BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
----------------------------------
ĐỖ THỊ HƯỜNG
NGHIÊN CỨU CÁC TÁC ĐỘNG CỦA NGƯỜI DÂN
ĐỊA PHƯƠNG ĐẾN TÀI NGUYÊN RỪNG TẠI KHU BẢO TỒN THIÊN
NHIÊN THƯỢNG TIẾN – HUYỆN KIM BÔI -TỈNH HÒA BÌNH
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
Hà Nội 2010
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
“Tài nguyên thiên nhiên và đa dạng sinh học đóng vai trò quan trọng trong
sự tiến hóa, duy trì hệ thống tự nhiên và phát triển kinh tế xã hội. Đa dạng sinh học
ở nhiều quốc gia trên thế giới đang bị suy giảm nghiêm trọng bởi các hoạt động của
con người. Các khu bảo tồn thiên nhiên( KBTTN) đóng vai trò chủ chốt trong bảo
tồn đa dạng sinh học và đáp ứng các mục tiêu đa dạng của cộng đồng” [24].
Trong vài thập kỷ qua, để đối phó với các nguy cơ suy giảm đa dạng sinh
học ngày càng tăng, hệ thống các vườn quốc gia( VQG) và khu bảo tồn( KBT) đã
dần được hình thành. Hiện nay trên thế giới có hơn 100.000 KBTTN chiếm 11,7%
diện tích đất liền toàn thế giới. VQG chiếm số lượng và diện tích lớn nhất, tiếp đến
là các KBT loài và sinh cảnh [24]. Tuy nhiên, để đảm bảo thực hiện một hệ thống
chung và KBTTN Thượng Tiến nói riêng là: Làm thế nào để hài hòa được mục tiêu
bảo tồn với nhu cầu cuộc sống của người dân sống trong và cạnh các KBT? Để góp
phần giải đáp cho câu hỏi trên luận văn tiến hành:
“Nghiên cứu các tác động của người dân địa phương đến tài nguyên rừng
tại Khu bảo tồn thiên nhiên Thượng Tiến – huyện Kim Bôi – tỉnh Hòa Bình”.
3
Chương 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Ở nước ngoài
1.1.1. Hiện trạng quản lý các VQG và khu bảo tồn thiên nhiên và những mẫu
thuẫn phát sinh
Theo định nghĩa của IUCN đã khẳng định bảo tồn đa dạng sinh học là mục
tiêu cơ bản của KBTTN:
“Khu bảo tồn thiên nhiên là một khu vực trên đất liền hoặc trên biển được khoanh
vùng để bảo vệ đa dạng sinh học, các tài nguyên thiên nhiên và văn hoá đi kèm,
được quản lý bằng các công cụ pháp luật hoặc các hình thức quản lý có hiệu quả
khác” (IUCN 1994 )[24].
Công ước ĐDSH (1992) xác định các KBTTN là công cụ hữu hiệu và có vai
trò quan trọng trong bảo tồn đa dạng sinh học “tại chỗ”. Tại điều 8 “Bảo tồn tại
chỗ” của Công ước có các mục qui đinh rõ các nước tham gia công ước ĐDSH có
trách nhiệm thành lập hệ thống KBTTN, xây dựng các hướng dẫn lựa chọn, thành
lập và quản lý các KBTTN, và quản lý các tài nguyên sinh học bên trong các K
BTTN để bảo tồn và sử dụng bền vững [16].
Nguồn gốc của KBTTN “hiện đại” có từ thế kỷ thứ 19. VQG Yellowstone là
VQG đầu tiên trên thế giới, được thành lập tại Mỹ năm 1872. VQG này nằm trên
vùng đất do người Crow và người Shoshone sinh sống trên cơ sở sử dụng bạo lực
ép buộc hai cộng đồng tộc người này phải rời bỏ mảnh đất của họ. Nhiều KBT TN
và VQG được thành lập sau đó ở các nước khác nhau trên thế giới cũng sử dụng
đồng trên cơ sở tôn trọng nền văn hoá trong quá trình xây dựng các quyết định.
Nhiều kết quả nghiên cứu trên thế giới và kinh nghiệm thực tiễn của các
KBT và VQG khẳng định rằng để quản lý thành công cần dựa trên mô hình quản lý
gắn bảo tồn đa dạng sinh học với bảo tồn văn hoá của người dân địa phương. Ở
VQG Kakadu (Australia), những người thổ dân chẳng những được chung sống với
VQG một cách hợp pháp mà họ còn được thừa nhận là chủ hợp pháp của VQG và
được tham gia quản lý VQG thông qua các đại diện của họ trong ban quản lý. Tại
VQG Wasur (Indonesia) vẫn tồn tại 13 làng bản với cuộc sống gắn với săn bắn cổ
truyền [40].
1.1.2. Những nghiên cứu về mối quan hệ giữa cộng đồng người dân vào tài
nguyên rừng trong các VQG, KBTTN.
Bink Man W. (1988) trong nghiên cứu của mình thực hiện tại làng Ban Pong,
tỉnh S. Risaket, Thái Lan chỉ ra rằng các tầng lớp nghèo phải phụ thuộc vào rừng để
5
chăn thả gia súc và thu hái tài nguyên lâm sản như: củi đun và hoa quả trong rừng.
Tuy nhiên đây là một minh hoạ rất cần thiết của người dân địa phương tham gia vào
việc lập kế hoạch và thiết kế các dự án phát triển (FAO, 1996) [43].
Năm 1986, trong tác phẩm “Lâm nghiệp xã hội và hành động của cộng
đồng” các tác giả Dorji, D.C. Chavada, B. Thinley và Wangchuks cho rằng: Rừng
chủ yếu là nguồn cung cấp gỗ xây dựng và làm hàng rào, cung cấp củi, nơi chăn thả
và chuồng trại cho gia súc. Chúng cũng cung cấp một phần lớn những yêu cầu về
thức ăn gia súc, lợi tức, công ăn việc làm và đóng vai trò quan trọng trong việc bảo
vệ đất và nước trên vùng đất dốc (FAO, 1996) [60].
Ở Nepal, đã có một số mô hình thành công về chương trình bảo tồn đa dạng
sinh học (ĐDSH) theo hướng toàn cầu. Tuy nhiên, do sự ảnh hưởng của cuộc xung
đột vũ trang trong gần một thập kỷ đã tác động xấu đến các hoạt động bảo tồn và
động vật hoang dã. Chính vì vậy, một số nghiên cứu về đánh giá tác động của những
hiện đại, bằng cách trồng cây, cho và nhận đất, nhà nước cần xác định rõ các quyền
lợi chính trị của dân trên mảnh đất mà họ nhận với mục đích tạo thêm công ăn việc
làm, tăng thu nhập và giảm tác động đến tài nguyên rừng [42].
Theo Poffenberger, M. và McGean, B( 1993) trong báo cáo: “Liên minh
cộng đồng: đồng quản lý rừng ở Thái Lan” đã có nghiên cứu điểm tại VQG Dang
Yai nằm ở đông bắc và khu phòng hộ Nam Sa ở phía bắc Thái Lan. Tại Dang Yai
người dân đã chứng minh được khả năng của họ trong việc tự tổ chức các hoạt động
bảo tồn đồng thời phối hợp với cục lâm nghiệp Hoàng gia xây dựng hệ thống quản
lý rừng đảm bảo ổn định về môi trường sinh thái đồng thời phục vụ lợi ích của
người dân trong khu vực. Tại Nam Sa cộng đồng người dân cũng rất thành công
trong công tác quản lý rừng phòng hộ. Họ khẳng định nếu chính phủ có chính sách
khuyến khích và chuyển giao quyền lực cho họ thì chắc chắn họ sẽ thành công trong
việc kiểm soát tài nguyên rừng [42].
Dilmour D.A. (1999) lại cho rằng nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tính kém
hiệu quả của các chương trình, dự án quản lý tài nguyên thiên nhiên là chưa giải
quyết tốt mối quan hệ lợi ích giữa các cá nhân trong cộng đồng, giữa lợi ích cộng
đồng địa phương với lợi ích quốc gia. Do đó chưa phát huy được năng lực nội sinh
của các cộng đồng cho quản lý tài nguyên. Vì vậy, quản lý tài nguyên cần phát triển
theo hướng kết hợp giữa hoạt động bảo tồn và phát triển tài nguyên với hoạt động
sản xuất để cải thiện chất lượng cuộc sống người dân, thống nhất lợi ích của người
dân với lợi ích quốc gia trong hoạt động bảo tồn và phát triển tài nguyên rừng [42].
8
Theo Nick Salafky và các đồng sự( trong Biodiversity Support Program
Washington, DC, USA, 2000) cho rằng vào những năm 90 của thế kỷ trước, các nhà
bảo tồn bắt đầu phát triển một cách tiếp cận mới nhằm đáp ứng nhu cầu về lợi ích
kinh tế và bảo tồn. Những cách tiếp cận này dựa vào việc thực hiện các hoạt động
sinh kế độc lập và có mối liên hệ trực tiếp với bảo tồn. Đặc điểm cơ bản của chiến
Cùng với sự ra đời của hàng loạt các VQG và KBTTN rải đều từ VQG
Hoàng Liên Sơn hùng vĩ ở vùng núi phía Bắc cho đến VQG ngập nước U Minh
Thượng thì hệ thống các thể chế, chính sách về công tác bảo tồn cũng được thiết
lập. Trước tiên là Luật BV và PTR ban hành ngày 12/08/1991 và được sửa đổi ngày
03/12/2004. Theo đó, rừng đặc dụng bao gồm:
+ Vườn quốc gia
+ Khu bảo tồn thiên nhiên gồm: Khu dự trữ thiên nhiên, khu bảo tồn loài,
sinh cảnh
+ Khu bảo vệ cảnh quan gồm: Khu rừng di tích lịch sử, văn hóa, danh lam
thắng cảnh
+ Khu rừng nghiên cứu, thực nghiệm khoa học
Quyết định số 08/2001/QĐ-TTg ban hành ngày 11/01/2001 đã đề cập đến
việc Ban quản lý các khu bảo vệ được xây dựng các quy định về phạm vi sử dụng
rừng đối với người dân địa phương sinh sống trong các KBT. Gần đây nhất, Thủ
tướng Chính phủ ký quyết định số 186/2006/QĐ-TTg ngày 14/08/2006 về việc ban
hành Quy chế quản lý rừng, thay thế quyết định số 08/2001/QĐ-TTg. Theo điều 14
chương II của quy chế quản lý rừng cho biết: Trong VQG và KBTTN được chia
thành các phân khu chức năng sau đây:
a) Phân khu bảo vệ nghiêm ngặt:
- Là khu vực có diện tích vừa đủ để bảo vệ nguyên vẹn hệ sinh thái tự nhiên
như mẫu chuẩn sinh thái quốc gia, được quản lý, bảo vệ chặt chẽ để theo dõi diễn
biến tự nhiên của rừng và hệ sinh thái.
- Đối với rừng đặc dụng ở vùng đất ngập nước, phạm vi và quy mô của phân
khu bảo vệ nghiêm ngặt được xác định theo mục tiêu, đối tượng, tiêu chí bảo tồn và
điều kiện thuỷ văn.
b) Phân khu phục hồi sinh thái
Là khu vực được quản lý, bảo vệ chặt chẽ để khôi phục các hệ sinh thái rừng
thông qua việc thực hiện một số hoạt động lâm sinh cần thiết.
11
vùng đệm, đặc biệt đối với cộng đồng các dân tộc trên mỗi địa phương có khu bảo
tồn thiên nhiên.
Tiếp theo là chỉ thị số 08/2006/CT- TTg ngày 08/3/2003 về tăng cường các
biện pháp cấp bách ngăn chặn tình trạng chặt phá, đốt rừng, khai thác rừng trái
phép.
Nghị định số 109/2003/ NĐ- CP ngày 23/9/2003 về bảo tồn và phát triển bền
vững các vùng đất ngập nước.
Quyết định số 62/2005/QĐ- BNN ngày 12/10/2005 quy định tiêu chí phân loại
rừng đặc dụng.
Chiến lược phát triển lâm nghiệp giai đoạn 2001 – 2010.
Như vậy, Việt Nam đã và đang trong quá trình đổi mới công tác quản lý rừng
dưới sự đồng thuận của các hộ gia đình( HGĐ) và các tổ chức địa phương (Barney
2005). Chính phủ ngày càng trao cho người dân địa phương nhiều quyền hơn trong
công tác quản lý rừng. Tuy nhiên trong môi trường biến động hiện nay, việc nhận
thức về quyền của người dân địa phương vẫn còn hạn chế, các cơ quan nhà nước
còn ít quan tâm đến kiến thức và quan điểm của địa phương trong quá trình cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất cũng như việc phân cấp quản lý. Thách thức được
đặt ra là làm thế nào để các bên tham gia hiểu rõ hơn về quan điểm của các cộng
đồng dân cư sống trong hoặc gần khu bảo tồn. Bên cạnh đó, việc xác định rõ năng
lực của địa phương trong công tác quản lý rừng đặc biệt là quản lý các khu rừng đặc
dụng nhằm đảm bảo việc ra quyết định đạt hiệu quả cao là hết sức cần thiết.
1.2.2. Các thành quả nghiên cứu và kinh nghiệm thực tiễn
Theo Donovan D., Rambo A.T, Fox J., Lê Trọng Cúc, Trần Đức Viên
(1997), đã đề cập đến các sản phẩm từ rừng và sức ép của người dân địa phương
vào rừng. Tác giả đã chỉ ra rằng: Diện tích rừng già ở miền núi phía Bắc Việt Nam
đã giảm sút nghiêm trọng do việc khai thác gỗ, củi và các lâm sản khác như: tre
nguyên thiên nhiên ở đây mà đáng ra họ phải góp phần bảo vệ. Vì vậy, để giải quyết
mâu thuẫn nói trên phải chú ý đến vấn đề KT-XH phức tạp mà chủ yếu là tìm cách
hữu hiệu để cải thiện mức sống của người dân, nhất là những người dân nghèo,
đồng thời phải nâng cao nhận thức của họ về bảo vệ thiên nhiên và môi trường, sử
dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, kể cả đất và rừng mà họ có trách nhiệm bảo vệ
13
và họ được quyền quyết định cách sử dụng tốt nhất cho cuộc sống của họ và cho cả
cộng đồng.
Về quan hệ đồng tác trên cơ sở cộng đồng trong vùng đệm các KBTTN, Lê
Quý An (2001) đã khẳng định quản lý và phát triển vùng đệm trên cơ sở cộng đồng
là phát huy lợi thế của cộng đồng, hạn chế tác động tiêu cực trong các hoạt động
bảo tồn. Cộng đồng còn có thể phát huy những mặt hay của phong tục, tập quán
trong mối quan hệ giữa các thành viên trong cộng đồng, trong mối quan hệ giữa con
người và thiên nhiên để xây dựng nề nếp của cuộc sống lành mạnh về mặt môi
trường, góp sức cho việc bảo tồn [1].
Nguyễn Thị Phương (2003) khi “Nghiên cứu tác động của cộng đồng địa
phương vùng đệm đến tài nguyên rừng VQG Ba Vì- Hà Tây” đã vận dụng phần
mềm SPSS trong việc tổng hợp và xử lý số liệu về hình thức tác động và các
nguyên nhân tác động và chỉ ra rằng: Cộng đồng ở đây sống chủ yếu bằng nghề
nông nhưng diện tích đất nông nghiệp rất ít và năng suất lúa thấp. Vì vậy, để giải
quyết nhu cầu cuộc sống hàng ngày họ tác động tới tài nguyên rừng dưới nhiều hình
thức như: sử dụng đất rừng để sản xuất hàng hoá, khai thác sản phẩm với mục đích
tiêu dùng, chăn thả gia súc….trong đó hình thức sử dụng đất rừng để sản xuất hàng
hoá cho tỷ trọng thu nhập cao nhất trong cơ cấu thu nhập của cộng đồng (36,4%).
Tuy nhiên, đề tài chưa đánh giá được mức độ tác động tới tài nguyên rừng của các
dân tộc, các nhóm hộ khác nhau [32].
Hoàng Quốc Xạ (2005) đã có sự kết hợp tốt giữa phân tích định tính và định
Mặc dù đã có một vài chương trình hỗ trợ được thực hiện tại KBTTN, nhưng chúng
chưa bù lại được những mất mát do thành lập KBTTN [63].
Nguyễn Bá Ngãi và cộng sự ( 2002) dưới sự hỗ trợ của chương trình hỗ trợ
lâm nghiệp xã hội, trung tâm đào tạo Lâm nghiệp xã hội đã thực hiện một nghiên
cứu về khả năng thu hút các cộng đồng địa phương vào quản lý và sử dụng đất lâm
nghiệp tại khu phục hồi sinh thái (PHST). Các tác giả cho rằng hệ thống chính sách
hiện nay là đầy đủ để có thể thu hút CĐĐP vào quản lý, sử dụng các khu rừng đặc
dụng, không thể loại trừ cộng đồng ra khỏi quyền hưởng lợi từ VQG và đề xuất mô
hình quản lý đất đai trong khu PHST của VQG Ba Vì [28].
15
Khuất Thị Lan Anh (2009) khi: “Nghiên cứu tác động của cộng đồng địa
phương đến tài nguyên rừng tại khu bảo tồn thiên nhiên Kim Hỷ - tỉnh Bắc Kan” đã
nghiên cứu các yếu tố kinh tế và xã hội chi phối các hình thức và mức độ tác động
bất lợi của người dân địa phương tới tài nguyên rừng. Đề tài đã phần nào lượng hóa
được mức độ tác động của người dân tới KBT như: Sử dụng tài nguyên rừng, khai
thác các sản phẩm rừng, sử dụng đất rừng để chăn thả gia súc, tác động đến TNR do
các nguyên nhân rủi ro, các hoạt động khai thác vàng…Tuy nhiên đề tài chưa đi sâu
nghiên cứu các tác động tích cực của người dân. Thêm vào đó, các giải pháp đưa ra
còn chung chung, chỉ mang tính chất định hướng, chưa đi sâu vào các giải pháp
mang tính khả thi đối với địa phương [3].
Trần Ngọc Thể (2009) khi: “Nghiên cứu tác động của người dân địa phương
tới tài nguyên rừng tại VQG Ba Bể - tỉnh Bắc Kan”đã đưa ra 1 hệ thống cơ sở lý
luận và thực tiễn trong nghiên cứu tác động của người dân tới các KBT. Ngoài ra đề
tài còn lượng hóa được mức độ tác động của người dân tới tài nguyên rừng ở VQG
Ba Bể bằng cách phân tích các yếu tố sản xuất ảnh hưởng tới tổng thu nhập của các
HGĐ thông qua hàm Cobb Douglas (hàm sản xuất có độ co giãn không đổi).
Nghiên cứu đã đưa 7 biến sản xuất (diện tích đất, số lao động chính, phân bón, đầu
thực vật ở Khu bảo tồn Thượng Tiến như: Nguyễn Thị Bích Ngọc (2005), Nguyễn
Văn Giáp (2008), Lưu Quang Vinh (2009)….
1.3. Những kết luận rút ra phục vụ cho nghiên cứu
Như vậy, Mối quan hệ giữa cộng đồng người dân với công tác bảo tồn ở các
khu rừng đặc dụng đã và đang được nghiên cứu dưới nhiều góc nhìn khác nhau.
Một số nghiên cứu đã xây dựng cơ sở lý luận và thực tiễn khá đầy đủ cũng như đã
lượng hóa được hình thức và mức độ tác động của cộng đồng người dân tới tài
nguyên rừng của một số khu rừng đặc dụng. Các nghiên cứu khác lại tập trung vào
phân tích mức độ phụ thuộc của người dân vào TNR. Tuy nhiên, cách tiếp cận của
các nghiên cứu trên chỉ dừng lại ở khía cạnh phân tích các tác động bất lợi mà chưa
đề cập tới các tác động tích cực từ phía người dân trong công tác bảo tồn. Ngoài ra
các nghiên cứu chỉ đưa ra các giải pháp chung chung, mang tính chất định hướng,
chưa giải quyết các mâu thuẫn phát sinh từ thực tế.
17
Hiện nay, số lượng khu rừng đặc dụng của nước ta ngày càng tăng lên( 164
khu rừng đặc dụng – theo thống kê của IUCN)[24], trong khi đó mỗi khu rừng đặc
dụng lại có đặc trưng về quy mô, sinh thái, phân bố dân cư, tình hình kinh tế, xã hội,
phong tục tập quán….khác nhau. Vì vậy, việc nghiên cứu mối quan hệ giữa cộng
đồng người dân với các khu rừng đặc dụng nhằm đề xuất các giải pháp thu hút
người dân tham gia công tác bảo tồn ở mỗi VQG, KBTTN trên phạm vi cả nước là
việc cần thiết.
18
Chương 2: MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Mục tiêu nghiên cứu
nhân bên ngoài gây ra các tác động tích cực và bất lợi tới KBT.
- Do cộng đồng người dân sống ở trong KBT và vùng đệm của KBTTN
Thượng Tiến chủ yếu là dân tộc Mường nên yếu tố dân tộc không ảnh hưởng tới
việc phân chia các tác động của người dân tới KBT.
- Luận văn tập trung vào các tác động tích cực và bất lợi tới TNR ở KBT của
các HGĐ Khá, Trung bình và Nghèo ( kế thừa kết quả phân loại hộ gia đình của địa
phương)(xem phụ lục 03).
2.4. Nội dung nghiên cứu
- Xác định và phân tích các tác động tích cực và bất lợi của cộng đồng người
dân tới TNR ở KBTTN Thượng Tiến – huyện Kim Bôi - tỉnh Hoà Bình.
- Phân tích các nguyên nhân dẫn tới các tác động tích cực và bất lợi của
người dân địa phương tới TNR.
- Đề xuất các giải pháp phát huy các tác động tích cực và giảm thiểu các tác
động bất lợi tới TNR và thu hút người dân tham gia quản lý, bảo vệ và sử dụng bền
vững TNR.
2.5. Quan điểm và Phương pháp nghiên cứu
2.5.1. Quan điểm và phương pháp luận nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành dựa vào các quan điểm sau đây: Lý luận về lý
thuyết hệ thống; Quan điểm sinh thái nhân văn; Quan điểm bảo tồn – phát triển;
Tiếp cận có sự tham gia.
2.5.1.1. Lý luận về lý thuyết hệ thống
Lý thuyết hệ thống được ứng dụng ngày càng rộng rãi trong các ngành khoa
học giúp cho sự hiểu biết và giải thích các mối quan hệ tương hỗ. Cơ sở lý thuyết hệ
thống được L.vonbertanlanfy đề xướng vào đầu thế kỷ XX và nó được sử dụng như
một cơ sở để giải quyết các vấn đề phức tạp và tổng hợp.
20
Hệ thống là một tổng thể có trật tự của các yếu tố khác nhau, có quan hệ và
VQG, chính quyền địa phương, các quy định riêng của cộng đồng cũng ảnh hưởng
không nhỏ tới tác động của người dân địa phương vào TNR.
Ngược lại các tác động của người dân tới TNR cũng thể hiện các yếu tố xã
hội trong một cộng đồng như: Vấn đề công bằng, bình đẳng , tổ chức và thể chế của
cộng đồng có được thực thi, phát triển bền vững...
Từ những phân tích trên cho thấy vấn đề nghiên cứu của luận văn có quan hệ
qua lại với các yếu tố xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu các nguyên nhân xã hội chi
phối các tác động của người dân tới TNR nhằm đề xuất các giải pháp xã hội giảm
thiểu các tác động bất lợi của người dân tới TNR là có cơ sở khoa học.
+ TNR là một hệ thống tự nhiên trong đó các phần tử trong hệ thống có mối
quan hệ qua lại chặt chẽ với nhau. Bất kỳ tác động nào từ bên ngoài tới TNR cũng
dẫn tới sự thay đổi các thành phần và chức năng của hệ thống. Trong tự nhiên TNR
tồn tại khách quan, vận động và phát triển theo những quy luật nhất định như: Tái
sinh, sinh trưởng và phát triển, diễn thế....Nếu không tôn trọng quy luật vận động
của tự nhiên hoặc tác động vượt quá giới hạn chịu đựng của tự nhiện thì hệ thống sẽ
suy giảm và có nguy cơ biến mất. Một số người cho rằng: Rừng là tài nguyên có thể
tái tạo được. Nếu khai thác tài nguyên rừng ở giới hạn cho phép nào đó thì sau một
thời gian Rừng có thể phục hồi lại. Lý luận này không sai nhưng nhiều người đã lợi
dụng điều này để tác động tới TNR quá mức và không cho thời gian để rừng kịp
phục hồi. Vì vậy, để duy trì TNR như một hệ thống hoàn chỉnh trong tự nhiên thì
các tác động của con người phải phù hợp với các quy luật vận động của tự nhiên.
2.5.1.2. Quan điểm sinh thái nhân văn
Đề tài đã vận dụng lý thuyết sinh thái nhân văn, sinh thái văn hóa vào phân
tích các tác động tích cực và bất lợi của người dân tới TNR. Điều này được thể hiện
ở chỗ: Mỗi cộng đồng sinh sống và phát triển đều có các hoạt động KT – XH, sinh
thái, văn hóa đặc trưng. Những yếu tố này ảnh hưởng lớn tới nhận thức và hành
động của mỗi người trong cộng đồng. Các tác động của người dân tới TNR chịu sự
chi phối của các yếu tố KT- XH, sinh thái, văn hóa đó. Tuy nhiên các yếu tố này tác
thái và chịu sự ảnh hưởng của nhiều yếu tố KT-XH.
Cơ sở sinh thái được được giải thích bằng các yếu tố vật lý, sinh học, được
chia làm 2 loại: Những yếu tố không thể kiểm soát được như khí hậu, thuỷ văn, địa
hình... và những yếu tố có thể kiểm soát được hoặc hạn chế được như xói mòn, lũ
lụt, sâu bệnh, lửa rừng, hạn hán.... Những yếu tố kiểm soát hoặc hạn chế được cần
được nghiên cứu bằng các giải pháp khoa học công nghệ.
Các yếu tố kinh tế như sinh kế, mức sống của người dân địa phương, nhu
cầu thị trường..., những nhân tố này rất có ý nghĩa đối với sự tác động của người
dân địa phương tới TNR .
Bậc thể chế được giải thích là các yếu tố về thể chế, chính sách, tổ chức
cộng đồng... ảnh hưởng gián tiếp tới những tác động của người dân địa phương đến
TNR.
Bậc đạo đức được hiểu là tập quán, sự nhận thức hay ở mức cao hơn nữa là
văn hoá của các cộng đồng. Mọi tác động của các yếu tố khác đều có thể làm thay
đổi thái độ và nhận thức của cộng đồng.
Theo tháp sinh thái - nhân văn thì bất kỳ một giải pháp nào nhằm phát huy
các tác động tích cực và giảm thiểu những tác động bất lợi tới TNR, bảo tồn và phát
triển bền vững TNR đều phải dựa trên cơ sở sinh thái và đảm bảo được các yếu tố
về KT-XH của cộng đồng người dân địa phương.
2.5.1.3. Quan điểm bảo tồn – phát triển
Theo quan niệm trước đây, các KBTTN thường được xem như một khu vực
tách biệt với thế giới loài người. Quan niệm này đã dẫn đến những sai lầm trong
việc quản lý các KBTTN. Kết quả là thiên nhiên vẫn liên tục bị con người tác động
theo hướng tiêu cực: tàn phá mà nguyên nhân là do những áp lực xã hội và sinh
thái cả trong và ngoài KBT[40]. Theo Chương trình Con người và Sinh quyển (Man
24
and Biosphere Program; viết tắt là: MAB thuộc UNESCO) cho thấy các KBT vẫn