ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
PHẠM THỊ HẢI YẾN
TỔ CHỨC DẠY HỌC VẬT LÍ BẰNG TIẾNG ANH CHO
HỌC SINH LỚP 11 TRƢỜNG TRUNG HỌC
PHỔ THÔNG CHUYÊN NGOẠI NGỮ
(CHỦ ĐỀ SẢN XUẤT VÀ SỬ DỤNG TIẾT KIỆM ĐIỆN NĂNG)
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƢ PHẠM VẬT LÍ
HÀ NỘI – 2016
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
PHẠM THỊ HẢI YẾN
TỔ CHỨC DẠY HỌC VẬT LÍ BẰNG TIẾNG ANH CHO
HỌC SINH LỚP 11 TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ
THÔNG CHUYÊN NGOẠI NGỮ
(CHỦ ĐỀ SẢN XUẤT VÀ SỬ DỤNG TIẾT KIỆM ĐIỆN NĂNG)
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƢ PHẠM VẬT LÍ
CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ PHƢƠNG PHÁP DẠY HỌC
(BỘ MÔN VẬT LÍ)
Mã số: 60140111
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. Phạm Kim Chung
Anh .............................................................................................................. 32
iii
1.5.2. Giải pháp khắc phục khó khăn của giáo viên và học sinh khi dạy học
Vật lí bằng tiếng Anh .................................................................................. 34
Kết luận chương 1 ........................................................................................... 37
CHƢƠNG 2: THIẾT KẾ VÀ TỔ CHỨC DẠY HỌC CHỦ ĐỀ SẢN XUẤT
VÀ SỬ DỤNG TIẾT KIỆM ĐIỆN NĂNG BẰNG TIẾNG ANH
Ở
TRƢỜNG THPT CHUYÊN NGOẠI NGỮ..................................................... 39
2.1. Điều tra thực trạng về dạy học các môn khoa học tự nhiên bằng tiếng Anh
ở trường THPT chuyên ngoại ngữ .................................................................. 39
2.1.1. Mục đích điều tra .............................................................................. 39
2.1.2. Phương pháp điều tra ........................................................................ 39
2.1.3. Kết quả điều tra ................................................................................. 39
2.2. Thiết kế tiến trình và tổ chức dạy học vật lí bằng tiếng anh.................... 44
2.2.1. Xây dựng chủ đề Sản xuất và sử dụng tiết kiệm điện năng.............. 44
2.2.2. Xây dựng chủ đề ............................................................................... 57
2.3. Thiết kế tiến trình daỵ học chủ đề............................................................ 58
2.3.1. Mục tiêu của chủ đề .......................................................................... 58
2.3.2. Thiết kế các hoạt động dạy học......................................................... 59
Kết luận chương 2 ........................................................................................... 63
CHƢƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƢ PHẠM ............................................... 64
3.1. Mục đích, đối tượng, nội dung thực nghiệm sư phạm ............................. 64
3.1.1. Mục đích thực nghiệm sư phạm........................................................ 64
3.1.2. Đối tượng và nội dung thực nghiệm sư phạm .................................. 64
khuyến khích các trường cử giáo viên tập huấn trực tiếp ở nước ngoài hoặc
mời các chuyên gia nước ngoài tập huấn, trao đổi; khuyến khích giáo viên sưu
tầm, nghiên cứu tài liệu dạy chuyên đề bằng tiếng Anh cho học sinh. Hiện nay
nguồn tư liệu mà giáo viên tiếp cận là hết sức rộng rãi, các sách giáo khoa của
Anh, Úc , Mỹ, Singapor…và nhiều bài viết trên mạng Internet có thể được sử
dụng để tham khảo tốt.
Việc dạy học các môn khoa học tự nhiên bằng Tiếng Anh có nhiều ưu
điểm. Sau khi kết thúc chương trình học, học sinh không chỉ nắm vững các
1
kiến thức học thuật cơ bản của các bộ môn khoa học theo hướng tích hợp và
ứngdụng cao mà còn nâng cao trình độ ngoại ngữ là Tiếng Anh. Mặt khác,
trong quá trình học, học sinh sẽ được rèn luyện thêm kỹ năng làm các bài thi
theo chuẩn đánh giá tiếng Anh khác nhau như SAT, IELTS, TOEFL,…cũng
như rèn luyện các kĩ năng sống, các phương pháp học tập tự nghiên cứu và
sáng tạo cũng như các kĩ năng mềm khác.
Tuy nhiên việc dạy học các môn Toán và Khoa học tự nhiên bằng Tiếng
Anh trong trường phổ thông bước đầu đã và đang phải một số khó khăn như:
chương trình dạy học chưa thống nhất; đội ngũ giáo viên cũng như học sinh
chưa đáp ứng được trình độ ngoại ngữ; công tác kiểm tra đánh giá còn nhiều
bất cập; cơ sở vật chất và phương tiện dạy học chưa đáp ứng được đầy đủ nhu
cầu của môn học; chế độ đối với giáo viên còn hạn chế.
Trước những ưu điểm cùng với những khó khăn, thách thức lớn của việc
dạy học các môn khoa học tự nhiên bằng Tiếng Anh cần có nghiên cứu kết hợp
với việc áp dụng quan điểm dạy học tích hợp liên môn và phương pháp dạy học
tích cực theo định hướng phát triển năng lực vào trong quá trình dạy học các
môn khoa tự nhiên nói chung và Vật lí nói riêng bằng tiếng Anh nhằm nâng
cao chất lượng dạy học cả về nội dung sử dụng tiếng Anh của học sinh.
2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu tổ chức dạy học Vật lí bằng tiếng Anh nhằm nâng cao chất
lượng nắm vững kiến thức của học sinh trong học tập môn vật lí; đồng thời
nâng cao khả năng sử dụng tiếng Anh của học sinh.
2. Giả thuyết khoa học
Nếu vận dụng cơ sở lí luận về dạy học cho học viên học tiếng Anh ELL
và cách tiếp cận CLIL (Language Integrated Learning) học tập Vật Lí bằng
tiếng Anh cho học sinh trường chuyên ngoại ngữ sẽ giúp học sinh nâng cao
năng lực sử dụng Tiếng Anh để học Vật Lí, tăng hứng thú, phát huy tính tích
cực của học sinh trong học tập.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích đề ra, đề tài có các nhiệm vụ cụ thể sau:
3
+ Nghiên cứu lí luận về dạy học dạy học cho học viên học tiếng Anh
ELL và cách tiếp cận CLIL (Language Integrated Learning) .
+ Nghiên cứu thực tiễn về việc dạy học các môn khoa học tự nhiên
bằng tiếng Anh nói chung và dạy học vật lí bằng tiếng Anh nói riêng.
+ Nghiên cứu mục tiêu, nội dung và logic hình thành một số đơn vị
kiến thức về sử dụng và tiết kiệm điện năng trong chương trình SGK Vật Lí
THPT ở Việt Nam cũng như việc dạy học các kiến thức này trong SGK nước
ngoài và các tài liệu bằng tiếng Anh khác có liên quan, từ đó đề xuất tiến trình
dạy học các nội dung kiến thức này bằng tiếng Anh một cách hợp lí nhằm phát
triển năng lực họcsinh.
+ Thiết kế tiến trình dạy học một số đơn vị kiến thức về sử dụng và
tiết kiệm điện năng trong dạy học vật lí ở THPT chuyên ngoại ngữ bằng
tiếng Anh.
+ Thực nghiệm sư phạm: Tiến hành dạy học một số đơn vị kiến thức vật
HS cần nắm vững và các TN mà GV, HS cần tiến hành trong dạy học vật lí
bằng tiếng Anh những kiến thứcđó.
- Thực nghiệm sư phạm. Tổ chức hoạt động dạy học một số nội
dung về sản xuất và sử dụng tiết kiệm điện năng bằng tiếng Anh tại trường
THPT Chuyên Ngoại ngữ, Đại học Ngoại Ngữ, Đại học Quốc gia Hà Nội.
7. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị thì luận văn có 3 chương
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài
Chương 2: Thiết kế tiến trình dạy học và tổ chức dạy học vật lí bằng
tiếng Anh ở trường THPT
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
5
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu
1.1.1. Dạy môn khoa học bằng tiếng Anh ở nước ngoài
Tại Mỹ, nhiều học sinh có chủng tộc, ngôn ngữ khác nhau. Sự đa dạng
về ngôn ngữ của học sinh đã được tăng lên nhanh chóng trong tất cả các vùng
của nước Mỹ. Hơn 5,5 triệu, hoặc 11%, học sinh các trường công lập hiện nay
được phân loại như những người học tiếng Anh (NCES 2006), và các Trường,
Tỉnh, và các Bang gặp nhiều khó khăn trong dạy học các môn học cho học
sinh (NSF 2006). Cùng với việc giảm số lượng thời gian lớp học dành cho việc
giảng dạy môn khoa học, nhiều sinh viên không được hướng dẫn đầy đủ và
không được tiếp cận với các chương trình học môn khoa học có chất lượng.
Hiệp hội Khoa học Giáo viên Quốc gia Mỹ (NSTA) khẳng định rằng tất
cả học sinh, kể cả những người được xác định là người học tiếng Anh (ELL),
có thể và cần phải có mọi cơ hội để học hỏi và thành công trong học môn
thuật. Ngôn ngữ xã hội là theo ngữ cảnh, cho phép học sinh dựa vào ngôn ngữ
mẹ đẻ để suy ra ý nghĩa và giải thích các dấu hiệu và ngôn ngữ cơ thể. Ngôn
ngữ học thuật là trừu tượng hơn và việc hiểu ngôn ngữ học thuật theo nghĩa
thông thường có thể mất ý nghĩa của thuật ngữ khoa học. Trong bài học, học
sinh thường xuyên phải xây dựng kiến thức dựa vào sự hiểu biết riêng của
họ về cả ngôn ngữ và các khái niệm liên quan. Chúng đều quan trọng để học
sinh học tập và phát triển trong xã hội, học sinh có thể tương đối thành
thạo ngôn ngữ xã hội, họ vẫn phải được dạy để sử dụng ngôn ngữ học thuật
(Kang & Pham, 1995; Laplante, 1997; Lee & Fradd, 1996). [10]
Nhiều tranh luận nên chọn sử dụng ngôn ngữ giảng dạy chính, tiếng
Anh hoặc ngôn ngữ mẹ đẻ của học sinh. Nghiên cứu cho thấy rằng ngôn ngữ
mẹ đẻ của học sinh có
thể đóng một vai trò quan trọng trong khoa
học và toán học của họ học tập. Khi học sinh được phép sử dụng tiếng mẹ
đẻ trong lớp học, thành tích học tập cũng như phát triển ngôn ngữ tiếng Anh
thường xuyên cải thiện (Kang & Pham, 1995; Latham, 1998). Nó có thể đặc
7
biệt hữu ích cho học sinh sử dụng ngôn ngữ của họ trong việc học. Điều
này có
thể cho
phép
họ xây
ngôn ngữ nói chung và tiếng Anh nói riêng. Thứ hai, cần tập trung xây dựng
hệ thống mẫu câu tiếng Anh sử dụng trong dạy học môn học, ở mỗi ngành
khoa học đều có mẫu câu chung và mẫu câu riêng được sử dụng trong quá
trình dạy học. Để thuận lợi trong việc dạy học hoá học bằng tiếng Anh, cần
phải xây dựng hệ thống các loại mẫu câu chung và riêng cho mỗi chương, mỗi
9
chủ đề. Trước hết cần phải xây dựng được hệ thống mẫu câu bằng tiếng việt,
sau đó giáo viên thực hiện việc phân loại mẫu câu và chuyển mẫu câu tiếng
Việt thành tiếng Anh. Trong quá trình soạn giáo án lên lớp, giáo viên sử dụng
mẫu câu đã xây dựng để hoàn thiện giáo án mà không cần phải vừa soạn giáo
án vừa xây dựng mẫu câu và chuyển mẫu câu thành tiếng Anh.
Một thực tế là nhiều học sinh các trường chuyên có tư duy tốt, đặc biệt
là các môn khoa học tự nhiên nên khả năng tiếp thu môn học này bằng tiếng
Anh khá tốt. Nhiều em có quá trình học ngoại ngữ nhiều năm ở các lớp học
dưới nên kiến thức của các em về môn học lẫn ngoại ngữ đều rất phong phú.
Trước thực tế này, nhiều giáo viên tỏ ra e ngại khi trình bày bài giảng với các
học sinh.
Về chương trình các môn khoa học ở phổ thông còn nặng về tính toán
trong khi nhiều kiến thức lý thuyết nên việc đảm bảo vừa nâng cao chương
trình vừa đáp ứng nhu cầu thi đại học với số đông học sinh. Hơn nữa, các vấn
đề chuyên môn khó thì nếu sử dụng tiếng Anh để giảng dạy HS sẽ không thể
hiểu được khi ngoại ngữ vẫn còn là rào cản.
Từ 23 tháng 11 đến 25 tháng 12 năm 2015, Hội đồng Anh tại Việt Nam
vừa tổ chức khóa học Phương pháp Giảng dạy môn chuyên ngành bằng tiếng
Anh (ATE) lần đầu tiên tại Việt Nam. Khóa học Phương pháp Giảng dạy môn
chuyên ngành bằng tiếng Anh (ATE), là một trong những hoạt động trong
khuôn khổ Đề Án Ngoại Ngữ Quốc Gia 2020 và Hội đồng Anh đã hợp tác với
học tăng hiểu biết và hiểu biết môn học, mục tiêu đồng thời học tập môn học
và sử dụng ngôn ngữ. Nội dung môn học là quan trọng nhất trong CLIL vì
học tập về khoa học liên quan đến phát triển hiểu biết về thế giới; các khái
niệm, kiến thức khoa học trong đó người học cần phát triển, sử dụng chính
xác ngôn ngữ khoa học.
Nguyên tắc cơ bản của CLIL cho rằng trong lớp học: Ngôn ngữ được
sử dụng để học hỏi cũng như để giao tiếp và cần dựa vào chủ đề mà xác định
ngôn ngữ cần thiết để tìm hiểu.
11
Cách tư duy 4C của Coyle trong CLIL giúp lập kế hoạch và tổ chức
dạy học (Coyle, 1999). Cụ thể 4C là:
1. Nội dung (Content): đề tài khoa học là gì? ví dụ chuyển động, năng
lượng, điện trường ….
2. Giao tiếp (Communication): ngôn ngữ gì khoa học người học
sẽ
giao tiếp suốt trong bài học? ví dụ ngôn ngữ so sánh và phân
tích điểm tương đồng và sự khác biệt giữa chuyển động, so sánh các loại năng
lượng, các loại điện tích…
3. Nhận thức (Cognition): yêu cầu người học cần kỹ năng tư duy
gì đang trong các bài học khoa học ? ví dụ phân loại chuyển động, suy
nghĩ về mốc không gian và thời gian.
4. Văn hóa (Culture) (đôi khi còn là cộng đồng (Community) hoặc
Công dân (Citizenship): CLIL cũng chú trọng đến văn hóa, ý thức công dân,
ứng xử trong cộng đồng khi học các bài học, ví dụ người học có thể vận dụng
kiến thức về chuyển động đảm bảo an toàn giao thông, giao thông ở Hà Nội
+ Ngôn ngữ được tiếp cận từ vựng hơn là ngữ pháp
+ các loại nhiệm vụ cần dựa trên phong cách người học. [14]
1.2.2. Ngôn ngữ dạy học môn khoa học bằng tiếng Anh theo tiếp cận CLIL
Theo tiếp cận CLIL, Toán học đã được coi là lĩnh vực có nhu cầu ngôn
ngữ tối thiểu. Trong thực tế, toán học và ngôn ngữ kết nối tạo điều kiện cho
tư duy toán học (Dale & Cuevas, 1992). Để giải quyết vấn đề của Toán học
các học sinh phải có kỹ năng trong việc sử dụng ít nhất các căn bản ngôn
ngữ của Toán học. Các ngôn ngữ của Toán học bao gồm từ vựng chuyên
ngành và bình luận kết quả (Kang & Phạm, 1995). Nó cũng thế kết hợp "từ
vựng hàng ngày, những từ đó mang một ý nghĩa khác nhau trong toán học "
(Dale & Cuevas, Năm
1992).
Ngôn
ngữ
toán học có
thể
được thể
hiện bằng nhiều cách khác nhau, đặt ra những thách thức cho sinh
viên, Ví dụ: Thêm, cộng, kết hợp, và, tổng hợp… biểu diễn bằng một số ký
13
14
kết tiếng Anh (ngôn ngữ thứ hai) với nội dung khoa học giảng dạy, giúp học
sinh phát triển kỹ năng trong việc sử dụng ngôn ngữ chuyên ngành của Toán
học và khoa học. [9]
Khi học môn học qua tiếng Anh, mỗi đề tài học tập của môn khoa học
bắt buộc sử dụng tiếng Anh học thuật, học sinh có nhu cầu tìm hiểu và trình
bày các vấn đề thuộc môn học cần đến biết cả ngôn ngữ trình bày khoa học và
cả tiếng Anh giao tiếp. Hai loại ngôn ngữ này được gọi là ngôn ngữ nội dung
- bắt buộc (Content-obligatory language) và ngôn ngữ nội dung-tương thích
(content-compatible language).
* Ngôn ngữ nội dung - bắt buộc (Content-obligatory language)
Mỗi môn học bắt buộc sử dụng ngôn ngữ riêng liên quan đến nội dung
khoa học, cụ thể là từ vựng, thuật ngữ, cấu trúc ngữ pháp cần đến để:
+ Học các chủ đề trong chương trình môn học (learn about a curricular
subject).
+ Tiếp thu và trình bày kiến thức chủ đề (communicate
subject
knowledge).
+ Thực hiện các nhiệm vụ trong lớp học (Take part in interactive
classroom tasks).
* Ngôn ngữ nội dung-tương thích (content-compatible language). [14]
Ngôn ngữ nội dung – tương thích là ngôn ngữ được sử dụng trong giao
tiếp hàng ngày mà học sinh có thể học trong các lớp tiếng Anh thông thường,
những ngôn ngữ này giúp học sinh tìm hiểu và trình bày đầy đủ hơn nội dung
môn khoa học.
Ví dụ, giáo viên khoa học có thể xác định các ngôn ngữ sau đây để tìm
trên cạn
Chúng đẻ trứng.
terrestrial
They lay eggs.
thủy sản
Họ bắt cá.
aquatic
They catch fish.
1.3. Tổ chức dạy học các môn khoa học bằng tiếng Anh theo tiếp cận CLIL
1.3.1. Hướng dẫn chuyên đề
Bằng cách tổ chức các khái niệm quan trọng, hoặc những ý tưởng lớn,
thành các đơn vị kiến thức dựa trên chủ đề, giáo viên có thể tạo ra những kinh
nghiệm học tập, cho học sinh nhiều thời gian để thành thạo với các ngôn ngữ
dùng để thảo luận và tìm hiểu những khái niệm khác (Anstrom & Lynch,
1998). Để giúp học sinh kết nối tri thức và kinh nghiệm trong cuộc sống hàng
ngày của học sinh (Kessler, et al, 1992;. Lee, Fradd, & Sutman, 1995). Điều
này có thể đạt được thông qua ứng dụng thực tế của các khái niệm then
chốt; trình bày ý tưởng và tổ chức hoạt động trong hoàn cảnh thực tế học
sinh, khuyến khích học sinh nói về những kinh nghiệm và kiến thức liên
quan chủ đề. Học sinh cảm thấy khó khăn khi tham gia thảo luận, khi đó, học
sinh có thể vẽ và có thể sử dụng ngôn ngữ thứ nhất và kinh nghiệm cá
nhân để thể hiện sự hiểu biết của mình (Ballenger, 1996).
and
Science
to English-Language Learners, Mathematics and Science Education
Center, Northwest Regional Educational Laboratory.
8. University of Cambridge ESOL Examinations (2010), Teaching Science
through English – a CLIL approach. Cambridge University Press.
9. Bentley, K. and Phillips, S. (2007) Teaching science in CLIL, unpublished
raw data
10. Coyle, D. (1999) Theory and planning for effective classrooms:
supporting students in content and language integrated learning contexts
in Masih, J. (ed.) Learning through a Foreign Language, London: CILT