắp, nói cụt câu người lớn cần phải sửa cho trẻ,
cần nhắc lại mẫu câu cho trẻ nói theo nhiều lần.
Cô giáo là người tuyên truyền với các bậc phụ huynh hiểu được tầm
quan trọng của việc dạy trẻ nói đúng ngữ pháp và tác hại của việc nói lắp, nói
ngọng.
Trong các trường hợp trên nếu người lớn và cô giáo tích cực, kiên trì
luyện cho trẻ phát âm nói đúng ngữ pháp thì trẻ sẽ phát triển ngôn ngữ tốt làm
tiền đề cho việc phát triển ngôn ngữ cho lứa tuổi sau này, góp phần hình thành
và phát triển nhân cách cho trẻ.
Biện pháp 8: Phối hợp với phụ huynh cùng chăm sóc giáo dục trẻ.
Tôi đã thường xuyên trao đổi với phụ huynh vào các giờ đón, trả trẻ để
thông tin kịp thời tình hình trẻ sinh hoạt ở nhóm để phụ huynh yên tâm, sau đó
sẽ yêu cầu phụ huynh ở nhà cần phải quan tâm đến những gì mà ở lớp trẻ làm
chưa tốt như: cố gắng dành thời gian để trò chuyện và lắng nghe trẻ nói, khơi
16
Sau thời gian thực hiện các biện pháp dạy trẻ nói đúng ngữ pháp, trẻ
trong nhóm đã nói đúng câu, sắp xếp các từ trong câu hợp lý, nói được câu
đúng thành phần chính, khắc phục được bệnh nói lắp, nói ngọng, nói cụt câu,
nói thiếu cấu trúc ngữ pháp trong câu ngày càng giảm xuống đáng kể.
17
Trong các giờ hoạt động ngoài trời hay vui chơi ở các góc trẻ đã biết giao
tiếp, xưng hô với nhau rất tình cảm thân thiện, đúng hoàn cảnh, giao tiếp với
nhau bằng các câu từ lô gíc, biểu cảm.
Ngôn ngữ của trẻ phát triển rõ rệt, trẻ dùng từ và câu rất rõ ràng, mang
nội dung thông báo, đúng hoàn cảnh giao tiếp không như giai đoạn đầu trẻ
tranh đồ chơi của nhau, không cho bạn chơi đồ chơi. Khi giao tiếp với người
lớn xung quanh trẻ cũng mạnh dạn, lễ phép và tự giác hơn.
100% các cháu trong lớp có nền nếp thói quen vệ sinh văn minh, có nề
nếp vui chơi, chơi tập, có thói quen lao động tự phục vụ...
Việc tiếp xúc với đồ vật cũng thành thạo khéo léo hơn, khả năng vận động
ngày càng cao, trẻ thuộc nhiều truyện ngắn, nhiều bài thơ, biểu diễn các bài
hát, đọc kể diễn cảm thể hiện hồn nhiên trong sáng.
Việc khám phá và lĩnh hội kiến thức với thế giới xung quanh của trẻ cũng
nhanh hơn và tích luỹ được nhiều vốn từ và kinh nghiệm sống, từ đó trẻ đã
phát triển ngôn ngữ một cách tốt hơn.
* Kết quả khảo sát cuối năm
Số trẻ nói đủ
Số trẻ
Số trẻ nói
%
66.7
Số trẻ
0
%
0
Số trẻ
0
%
0
II. BÀI HỌC KINH NGHIỆM
Như vậy qua quá trình học hỏi, tìm tòi xuất phát từ tầm quan trọng của
việc cho trẻ 25-36 tháng tuổi nói đúng ngữ pháp, nói mạch lạc, cô giáo cần
phải tìm hiểu đặc điểm của nhóm, của từng trẻ để tìm ra những biện pháp giáo
dục trẻ một cách tốt nhất. Qua nghiên cứu và thực tế giảng dạy bản thân tôi đã
rút ra một số bài học kinh nghiệm như sau:
18
Bản thân cô giáo phải là người yêu nghề mến trẻ cô cần nắm vững
đặcđiểm tâm sinh lý của trẻ để có những phương pháp biện pháp chăm sóc
giáo dục trẻ một cách tốt nhất.
trường tốt, thể hiện được ý thức hình thành nhân cách tốt.
Là giáo viên mầm non, với tất cả nỗ lực của bản thân khi ý thức được
nhiệm vụ của mình đối với yêu cầu của bộ môn và đối với nhu cầu nhận thức
của trẻ, hiện nay tôi đã luôn luôn tự học hỏi, rèn luyện mình để không ngừng
nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ 25-36 tuổi đặc biệt là giúp trẻ nói
đúng ngữ pháp, nói mạch lạc.
Trên đây là một số kinh nhiệm rút ra từ bản thân trong việc giúp trẻ 2536 tháng tuổi nói đúng ngữ pháp, nói mạch lạc. Với vốn kinh nghiệm ít ỏi của
bản thân và thời gian có hạn, cho nên đề tài không tránh khỏi những thiếu sót.
Vì vậy tôi rất mong được sự quan tâm góp ý kiến của Hội đồng khoa học và
bạn bè đồng nghiệp giúp tôi hoàn thành tốt nhiệm vụ chăm sóc giáo dục trẻ tại
trường mầm non.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Vạn Hà, ngày 20 tháng 3 năm 2011
Hội đồng chấm SKKN
Người thực hiện
Trường MN Thị trấn Vạn Hà
Nguyễn Thị Hoa
20