Hành vi cạnh tranh không lành mạnh gây thiệt hại cho đối thủ cạnh tranh (tt) - Pdf 43

TÓM TẮT
Luật Cạnh tranh được coi là đạo luật xương sống của nền kinh tế thị trường.
Việc ban hành Luật Cạnh tranh 2004 đã tạo hành lang pháp lý quan trọng nhằm duy
trì một môi trường cạnh tranh bình đẳng và công bằng cho các chủ thể kinh doanh
trước các hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong đó có hành vi cạnh tranh không
lành mạnh gây thiệt hại cho đối thủ cạnh tranh. Có thể nói, các quy định của Luật góp
phần bảo đảm sự lành mạnh của thị trường, quyền lợi hợp pháp của doanh nghiệp, lợi
ích của Nhà nước, đảm bảo thực thi có hiệu quả pháp luật chống cạnh tranh không
lành mạnh góp phần vào kết quả chung trong việc thi hành pháp luật cạnh tranh ở
nước ta.
Thế nhưng, sau quá trình hơn 10 năm thực thi, bên cạnh những thành tựu đã
đạt được trong việc chống cạnh tranh không lành mạnh thì trên thực tế một số quy
định của Luật cạnh tranh đã phát sinh những vướng mắc, bất cập. Nguyên nhân xuất
phát từ một số quy định trong quá trình ban hành và thực thi còn hạn chế như: Quy
định ép buộc trong kinh doanh, gièm pha doanh nghiệp khác, gây rối hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp khác, quảng cáo so sánh trực tiếp hàng hóa, dịch vụ của mình
với hàng hóa, dịch vụ của doanh nghiệp khác, khuyến mại tặng hàng hóa cho khách
hàng dùng thử nhưng lại yêu cầu khách hàng đổi hàng hóa cùng loại do doanh nghiệp
khác sản xuất gây thiệt hại trực tiếp và hiện hữu cho đối thủ cạnh tranh chưa có khái
niệm rõ ràng, cụ thể hay không có nghị định thông tư hướng dẫn cụ thể… Những hạn
chế trong các quy định hiện hành không chỉ giảm khả năng điều chỉnh của pháp luật
mà còn có thể cản trở sự sáng tạo lành mạnh trong quá trình kinh doanh của doanh
nghiệp đòi hỏi phải được nghiên cứu, đóng góp giải quyết nhằm hoàn thiện các quy
định của pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi của cơ quan quản lý cạnh tranh để
đáp ứng yêu cầu cấp thiết về phát triển kinh tế-xã hội, yêu cầu quản lý nhà nước, giải
quyết các vấn đề bức xúc người dân trong xu thế phát triển và hội nhập. Trong bối
cảnh Quốc hội khóa XIV đã đưa dự án Luật Cạnh tranh sửa đổi vào Chương trình xây
dựng luật, pháp lệnh năm 2017.

-iii-


unfair contribution section on the overall result of the enforcement of competition
law in our country.
But over 10 years after the execution, besides the achievements gained in
combating unfair competition is in fact a number of provisions of the Competition
Act has incurred difficulties and shortcomings. The cause stems from a number of
provisions in the promulgation and enforcement is limited, such as: Regulations force
in business, other businesses slurs, disruptive business operations of another
enterprise, advertising over directly comparable goods or services of their goods and
services of other enterprises, promotion of goods donated for trial customers but
customer requirements in goods of the same type produced by other firms for damage
direct and tangible harm to competitors no clear concept, no specific or circular
decree specific instructions ... the limitations of the current regulations do not only
reduce the likelihood of legal adjustments laws but also can interfere with a healthy
creativity in business processes of the enterprise requires to be studied, to contribute
to improving settlement provisions of the law and improve the effectiveness of
enforcement agencies competition management to meet the urgent requirements of
economic development-social, state management requirements, solve the pressing
problems of people in the developing trends and integration. In the context of the
National Assembly gave the project XIV Competition Act amendments to the
program to build laws and ordinances in 2017.

-v-


The research results of the thesis not only be clearly interpreted the rationale
and the state law on acts of unfair competition mainly causing damage to competitors,
but also shows that the provisions of acts of unfair competition mainly causing
damage to competitors still have shortcomings or inadequacies points require
explanation or instructions thoroughly to avoid causing problems for the application
process as well as affecting the interests of competing stakeholders. So the research

1.1 Khái niệm và đặc điểm của hành vi cạnh tranh không lành mạnh gây thiệt hại
cho đối thủ cạnh tranh .............................................................................................7
1.1.1 Khái niệm hành vi cạnh tranh không lành mạnh gây thiệt hại cho đối thủ
cạnh tranh .............................................................................................................7
1.1.2. Đặc điểm hành vi cạnh tranh không lành mạnh gây thiệt hại cho đối thủ
cạnh tranh ...........................................................................................................20
1.2 Cơ sở lý luận của pháp luật về hành vi cạnh tranh không lành mạnh gây thiệt
hại cho đối thủ cạnh tranh .....................................................................................22
1.2.1 Những nền tảng của quy định pháp luật về hành vi cạnh tranh không lành
mạnh gây thiệt hại cho đối thủ cạnh tranh .........................................................22
1.2.2 Mối quan hệ giữa pháp luật cạnh tranh và pháp luật thương mại trong điều chỉnh
hành vi cạnh tranh không lành mạnh gây thiệt hại cho đối thủ cạnh tranh ..............24

-vii-


1.3 Tầm quan trọng của quy định pháp luật về hành vi cạnh tranh không lành mạnh
gây thiệt hại cho đối thủ cạnh tranh ......................................................................27
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ HÀNH VI CẠNH TRANH
KHÔNG LÀNH MẠNH GÂY THIỆT HẠI CHO ĐỐI THỦ CẠNH TRANH VÀ
ĐỀ XUẤT HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT ..............................................................31
2.1. Thực trạng quy định pháp luật về hành vi cạnh tranh không lành mạnh gây
thiệt hại cho đối thủ cạnh tranh .............................................................................31
2.1.1. Quy định về hành vi ép buộc trong kinh doanh .......................................31
2.1.2. Quy định về hành vi gièm pha doanh nghiệp khác ..................................36
2.1.3. Quy định về hành vi gây rối hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khác ...41
2.1.4. Quy định về hành vi quảng cáo so sánh trực tiếp hàng hóa, dịch vụ của
mình với hàng hóa, dịch vụ của doanh nghiệp khác..........................................45
2.1.5. Quy định về hành vi khuyến mại tặng hàng hóa cho khách hàng dùng
thử nhưng lại yêu cầu khách hàng đổi hàng hóa cùng loại do doanh nghiệp

Việc đổi mới các chính sách của Đảng và Nhà nước trong thời gian qua làm
cho số lượng doanh nghiệp ở Việt Nam ngày càng nhiều, quy mô các doanh nghiệp
ngày càng lớn, thị trường được mở rộng đặt ra nhu cầu phải tạo lập và duy trì một
môi trường cạnh tranh bình đẳng và công bằng cho các chủ thể kinh doanh. Đây là
một trong những điều kiện mà Việt Nam phải tuân thủ sau khi gia nhập gia nhập Tổ
chức Thương mại thế giới (WTO). Theo Cam kết gia nhập WTO, Việt Nam sẽ mở
cửa nền kinh tế rộng hơn. Điều này sẽ càng khiến cho cuộc cạnh tranh giữa các doanh
nghiệp trở nên khốc liệt hơn.
Trong quá trình cạnh tranh đó, đã, đang và sẽ xảy ra những hành vi cạnh tranh
không lành mạnh gây thiệt hại cho ba nhóm gồm khách hàng, đối thủ cạnh tranh cũng
như đối với cả khách hành và đối thủ cạnh tranh. Hiện nay những hành vi cạnh tranh
không lành mạnh gây thiệt hại cho đối thủ cạnh tranh là phổ biến nhất. Vì lợi ích mà

-1-


nhiều nhà kinh doanh đã bất chấp, sử dụng các phương thức kinh doanh không hợp
lý, một trong số đó là hành vi cạnh tranh không lành mạnh gây khó khăn, làm ảnh
hưởng đến nền kinh tế, đến hoạt động, môi trường kinh doanh và lợi ích kinh tế chính
đáng của các đối thủ cạnh tranh.
Để bảo đảm sự lành mạnh của thị trường, quyền lợi hợp pháp của doanh
nghiệp, lợi ích của Nhà nước, đảm bảo thực thi có hiệu quả pháp luật chống cạnh
tranh không lành mạnh góp phần vào kết quả chung trong việc thi hành pháp luật
cạnh tranh ở nước ta thì việc nghiên cứu hành vi cạnh tranh không lành mạnh gây
thiệt hại cho đối thủ cạnh tranh là một trong những vấn đề cần thiết.
Trong bối cảnh Quốc hội có những động thái sửa đổi một số dự án Luật trong đó
có Luật Cạnh tranh để đáp ứng được yêu cầu thực tế, phù hợp với xu hướng phát triển,
phù hợp với thông lệ quốc tế đã cam kết, điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên,
đặc biệt các hiệp định thương mại tự do (FTA), Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình
Dương (TPP), đáp ứng yêu cầu cấp thiết về phát triển kinh tế-xã hội, yêu cầu quản lý nhà

kinh doanh, gây rối hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khác.
Sách chuyên khảo “Pháp luật về chống cạnh tranh không lành mạnh ở Việt
Nam” của TS. Lê Anh Tuấn do Nhà xuất bản Chính trị quốc gia xuất bản năm 2009.
Cuốn sách cung cấp những kiến thức cơ bản về vấn đề lý luận, đặc điểm, cơ cấu của
pháp luật cạnh tranh nói chung và pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh nói
riêng. Cuốn sách cũng trình bày các nhận định và phân tích vị trí của và pháp luật
chống cạnh tranh không lành mạnh trong hệ thống pháp luật kinh tế nước ta, trình
bày các kết quả nghiên cứu về lý luận và thực trạng pháp luật liên quan. Tuy nhiên,
công trình này chưa đi sâu nghiên cứu về các hành vi cạnh tranh không lành mạnh có
mục đích chủ yếu nhằm gây thiệt hại cho đối thủ cạnh tranh.
Trong Kỷ yếu Hội thảo Khoa học “Thực thi pháp luật cạnh tranh không lành
mạnh ở Việt Nam” do Trường Đại học Luật Hà Nội và Văn phòng Hà Nội của CUTS
(CUTS International – một tổ chức phi chính phủ quốc tế chuyên nghiên cứu và tư
vấn về các vấn đề liên quan đến thương mại quốc tế, luật và chính sách cạnh tranh,
điều tiết kinh tế và bảo vệ người tiêu dùng) tổ chức tháng 9 năm 2012 có những tham
luận như “Tổng quan pháp luật và thực thi pháp luật cạnh tranh không lành mạnh ở
Việt Nam”, “Các hành vi cạnh tranh không lành mạnh thường gặp ở Việt Nam”. Hội
thảo Khoa học chưa có tham luận trình bày kết quả nghiên cứu chuyên sâu về pháp
luật về hành vi cạnh tranh không lành mạnh gây thiệt hại cho đối thủ cạnh tranh.
-3-


Cục Quản lý cạnh tranh đã có những báo cáo quan trọng như: Báo cáo rà soát
các quy định của pháp luật cạnh tranh Việt Nam năm 2012; Báo cáo thường niên Cục
quản lý cạnh tranh năm 2013, 2015...Các báo cáo này chứa đựng tổng quan về pháp
luật cạnh tranh Việt Nam, tổng kết thực tiễn áp dụng pháp luật chống cạnh tranh
không lành mạnh ở Việt Nam, đưa ra các rà soát và khuyến nghị hoàn thiện pháp luật
dựa trên các tiêu chí như tính minh bạch, tính hợp lý, tính thống nhất, tính khả
thi…nhưng còn nhiều điểm có thể đóng góp, bổ sung. Các báo cáo trên chưa có đi
sâu rà soát pháp luật và trình bày thực trạng áp dụng pháp luật về hành vi cạnh tranh

hữu cho đối thủ cạnh tranh như ép buộc trong kinh doanh, gièm pha doanh nghiệp
khác, gây rối hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khác, quảng cáo so sánh trực
tiếp, khuyến mại tặng hàng hóa cho khách hàng dùng thử nhưng lại yêu cầu khách
hàng đổi hàng hóa cùng loại do doanh nghiệp khác sản xuất.
Luận văn có thể có đối chiếu, so sánh nhưng không nghiên cứu sâu quy định
về các hành vi cạnh tranh không lành mạnh có thể gây thiệt hại cho đối thủ cạnh tranh
theo các pháp luật khác như pháp luật quảng cáo, pháp luật sở hữu trí tuệ, pháp luật
giá, pháp luật ngân hàng...
Phương pháp nghiên cứu: Có tính chất bao trùm được quán triệt để thực hiện
luận văn là phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác Lê Nin, cụ thể của quá trình hình thành và phát triển cơ chế thị trường ở nước ta trên
cơ sở vận dụng các quan điểm cơ bản của Đảng và Nhà nước về chính sách cạnh tranh
và điều tiết cạnh tranh bằng pháp luật.
Luận văn còn sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, đánh giá để làm rõ cơ
sở lý luận về cạnh tranh không lành mạnh; phương pháp thống kê để làm rõ thực trạng
cạnh tranh không lành mạnh và sự điều chỉnh pháp luật đối với các hành vi cạnh tranh
không lành mạnh nhằm gây thiệt hại cho đối thủ cạnh tranh ở Việt Nam.
Phương pháp tổng hợp được sử dụng chủ yếu ở Chương 1 để khảo sát khái
niệm hành vi cạnh tranh không lành mạnh gây thiệt hại cho đối thủ cạnh tranh, cơ sở
lý luận của pháp luật và nhu cầu điều chỉnh hành vi cạnh tranh không lành mạnh.
Phương pháp này cũng được sử dụng để tổng hợp những bất cập của quy định pháp
luật và đưa ra những đề xuất hoàn thiện pháp luật liên quan.
Phương pháp phân tích, đặc biệt là phương pháp phân tích luật được sử dụng
chủ yếu ở Chương 2 để nghiên cứu thực trạng quy định pháp luật về hành vi cạnh
tranh không lành mạnh gây thiệt hại cho đối thủ cạnh tranh, phương pháp phân tích

-5-


thực tiễn được sử dụng để khảo sát các vụ việc cụ thể có dấu hiệu vi phạm quy định
của pháp luật liên quan.

và Văn phòng Hà Nội của CUTS tổ chức tháng 9 năm 2012.
[2]. Chính phủ (2005), Nghị định số 116/2005/NĐ-CP ngày 15/9/2005 về việc quy
định chi tiết thi hành một số điều của Luật Cạnh tranh, Hà Nội.
[3]. Chính phủ (2005), Nghị định số 120/2005/NĐ-CP ngày 30/9/2005 quy định về
xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực cạnh tranh, Hà Nội.
[4]. Chính phủ (2006), Nghị định số 06/2006/NĐ-CP ngày 09/01/2006 về việc quy
định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục Quản lý cạnh
tranh, Hà Nội.
[5]. Chính phủ (2006), Nghị định số 37/2006/NĐ-CP ngày 04/4/2006 quy định chi
tiết Luật Thương mại về hoạt động xúc tiến thương mại, Hà Nội.
[6]. Chính phủ (2011), Nghị định số 119/2011/NĐ-CP ban hành ngày 16/12/2011
sửa đổi, bổ sung thủ tục hành chính tại Nghị định số 116/2005/NĐ-CP ngày 15
tháng 9 năm 2005 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật
Cạnh tranh, Hà nội.
[7]. Chính phủ (2013), Nghị định 99/2013/NĐ-CP ban hành ngày 29 tháng 08 năm 2013
quy định về xử phạt hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp, Hà Nội.
[8]. Chính phủ (2014), Nghị định số 71/2014/NĐ-CP ban hành ngày 21/7/2014 về
xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực cạnh tranh, Hà Nội.
[9]. Hoàng Minh Chiến, Nguyễn Ngọc Quyên, Phạm Phương Thảo (2012), “Xử lý
hành vi cạnh tranh không lành mạnh theo pháp luật Viẻt̀ Nam hiện hành”, Kỷ
yếu Hội thảo Khoa học Thực thi pháp luật cạnh tranh không lành mạnh ở Việt
Nam do Trường Đại học Luật Hà Nội và Văn phòng Hà Nội của CUTS tổ chức
tháng 9 năm 2012.

-71-


[10]. Đặng Quốc Chương (2011), Hoàn thiện pháp luật chống cạnh tranh không lành
mạnh trong lĩnh vực quảng cáo thương mại, Luận văn Thạc sỹ Luật học, Trường
Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh.


[22]. Trương Hồng Quang (2010), “Một số vấn đề về hành vi quảng cáo so sánh theo
pháp luật Việt Nam”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, 8(268), tr.42-59, Nxb Lao
động- Xã hội.
[23]. Quốc hội (1999), Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009.
[24]. Quốc hội (2004), Bộ Luật Tố tụng Dân sự năm 2004, sửa đổi, bổ sung năm 2011.
[25]. Quốc hội (2004), Luật Cạnh tranh năm 2004.
[26]. Quốc hội (2005), Bộ luật Dân sự năm 2015.
[27]. Quốc hội (2005), Luật Doanh nghiệp năm 2005.
[28]. Quốc hội (2005), Luật Điện lực năm 2005
[29]. Quốc hội (2005), Luật Thương mại năm 2005.
[30]. Quốc hội (2006), Luật Sở hữu trí tuệ năm 2006.
[31]. Quốc hội (2010), Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010
[32]. Quốc hội (2010), Luật Kinh doanh Bảo hiểm năm 2010
[33]. Quốc hội (2012), Luật Giá năm 2012.
[34]. Quốc hội (2012), Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012.
[35]. Quốc hội (2013), Hiến pháp năm 2013.
[36]. Mai Hồng Quỳ (2012), Tự do kinh doanh và vấn đề bảo đảm quyền con người
tại Việt Nam, NXB Lao động.
[37]. Trường Đại học Luật Hà Nội & Văn phòng Hà Nội của CUTS (2012), “Thực thi
pháp luật cạnh tranh không lành mạnh ở Việt Nam”, Kỷ yếu Hội thảo khoa học.
[38]. Trường Đại học Luật Hà Nội (2011), Giáo trình Luật Cạnh tranh, NXB Công
an nhân dân, Hà Nội.
[39]. Trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh ( 2012), Giáo trình Pháp luật cạnh tranh
và giải quyết tranh chấp thương mại, NXB Hồng Đức, Hội Luật gia Việt Nam.
[40]. Lê Anh Tuấn (2009), Pháp luật về chống cạnh tranh không lành mạnh ở Việt
Nam, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.
[41]. Lữ Lâm Uyên (2006), Thực hiện pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh
theo luật cạnh tranh Việt Nam, Luận văn Thạc sỹ Luật học, Trường Đại học
Luật Thành phố Hồ Chí Minh.


niên,

http://www.vca.gov.vn/NewsDetail.aspx?ID=CateID=157, Truy cập 15/12/2016.
[46]. Cục quản lý cạnh tranh (2015), Báo cáo thường niên,

http://www.vca.gov.vn/books/VCAAnnualReportVN.pdf, Truy cập 15/12/2016.
[47]. Cục Quản lý cạnh tranh (2015), Báo cáo phân tích Hồ sơ các vụ việc cạnh tranh
2013-2014, tr.7, http://cuts-hrc.org/ho-so-canh-tranh/, truy cập 15/12/2016.
[48]. Tân Hiệp Phát nói gì về nguyên liệu quá hạn sử dụng,
http://vneconomy.vn/thi-truong/tan-hiep-phat-noi-gi-ve-nguyen-lieu-qua-hansu-dung.htm, Truy cập 25/11/2016.
[49]. Na vy, FPT Telecom bị cạnh tranh không lành mạnh, http://25.fpt.com.vn/tintuc/kinh-doanh-fpt-telecom-bi-canh-tranh-khong-lanh-manh, Truy cập 18/08/2016.
[50]. Nguyễn Ngọc Sơn, Cục Quản lý cạnh tranh viện dẫn quy định về quảng cáo,
không vận dụng quy định trong Luật Cạnh tranh, Báo Pháp luật Tp. HCM,
16/10/2011, http://www.dunghangviet.vn/hv/bao-ve-khach-hang/y-kien-phanhoi/2011/10/vu-quang-cao-che-san-pham-doi-phuong-sao-cuc-quan-ly-canhtranh-khong-giai-quyet.html, Truy cập 15/08/2016.
[51]. Phạm Thị Hồng Đào, Quy định về xử lý hành vi cạnh tranh không lành mạnh
và kiến nghị, http://moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/nghien-cuu-trao-doi.aspx.html,
Truy cập 31/03/2017.

-74-




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status