Tiểu luận tâm lý học Vai trò của trí nhớ trong hoạt động học tập - Pdf 43

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP TP HỒ CHÍ MINH
KHOA THƯƠNG MẠI – DU LỊCH

TIỂU LUẬN
MÔN HỌC:TÂM LÝ HỌC ĐẠI CƯƠNG
Tên đề tài tiểu luận: Vai trò của trí nhớ trong hoạt động học tập

Giáo viên hướng dẫn: PGS.TS Phan Thị Tố Oanh
Lớp: Luật Kinh Tế 12A Nhóm:6
Trưởng nhóm: Hoàng Văn Điền – MSSV: 15065001
Thành viên

MSSV

Đinh Công Hào

15031931

Nguyễn Hoàng Vũ

15031751

Phạm Minh Tâm

15036471

Vy Quang Trường

15055771

Lê Thành Đạt

Thời
gian
thực
hiện

Kết
quả
thực
hiện

Điểm
THANG
ĐIỂM
10
10

Đinh Công
Hào

Các quá trình 1 tuần Hoàn
trí nhớ, kết
thành
luận
14014711 Các nguyên
1 tuần Hoàn
nhân dẫn đến
thành
sự suy giảm
của trí nhớ
1503193 Khái niệm,

1 tuần Hoàn
thành
1 tuần Hoàn
thành

10

6

Các phương
pháp rèn
luyện trí nhớ
Liên hệ bản
thân
Lời nói đầu,
Phần mở đầu

10

10

10


LỜI NÓI ĐẦU
Xin chân thành cảm ơn trường đại học Công Nghiệp Tp.HCM, khoa
Du Lịch đã tạo điều kiện thuận lợi về cơ sở vật chất và tài liệu tốt nhất
trong suốt quá trình học tập của chúng em. Cảm ơn cô: PGS-TS Phan
Thị Tố Oanh đã tận tình hướng dẫn và truyền dạy những kiến thức quý
báu trong chương trình học, chia sẻ kinh nghiệm của cô cho bài tiểu luận

nhớ mà hiệu quả lại không cao, các bạn nhanh chóng quên hết những gì
đã học sau một thời gian ngắn, đó chính là lí do nguồn tri thức cung cấp
từ nhà trường cho học sinh sinh viên là rất lớn nhưng cái thu nhận của
các bạn lại quá ít là một trong những nguyên nhân làm cho các bạn sv
khi ra trường cảm thấy mình chưa thực sự đủ kiến thức và khả năng để
làm việc
Muc tiêu:
Hiểu rõ được vai trò của trí nhớ trong học tập
Phương pháp nghiên cứu:
Để hiểu rõ về vai trò của trí nhớ trong học tập nhóm chúng em đã
cùng học nhóm tìm hiểu các sách vở tài liệu có liên quan, cũng như các


hiểu biết của bản thân để có thế hiểu rõ được tầm quan trọng của trí nhớ
trong học tập.

II. Nội dung :
1. Cơ sở lí luận :
1.1 Khái niệm trí nhớ :
Cơ sở sinh lí của trí nhớ là sự hình thành, giữ lại và gợi lại những
đường liên hệ thần kinh tạm thời và sự diễn biến của các quá trình lí hóa
trong vỏ não và phần dưới vỏ não. Những đường liên hệ thần kinh tạm
thời đó được củng cố tương đối vững chắc nhờ có sự lặp đi lặp laị nhiều
lần và có thời gian nhất định để củng cố. Sự hình thành và giữ gìn các
đường liên hệ tạm thời, sự dập tắt và làm sống dậy chúng chính là cơ sở
sinh lí của trí nhớ.
Trí nhớ là quá trình nhận thức thế giới bằng cách ghi lại, giữ lại và
làm xuất hiện lại những gì cá nhân thu nhận được trong hoạt động sống
của mình. Trí nhớ là quá trình tâm lý phản ánh vốn kinh nghiệm của con
người dưới hình thức biểu tượng bằng cách ghi nhớ, giữ gìn, nhận lại và



những năng lực tâm lý tự trị mà được hình thành trong hoạt động và do
hoạt động quy định
+Quá trình ghi nhớ (mã hoá thông tin)
Đây là giai đoạn đầu tiên của một hoạt động trí nhớ cụ thể nào đó.
Ghi nhớ là quá trình hình thành dấu vết, “ấn tượng” của đối tượng mà ta
đang tri giác (tức là tài liệu phải ghi nhớ) trên vỏ não, đồng thời cũng là
quá trình hình thành mối líên hệ giữa tài liệu mới và tài liệu cũ đã có,
cũng như mối liên hệ giữa các bộ phận của bản thân tài liệu mới với
nhau. Trong giai đoạn này, trí nhớ cảm giác có vai trò quan trọng để ghi
nhớ thông tin ban đầu dưới dạng những kích thích. Trí nhớ cảm giác chỉ
tồn tại trong một thời gian ngắn ngủi (khoảng 1 giây). Trí nhớ cảm giác
có liên quan đến các cơ quan cảm giác tiếp nhận kích thích như trí nhớ
thị giác, trí nhớ thính giác, và các loại trí nhớ khác tương quan với mỗi
giác quan khác). Khả năng lưu giữ thông tin của trí nhớ giác quan khác
nhau. Trí nhớ thị giác không đến 1 giây, trí nhớ thính giác kéo dài từ 3 –
4 giây,… Khả năng lưu giữ của thông tin mất ngay, tuy nhiên trí nhớ
cảm giác có độ chính xác cao đối với kích thích tác động vào cơ quan
cảm giác. Trí nhớ cảm giác như là một hình chụp nhanh để lưu giữ
thông tin trong thời gian ngắn, sau khi kích thích tác động vào các qiác
quan thì thông tin được lưu giữ trong khoảng thời gian 1 giây thì bị phá
huỷ và được thay thế bằng một thông tin mới. Nếu thông tin trong trí


nhớ cảm giác không chuyển sang dạng trí nhớ khác thì sẽ bị mất thông
tin.
+Quá trình lưu giữ thông tin.
Lưu giữ là quá trình củng cố vững chắc những dấu vết đã hình thành
được trên vở não trong quá trình ghi nhớ, có liên quan đến trí nhớ ngắn

2. Một số biện pháp rèn luyện để nâng cao trí nhớ :
2.1. Các nguyên nhân dẫn đến sự suy giảm trí nhớ :
Trước khi đi vào phân tích các cách rèn luyện trí nhớ. Ta cần tìm ra
nguyên nhân gì khiến chúng ta quên đi một sự vật, hiện tượng; để từ đó
nhìn nhận đúng, xác định đúng và có phương pháp khắc phục sự quên
nhằm duy trì khả năng nhớ của con người. Bởi trên thực tế, không phải
cái gì con người cũng có thể nhớ được trọn vẹn, hoàn chỉnh. Có nhiều
nguyên nhân dẫn đến sự suy giảm trí nhớ nhưng dưới đây là những lí do
cơ bản :


Thứ nhất, quên do vấn đề cần được nhớ không liên quan đến đời
sống hoặc ít liên quan, ít có ý nghĩa thực tiễn đối với cá nhân. Trong thực
tiễn cuộc sống, mỗi cá nhân đều vấn đề chủ yếu cần phải nhớ; người học
sinh có vấn đề chủ chốt là kiến thức học tập; những bài giảng thuộc
chuyên ngành của mình là vấn đề nhớ chủ yếu của giáo viên còn luật sư
thì nhớ các vấn đề liên quan đến luật…Tuy nhiên nếu họ gặp những vấn
đề thuộc ngoài lĩnh vực nghiên cứu chủ yếu của mình 1 hoặc vài lần thì dễ
quên. Những cái gì không được nhắc đi nhắc lại hoặc không được sử dụng
thường xuyên trong hoạt động hằng ngày của cá nhân thì dễ bị quên.
Thứ hai, quên do sự việc cần nhớ không liên quan đến đời sống chủ
thể, hoặc có yếu tố không phù hợp với hứng thú, sở thích, nhu cầu của
chủ thể. Nhu cầu thường trở thành động lực thúc đẩy cá nhân hoạt động
nhằm thỏa mãn chính những nhu cầu đó. Bởi vậy những gì đáp ứng nhu
cầu có thể nói là ấn tượng khó quên của con người. Ngược lại nếu những
vấn đề, vật chất, tinh thần…nào dó mà không đáp ứng nhu cầu thì con
người rất dễ quên. Khi chúng ta hứng thú với điều gì đó thì nó sẽ đuợc ý
thức rõ hơn và khiến ta xuất hiện một cảm tình đặc biệt với nó. Bởi vậy
hứng thú là cơ sở để ta nhớ lâu. Nhưng nếu không hứng thú về đối tượng
đó thì lại dễ quên.

d

kinh nghiệm của mình vào quá trình nhớ.
Kể cho ai đó nghe về một cuốn sách hay, câu chuyện hay là một cách
thông minh để nhớ về nó. Việc nói ra miệng sẽ giúp các thông tin được
“mã hoá” dễ dàng hơn, hoặc liên kết dễ dàng hơn với những thông tin đã
có sẵn trong bộ nhớ. Sử dụng khả năng này, trí nhớ của bạn không
những truyền đạt đi những thông tin, mà còn chuyển tải những cảm xúc
đa dạng, phong phú - thật khác xa


e

Thời gian học tập, làm việc và nghỉ ngơi hợp lí cũng làm tăng khả năng
trí nhớ. Các nghiên cứu cho rằng trong bất kì một khoảng thời gian học
tập nào cũng có hai đỉnh điểm ghi nhớ không tốt là lúc bắt đầu và sắp
kết thúc. Vì vậy, thời gian học tập lí tưởng trong mỗi lần học không nên
dài quá 2 tiếng. Mỗi lần học nên chia làm 4 phần nhỏ, mỗi phần dài 25
phút, giữa các phần nên nghỉ ngơi 5 phút để làm một vài động tác đơn
giản hoặc nghe một bản nhạc nhẹ… Sau mỗi lần học nên nghỉ nửa tiếng

f

rồi tiếp tục vào khoảng thời gian học mới.
Đi bộ. Một nhóm nghiên cứu của trường Đại học Illinois (Mỹ) nhận thấy
chỉ sau 3 tháng đi bộ, hoạt động nhớ của một nhóm người tương đương
với những người trẻ hơn họ 3 tuổi. Nhóm nghiên cứu cũng phát hiện
thấy việc đi bộ thúc đẩy đốt sống cổ, từ đó tăng lượng máu chuyển lên
não. Theo giáo sư Lee Dong-yeong ở khoa Thần kinh (bệnh viện Quốc
gia Seoul, Hàn Quốc), hoạt động tuần hoàn máu tích cực kích thích sự

tối. Bạn nên thử tìm thời điểm học thích hợp cho mình. Khi học tập điều
quan trọng nhất là phải có sự tập trung, khi học bạn có thể nghe một bản
nhạc nhẹ để nao phải và náo trái cùng họat động cùng phối hợp, đạt
hiểu quả làm việc cao nhất. Có một cách để nhớ lâu, đó là nên học theo
nhóm. Mỗi người tự mình tái hiện lại kiến thức và diễn đạt lại bằng ngôn
ngữ của mình cho bạn bè nghe. Khi đã diễn đạt được như vậy sẽ nhớ rất
lâu. Việc ôm khư khư quyển sách lẩm nhẩm một mình rất ít hiệu quả.


Đọc sách là một cách cải thiện trí nhớ tốt hơn các cách thông
thường như chơi bài hoặc chơi cờ. Sau khi nghiên cứu mối quan hệ giữa
chứng mất trí và những hoạt động giải trí như chơi cờ, chơi bài, xem tivi
và đọc sách, một nhóm nghiên cứu ở Trung tâm Y học (trường Đại học
Kyung Hee, Hàn Quốc) nhận thấy những người đọc sách ít có nguy cơ
phát triển chứng mất trí hơn. Theo tiến sĩ Won Jang-won ở bệnh viện
trường Đại học Kyung Hee, đọc sách giúp thúc đẩy sự dịch chuyển từ bộ
nhớ ngắn hạn sang bộ nhớ dài hạn bằng việc luyện khả năng hiểu các sự
kiện xảy ra trước đó và sau đó trong một cuốn sách. Nhưng cách đọc
sách hiệu quả mà giúp dễ dàng ghi nhớ nội dung sách là trước khi đọc
bất kỳ quyển sách nào, bạn nên nhìn tựa đề sách, tác giả, sau đó lật giở
mục lục, tài liệu tham khảo để xác định tâm thế khi đọc. Khi đọc phải
biết sàn lọc những thông tin. Từ ngữ quan trọng để ghi nhớ bởi trong
một cuốn sách có đến 80% từ ngữ rườm rà, chỉ còn lại 20% là những từ
ngữ cốt lõi chứa đựng nội dung của cuốn sách.
Một cách rất tốt cho việc ghi nhớ những thông tin là ghi chép lại.
Một lần ghi chép được ví như một lần học qua. Dung lượng ghi nhớ dài
hạn của não người không có giới hạn. Nhưng dung lượng ghi nhớ ngắn
hạn lại hạn chế - ví dụ như việc nhớ số điện thoại vừa học thuộc, danh
sách các việc phải làm trong ngày, tên của các cửa hiệu đọc lướt qua cửa
kính ô tô… Những người già có ít tế bào nhớ hơn, nên tốt hơn là họ cần

Cùng với việc học cần phải có chế độ nghỉ ngơi hợp lí tránh để tình
trạng căng thẳng gây ức chết thần kinh. Đặc biệt kết hợp với chế độ ăn
uống hợp lí. Cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng sẽ giúp não bộ hoạt động
tốt hơn, lưu thông máu tốt từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho việc ghi nhớ
tài liệu.
Ngoài ra còn có rất nhiều cách để rèn luyện trí nhớ như uống rượu
vang, uống cà phê… Việc lựa chọn những cách rèn luyện phụ thuộc vào
cơ địa, vào hoàn cảnh cụ thể của mỗi người. Tuy vậy việc rèn luyện cần
phải được bắt đầu từ sớm và phải diễn ra thường xuyên mới có hiệu quả.
3. Kết luận
Trí nhớ có vai trò rất quan trọng trong đời sống con người: Nhờ có trí
nhớ mà những sự vật hiện tượng đã được tri giác trước đây tạo thành
vốn kinh nghiệm, chính vì vậy nếu không có trí nhớ thì ta không thể
nhận thức được thế giới khách quan, không thể đem tri thức (kinh
nghiệm) vào vận dụng trong thực tiễn. Nhờ có trí nhớ mà nó giúp cho
con người định hướng được thế giới khách quan, nó là cơ sở, là tiền đề
để giúp con người đi sâu vào bản chất sự vật hiện tượng mà bản thân
cảm giác, tri giác, không thể đi sâu được. Nhờ có trí nhớ mà nó giúp con
người tiết kiệm được thời gian và công sức. Do đó, làm cho hoạt động


đạt kết quả cao. Trí nhớ cung cấp các tài liệu cho nhận thức lý tính một
cách trung thành, đầy đủ. Nhờ có trí nhớ mà con người hoạt động được,
học tập được và làm điều kiện để phát triển tâm lý bình thường ở con
người.

Nguồn:
-Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình tâm lí học đại cương,
Nxb.CAND, Hà Nội, 2007
-


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status