BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
-------------------
NGUYỄN HUY TUẤN
NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN
QUY HOẠCH LÂM NGHIỆP HUYỆN PHÙ YÊN - TỈNH SƠN LA
CHUYÊN NGÀNH: LÂM HỌC
MÃ SỐ: 60 62 60
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. LÊ SỸ VIỆT
Hà Nội, 2010
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Lâm nghiệp là một ngành kinh tế kỹ thuật đặc thù bao gồm tất cả các
hoạt động gắn liền với sản xuất hàng hóa và dịch vụ từ rừng như các hoạt
động quản lý bảo vệ, gây trồng, khai thác, vận chuyển, sản xuất, chế biến lâm
sản và các dịch vụ môi trường rừng. Ngành Lâm nghiệp có vai trò quan trọng
trong việc cung cấp lâm sản cho nền kinh tế quốc dân và đời sống xã hội,
vẫn thuộc trong 61 huyện nghèo thuộc chương trình giảm nghèo nhanh và bền
vững của Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP của Chính phủ. Nhằm góp phần
phát triển lâm nghiệp gắn liền với phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn miền
núi, trong những năm gần đây Nhà nước đã ban hành một số chủ trương chính
sách mới có tác động một cách sâu sắc đến công tác quy hoạch lâm nghiệp
như: Chương trình 327, chương trình dự án 661; Nghị định số 163/1999/NĐCP ngày 16/11/1999; Luật bảo vệ và phát triển rừng; Nghị định số
23/2006/NĐ-CP ngày 03/3/2006; Quyết định số 18/2007/QĐ-TTg ngày
05/2/2007; Quyết định số 186/2006/QĐ-TTg ngày 14/8/2006; Thông tư số
05/2008/TT-BNN ngày 14/01/2008 của Bộ Nông nghiệp và PTNT về hướng
dẫn lập quy hoạch, kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng...
Xuất phát từ những vấn đề trên, việc nghiên cứu đề xuất phương án quy
hoạch lâm nghiệp hợp lý, có cơ sở khoa học sẽ góp phần quản lý tài nguyên
rừng bền vững, đóng góp tăng trưởng kinh tế, tăng thu nhập, cải thiện đời
sống của nhân dân các dân tộc làm nghề rừng, thực hiện xoá đói, giảm nghèo
và đưa kinh tế - xã hội và đưa kinh tế xã hội miền núi phát triển hoà nhập với
tiến trình phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh là hết sức cần thiết. Đây cũng là
lý do chúng tôi chọn đề tài: “Nghiên cứu đề xuất một số nội dung cơ bản
quy hoạch lâm nghiệp huyện Phù Yên - tỉnh Sơn La“ trong khuôn khổ một
Luận văn tốt nghiệp cao học tại Trường Đại học Lâm nghiệp.
3
Chương 1
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Trên thế giới
Quy hoạch lâm nghiệp là một bộ phận cấu thành của quy hoạch tổng
thể phát triển nông thôn và thuộc phạm trù của quy hoạch vùng. Do đó công
tác quy hoạch lâm nghiệp cần có sự phối hợp chặt chẽ với quy hoạch phát
triển nông thôn nhằm tránh sự trồng chéo, hạn chế lẫn nhau giữa các ngành và
sản xuất và văn hoá của đất nước. Sự phân bố lực lượng sản xuất được xác
định theo các nguyên tắc sau:
Phân bố lực lượng sản xuất có kế hoạch trên toàn lãnh thổ của đất
nước, tỉnh, huyện, nhằm thu hút các nguồn tài nguyên thiên nhiên và lao động
của tất các vùng trong quá trình tái sản xuất mở rộng.
Kết hợp tốt lợi ích của Nhà nước và nhu cầu phát triển kinh tế của từng
tỉnh và từng huyện. Đưa các xí nghiệp công nghiệp đến gần nguồn nguyên
liệu để hạn chế chi phí vận chuyển.
Kết hợp chặt chẽ các ngành kinh tế quốc dân ở từng vùng, từng huyện
nhằm nâng cao năng suất lao động và sử dụng hợp lý tiềm năng thiên nhiên.
Tăng cường toàn diện tiềm lực kinh tế và quốc phòng bằng cách phân bổ hợp
lý và phát triển đồng đều lực lượng sản xuất ở các vùng, huyện [17].
1.1.1.2. Quy hoạch vùng lãnh thổ ở Bungari trước đây
Công tác quy hoạch vùng lãnh thổ nhằm mục đích sử dụng một cách
hiệu quả nhất lãnh thổ của đất nước và bố trí hợp lý các hoạt động của con
người nhằm đảm bảo tái sản xuất mở rộng, xây dựng đồng bộ môi trường
sống. Theo đó lãnh thổ đất nước được phân thành các vùng sau:
- Lãnh thổ là môi trường thiên nhiên phải bảo vệ.
- Lãnh thổ thiên nhiên không có nông thôn, sự tác động của con người
vào đây rất ít.
5
- Lãnh thổ là môi trường thiên nhiên có mạng lưới giao thông nông
thôn, có sự can thiệp vừa phải của con người, thuận lợi cho nghỉ mát.
- Lãnh thổ là môi trường nông nghiệp không có mạng lưới nông thôn
nhưng có sự tác động đặc biệt của con người.
- Lãnh thổ là môi trường nông nghiệp có mạng lưới giao thông và có sự
can thiệp vừa phải của con người, thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp.
- Hoạt động khai thác rừng gồm khai thác chế biến gỗ, bột giấy, vận
chuyển, dịch vụ thương mại.
- Nhân lực phân theo các dạng thuê thời vụ, các loại lao động nông
nghiệp, lâm nghiệp.
- Cân đối xuất nhập, thu chi và các cân đối khác vào ràng buộc về diện
tích đất, về nhân lực, về tiêu thụ lương thực...
Quy hoạch vùng đạt mục đích khai thác lãnh thổ theo hướng tăng thêm
giá trị sản phẩm của xã hội theo phương thức mô hình hoá trong điều kiện
thực tiễn của vùng so sánh với vùng xung quanh và nước ngoài.
1.1.1.4. Quy hoạch vùng lãnh thổ của Thái Lan
Ở Thái lan, công tác quy hoạch phát triển vùng được chú ý từ những
năm 1970 của thế kỷ trước. Hệ thống phạm vi quy hoạch được tiến hành theo
3 cấp: Quốc gia, vùng, địa phương.
Vùng được coi như là một phần lãnh thổ của đất nước có nhũng nét đặc
trưng phân bố dân cư, khí hậu, địa hình,... khác biệt với các vùng khác.
Quy mô diện tích của một vùng phụ thuộc vào kích thước, diện tích của
đất nước.
Quy hoạch phải gắn liền với tổ chức hành chính và quản lý Nhà nước,
phải phối hợp với chính quyền, địa phương nhằm giải quyết 2 vấn đề sau:
7
- Thứ nhất: Sự bổ sung của kế hoạch Nhà nước được giao cho vùng,
những mục tiêu và hoạt động được xác định theo cơ sở vùng, sau đó kế hoạch
vùng được giải quyết trong kế hoạch quốc gia.
- Thứ hai: Quy hoạch vùng được giải quyết căn cứ vào đặc điểm của
vùng, các kế hoạch vùng được đóng góp vào việc xây dựng kế hoạch quốc
gia.
Quy hoạch phải gắn liền với tổ chức hành chính và quản lý nhà nước,
vẫn đảm bảo thu hoạch được liên tục trong chu kỳ sau. Và đến cuối thế kỷ 19
xuất hiện phương pháp "Lâm phần kinh tế" của Judeich, phương pháp này
khác với phương pháp "Bình quân thu hoạch" về căn bản, Judeich cho rằng
những lâm phần nào đảm bảo thu hoạch được nhiều tiền nhất sẽ được đưa vào
diện khai thác. Hai phương pháp "bình quân thu hoạch" và "lâm phần kinh tế"
chính là tiền đề của hai phương pháp tổ chức kinh doanh và tổ chức rừng khác
nhau.
Phương pháp "Bình quân thu hoạch" và sau này là phương pháp "Cấp
tuổi" chịu ảnh hưởng của "Lý luận rừng tiêu chuẩn", có nghĩa là yêu cầu rừng
phải có kết cấu tiêu chuẩn về tuổi cũng như về diện tích và trữ lượng, vị trí và
đưa các cấp tuổi cao vào diện tích khai thác. Hiện nay phương pháp kinh
doanh rừng này được dùng phổ biến ở các nước có tài nguyên rừng phòng
phú. Còn phương pháp "Lâm phần kinh tế" và hiện nay là phương pháp "Lâm
phần" không căn cứ vào tuổi rừng mà dựa vào đặc điểm cụ thể của mỗi lâm
phần tiến hành phân tích xác định sản lượng và biện pháp kinh doanh, phương
thức điều chế rừng. Cũng từ phương pháp này còn phát triển thành "Phương
pháp kinh doanh lô" và "phương pháp kiểm tra" [18].
Tại Châu Âu, vào thập kỷ 30 và 40 thế kỷ XX, quy hoạch ngành giữ vai
trò lấp chỗ trống của quy hoạch vùng được xây dựng vào đầu thế kỷ. Năm
1929 bang Wiscosin đã ra đạo luật sử dụng đất đai trong đó có quy định
nguyên tắc sử dụng đất lâm nghiệp, tiếp theo xây dựng kế hoạch sử dụng đất
9
đầu tiên cho vùng Oneide của Wiscosin, kế hoạch này đã xác định các diện
tích cho sử dụng đất lâm nghiệp, nông nghiệp và nghỉ ngơi giải trí [43].
Năm 1946, Jack G.V đã cho ra đời chuyên khảo đầu tiên về phân loại
đất đai với tên “phân loại đất đai cho quy hoạch sử dụng đất”. Đây cũng là tài
liệu đầu tiên đề cập đến đánh giá khả năng của đất cho quy hoạch sử dụng đất.
Dựa trên những kết quả thực tiễn ở Ấn Độ, cuối những năm 70 đến đầu
những năm 80 của thể kỷ trước, nhiều Quốc gia trên thế giới các phương pháp
điều tra, đánh giá truyền thống dần được thay thế bằng phương pháp điều tra
đánh giá có sự tham gia của người dân (PRA) và đánh giá nông thôn (RRA).
Phương pháp này nhanh chóng thể hiện được ưu thế và hiệu quả nổi trội của
nó trong việc điều tra, đánh giá lập kế hoạch, quy hoạch sử dụng đất nói
chung và đất lâm nghiệp nói riêng.
Năm 1985 đã có hai cuộc Hội nghị quốc tế RRA tại Ấn Độ, đến nay có
hơn 30 nước đã và đang áp dụng PRA vào việc phát triển các lĩnh vực. Ở
chương trình Hội thảo quốc tế tại Việt Nam (1998) cũng đã đề cập một cách
chi tiết khái niệm về sự tham gia và đề xuất các chiến lược quy hoạch sử dụng
đất cũng như giao đất. Ngày nay PRA và RRA đã dần dần được hoàn thiện,
thể hiện được vai trò không thể thiếu của nó trong mọi hoạt động thuộc lĩnh
vực lập kế hoạch, quy hoạch sử dụng đất.
1.2. Ở Việt Nam
1.2.1. Quy hoạch vùng chuyên canh (QH vùng chuyên canh cây trồng)
Trong quá trình xây dựng nền kinh tế, nhà nước đã quy hoạch các vùng
chuyên canh lúa ở đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long, các
vùng rau thực phẩm cho các thành phố lớn, các vùng cây công nghiệp ngắn
ngày (hàng năm): Vùng bông Thuận Hải, vùng đay Hải Hưng, vùng thuốc lá
Quảng An - Cao Bằng, Ba Vì - Hà Sơn Bình, Hữu Lũng - Lạng Sơn, Nho
Quan - Hà Nam Ninh, vùng Mía Vạn Điểm, Việt Trì, Sông Lam, Quảng
Ngãi,... Các vùng cây công nghiệp dài ngày (lâu năm): Vùng Cao su Sông Bé,
11
Đồng Nai, Buôn Hồ - Đắc Lắc, Chư Pả - Gia Lai Kon Tum (hợp tác với Liên
Xô trước đây, Cộng hoà dân chủ Đức, Tiệp Khắc, Bungari), vùng chè ở
Hoàng Liên Sơn, Mộc Châu, Bắc Thái, Vĩnh Phú, Hà Tuyên, Lâm Đồng, Gia
giá và quy hoạch. Từ năm 1955-1975, công tác điều tra phân loại đã được
tổng hợp một cách có hệ thống trong phạm vi toàn miền Bắc. Nhưng đến sau
năm 1975 các số liệu nghiên cứu về phân loại đất mới được thống nhất. Xung
quanh chủ đề phân loại đất đã có nhiều công trình khác triển khai thực hiện
trên các vùng sinh thái (Ngô Nhật Tiến, 1986; Đỗ Đình Sâm, 1994;…). Tuy
nhiên những công trình nghiên cứu trên chỉ mới dừng lại ở mức độ nghiên
cứu cơ bản, thiếu biện pháp đề xuất cần thiết cho việc sử dụng đất, công tác
điều tra phân loại chưa đi sâu gắn liền với công tác sử dụng đất. Những thành
tựu về nghiên cứu đất đai trong giai đoạn trên là cơ sở quan trọng góp phần
vào việc bảo vệ, cải tạo, quản lý và sử dụng đất đai một cách có hiệu quả
trong cả nước. Tuy nhiên ở nước ta vấn đề quy hoạch sử dụng đất mới chỉ
được nghiên cứu và ứng dụng ở cấp vĩ mô với những kết quả nghiên cứu còn
tản mạn, chưa có sự phân tích tổng hợp thành cơ sở lý luận để có thể áp dụng
vào thực tiễn.
Công trình “sử dụng đất tổng hợp và bền vững” của tác giả Nguyễn
Xuân Quát (1996) đã phân tích tình hình sử dụng đất đai cũng như mô hình sử
dụng đất tổng hợp bền vững, mô hình khoanh nuôi và phục hồi rừng ở Việt
Nam. Đồng thời đề xuất tập đoàn cây trồng thích hợp cho các mô hình sử
dụng đất sau này [21].
Công trình “Đất rừng Việt Nam” của tác giả Nguyễn Ngọc Bình đã đưa
ra những quan điểm nghiên cứu và phân loại đất rừng trên cơ sở những đặc
điểm cơ bản của đất rừng Việt Nam [20].
Năm 1996 tác giả Vũ Văn Mễ và Desloges đã thử nghiệm phương pháp
quy hoạch sử dụng đất có người dân tham gia tại Quảng Ninh đã đề xuất 6
13
nguyên tắc và các bước cơ bản trong quy hoạch sử dụng đất trong đó cấp xã
đóng vai trò phát triển trong phương pháp quy hoạch [23].
thông theo phương pháp hạt đều...
Đến năm 1955-1957, tiến hành sơ thám và mô tả ước lượng tài nguyên
rừng. Năm 1958-1959 tiến hành thống kế trữ lượng rừng Miền Bắc. Mãi đến
năm 1960-1964, công tác quy hoạch lâm nghiệp mới được áp dụng ở Miền
Bắc. Từ năm 1965 đến nay, lực lượng quy hoạch lâm nghiệp ngày càng được
tăng cường và mở rộng. Viện điều tra quy hoạch rừng kết hợp chặt chẽ với
lực lượng điều tra quy hoạch rừng của Sở Lâm nghiệp không ngừng cải tiến
phương pháp điều tra, quy hoạch lâm nghiệp của nước ngoài cho phù hợp với
trình độ và điều kiện tài nguyên rừng ở nước ta. Tuy nhiên so với lịch sử phát
triển của các nước khác thì quy hoạch lâm nghiệp Việt Nam hình thành và
phát triển muộn hơn nhiều. Vì vậy, những nghiên cứu cơ bản về kinh tế, xã
hội, kỹ thuật và tài nguyên rừng làm cơ sở cho công tác này ở nước ta đang
trong giai đoạn vừa tiến hành vừa nghiên cứu áp dụng [18].
1.2.3.4. Quy hoạch lâm nghiệp cho các cấp
a. Quy hoạch lâm nghiệp cho cấp quản lý sản xuất kinh doanh
Quy hoạch lâm nghiệp cho các cấp quản lý sản xuất kinh doanh bao
gồm: Quy hoạch Tổng công ty lâm nghiệp, Công ty lâm nghiệp; quy hoạch
lâm trường; quy hoạch lâm nghiệp cho các đối tượng khác (quy hoạch cho các
khu rừng phòng hộ; quy hoạch các khu rừng đặc dụng và quy hoạch phát triển
sản xuất nông lâm nghiệp cho các cộng đồng làng bản và trang trại lâm
nghiệp hộ gia đình). Các nội dung quy hoạch lâm nghiệp cho các cấp quản lý
sản xuất kinh doanh là khác nhau tuỳ theo điều kiện cụ thể của mỗi đơn vị và
thành phần kinh tế tham gia vào sản xuất lâm nghiệp mà lựa chọn các nội
dung quy hoạch cho phù hợp.
b. Quy hoạch lâm nghiệp cho các cấp quản lý lãnh thổ
15
Ở nước ta, các cấp quản lý lãnh thổ bao gồm các đơn vị quản lý hành
tỉnh. Tiến hành quy hoạch đất lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh theo 3 chức năng:
Rừng sản xuất, rừng phòng hộ và rừng đặc dụng, căn cứ vào phương hướng
nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội của tỉnh, căn cứ vào điều kiện đất đai tài
nguyên rừng, đồng thời căn cứ vào nhu cầu phòng hộ và các nhu cầu đặc biệt
khác. Quy hoạch bảo vệ, nuôi dưỡng và phát triển tài nguyên rừng hiện có.
Quy hoạch tái sinh rừng (bao gồm tái sinh tự nhiên và trồng rừng) thực hiện
nông lâm kết hợp. Quy hoạch lợi dụng rừng, chế biến lâm sản gắn với thị
trường tiêu thụ. Quy hoạch tổ chức sản xuất, phát triển nghề rừng, phát triển
lâm nghiệp xã hội. Quy hoạch xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông vận tải. Xác
định tiến độ thực hiện.
- Quy hoạch lâm nghiệp cấp huyện
Quy hoạch lâm nghiệp cấp huyện về cơ bản các nội dung quy hoạch
lâm nghiệp cũng tương tự như quy hoạch lâm nghiệp tỉnh, tuy nhiên nó được
thực hiện cụ thể, chi tiết hơn và được tiến hành trên phạm vi địa bàn huyện.
Quy hoạch lâm nghiệp huyện đề cập giải quyết các vấn đề sau:
Căn cứ vào phương hướng, nhiệm vụ phát triển tổng thể kinh tế - xã hội
của huyện, căn cứ vào phương án phát triển lâm nghiệp của tỉnh và điều kiện
tự nhiên, kinh tế - xã hội, đặc biệt là điều kiện tài nguyên rừng của huyện để
xác định phương hướng nhiệm vụ phát triển trên địa bàn huyện.
Quy hoạch bảo vệ, nuôi dưỡng tài nguyên rừng hiện có.
Quy hoạch các biện pháp tái sinh; trồng rừng, khoanh nuôi phục hồi
rừng tự nhiên. Quy hoạch thực hiện nông lâm kết hợp và sản xuất hỗ trợ trên
đất lâm nghiệp.
Quy hoạch khai thác lợi dụng lâm đặc sản, chế biến lâm sản gắn liền
với thị trường tiêu thụ.
Quy hoạch tổ chức sản xuất lâm nghiệp, quy hoạch đất lâm nghiệp cho
các thành phần kinh tế trong huyện, tổ chức phát triển lâm nghiệp xã hội.
17
18
thiết bị. Hiệu quả đầu tư cần được đánh giá đầy đủ trên các mặt kinh tế - xã
hội, môi trường. Xác định tiến độ thực hiện.
Về cơ bản nội dung quy hoạch cho các cấp quản lý lãnh thổ từ toàn
quốc đến tỉnh, huyện, xã là tương tự như nhau. Tuy nhiên mức độ giải quyết
khác nhau vệ chiều sâu và chiều rộng tuy theo các cấp.
1.2.3.5. Đánh giá ban đầu về vấn đề nghiên cứu ở Việt Nam
Những năm 1990 đến nay, cùng với sự hợp tác của các nhà khoa học và
tổ chức quốc tế, nước ta đã có nhiều công trình nghiên cứu và thử nghiệm về
quy hoạch sử dụng đất, đặc biệt là quy hoạch lâm nghiệp. Từ những nghiên
cứu đó, có thể rút ra một số kết luận chủ yếu sau:
Tuy có nhiều công trình nghiên cứu, nhiều dự án thực hiện quy hoạch
lâm nghiệp cấp địa phương. Song những thử nghiệm này đều chưa được tổng
kết đánh giá và phát triển thành phương pháp luận.
Phương pháp quy hoạch sử dụng đất trong nông lâm nghiệp chưa thật
sự thống nhất tại các địa phương.
Phương pháp quy hoạch có sự tham gia của người dân mới được áp
dụng trong công tác quy hoạch sử dụng đất tuy đã đạt được một số thành công
nhưng chưa được tổng kết nên chưa xây dựng được phương pháp chung thống
nhất cho quy hoạch nông lâm nghiệp.
Thiết sự phối kết hợp giữa ngành nông lâm nghiệp với các thành phần
kinh tế khác trong việc xây dựng phương án quy hoạch sử dụng đất dẫn tới
việc lúng túng, chồng chéo trong sử dụng đất ở nhiều địa phương.
Thiếu các nghiên cứu cơ bản hỗ trợ cho công tác quy hoạch lâm nghiệp
ở từng địa phương, cụ thể là một số vấn đề cần tiến hành nghiên cứu trước
tiên như: đánh giá tiềm năng đất đai, nghiên cứu chiến lược thị trường tiêu thụ
nông lâm sản, nghiên cứu tập đoàn cây trồng,… dẫn tới tính khả thi của
phương án quy hoạch lâm nghiệp không cao.
21
Phù Yên 1996-2010 [35], huyện đã tiến hành rà soát sắp xếp lại tổ chức và
hoạt động sản xuất kinh doanh lâm nghiệp trên địa bàn và đồng thời triển khai
một số dự án phát triển lâm nghiệp trên địa bàn huyện: Dự án 219, Dự án 372,
Dự án 747, Dự án 1382, Dự án 661; Dự án trồng rừng nguyên liệu giấy… Tuy
nhiên đến nay công tác quy hoạch lâm nghiệp trên địa bàn huyện chưa được
quan tâm chỉ đạo xây dựng, để thực hiện việc quản lý diện tích đất lâm nghiệp
trên địa bàn huyện theo đúng các quy định hiện hành, đồng thới xây dựng quy
hoạch, kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng sau khi kết thúc Dự án 661 vào
năm 2010 là rất cần thiết để đáp ứng yêu cầu quản lý và thực tiễn chỉ đạo sản
xuất lâm nghiệp tại địa phương giai đoạn 2011-2020.
22
Chương 2
MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Mục tiêu nghiên cứu
2.1.1. Mục tiêu tổng quát
Quy hoạch phát triển lâm nghiệp huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La giai đoạn
2011-2020.
2.1.2. Mục tiêu cụ thể
- Xây dựng cơ sở khoa học cho quy hoạch phát triển lâm nghiệp tại
huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La.
- Đề xuất một số nội dung cơ bản cho quy hoạch lâm nghiệp huyện Phù
Yên, tỉnh Sơn La giai đoạn 2011-2020.
- Bố trí tiến độ thực hiện quy hoạch lâm nghiệp huyện Phù Yên.
- Ước tính nhu cầu đầu tư, hiệu quả về kinh tế, xã hội và môi trường.
- Đề xuất một số giải pháp thực hiện quy hoạch: Về tổ chức, quản lý
quy hoạch, cơ chế chính sách, nghiên cứu khoa học công nghệ và đào tạo phát
triển nguồn nhân lực…
2.2. Phương pháp nghiên cứu
2.4.1. Phương pháp điều tra thu thập số liệu
2.4.1.1. Sử dụng phương pháp kế thừa các tài liệu có chọn lọc nhằm
thu thập các nguồn tài liệu thứ cấp hiện có trên địa bàn, bao gồm:
- Quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng cấp tỉnh.
- Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh, huyện.
- Các thể chế, chính sách và quy định của tỉnh, huyện có liên quan.
- Các chỉ tiêu, định mức kinh tế, kỹ thuật hiện hành.
- Các số liệu, tài liệu về tự nhiên, kinh tế - xã hội và tài nguyên rừng.
24
2.4.1.2. Khai thác, sử dụng các loại bản đồ hiện trạng về sử dụng đất,
quy hoạch 3 loại rừng, bản đồ phân cấp phòng hộ, phân bố tài nguyên rừng,
bản đồ thổ nhưỡng của huyện và tỉnh.
2.4.1.3. Sử dụng phương pháp khảo sát thực địa, bổ sung, kiểm tra
thông tin
- Sử dụng phương PRA (đánh giá nông thôn có sự tham gia) để điều
tra, phân tích về hiện trạng quản lý sử dụng đất đai, tài nguyên rừng, vai trò
và mức độ tham gia của người dân địa phương trong công tác quản lý tài
nguyên rừng, những thuận lợi và khó khăn hiện nay trong bảo vệ và phát triển
tài nguyên rừng cũng như nhu cầu, nguyện vọng của người dân trong sản xuất
và đời sống…[19].
- Sử dụng phương pháp phúc tra thực địa để cập nhật số liệu về số và