1
2
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
ĐỖ HỮU MẠNH
ĐỖ HỮU MẠNH
NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN
QUY HOẠCH LÂM NGHIỆP HUYỆN TAM ĐẢO TỈNH VĨNH PHÖC
NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN QUY HOẠCH
LÂM NGHIỆP HUYỆN TAM ĐẢO - TỈNH VĨNH PHÖC
Chuyên ngành: Lâm học
Mã số: 62.62.60
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS. VŨ NHÂM
Thái nguyên, 2009
1.1. Trên thế giới
2
1.1.1. Quy hoạch vùng
2
Trước hết tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn tới Ban giám hiệu, Khoa sau đại
học và toàn thể giảng viên của trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên đã tạo điều
kiện giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình học tập và hoàn thành khoá đào tạo.
1.1.2. Quy hoạch vùng Nông nghiệp
5
1.1.3. Quy hoạch Lâm nghiệp
6
1.2. Ở trong nƣớc (Việt Nam)
7
Xin chân thành cám ơn PGS.TS. Vũ Nhâm người trực tiếp hướng dẫn tác
giả thực hiện và hoàn thành luận văn tốt nghiệp.
1.2.1. Quy hoạch vùng chuyên canh
7
2.1.1. Mục tiêu tổng quát
14
2.1.2. Mục tiêu cụ thể
14
2.2. Phạm vi giới hạn nghiên cứu
14
2.3. Nội dung nghiên cứu
14
2.3.1. Cơ sở quy hoạch lâm nghiệp huyện Tam Đảo
2.3.2. Những dự báo cơ bản
14
2.3.3. Định hướng và nhiệm vụ PTLN huyện đến năm 2020
15
2.3.4. Quy hoạch 3 loại rừng huyện Tam Đảo
15
2.3.5. Đề xuất một số nội dung cơ bản cho QHLN huyện đến năm 2020
2.4.4. Sử lý số liệu.
16
Chƣơng 3. Điều kiện cơ bản khu vực nghiên cứu
3.1. Điều kiện tự nhiên
3.1.1. Vị trí địa lý
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
5
6
3.1.2. Địa hình, địa mạo
4.5.4. Quy hoạch các biện pháp kinh doanh, lợi dụng tổng hợp rừng
3.1.3. Địa chất, thổ nhưỡng
4.6. Đề xuất một số giải pháp thực hiện quy hoạch
15
15
3.2.3. Văn hóa, giáo dục và y tế
4.8.1. Khái toán vốn đầu tư
3.3. Tình hình sản xuất kinh doanh lâm nghiệp trên địa bàn huyện
4.8.2. Hiệu quả đầu tư
3.3.1. Về tổ chức quản lý
Chƣơng 5. Kết luận - tồn tại - kiến nghị
3.3.2. Hiện trạng sử dụng đất đai huyện Tam Đảo
5.1. Kết luận
3.3.3. Hiện trạng sử dụng đất lâm nghiệp theo chủ quản lý
5.2. Tồn tại
5.3. Kiến nghị đề xuất
Chƣơng 4. Kết quả nghiên cứu và thảo luận
4.1. Cơ sở quy hoạch lâm nghiệp huyện Tam Đảo
15
4.1.1. Cơ sở pháp lý
4.5.1. Quy hoạch phát triển lâm nghiệp huyện Tam Đảo
4.5.2. Quy hoạch các biện pháp kinh doanh rừng
4.5.3. Quy hoạch các biện pháp khai thác rừng và chế biến lâm sản
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
7
8
DANH MỤC CÁC BẢN ĐỒ, BIỂU ĐỒ VÀ SƠ ĐỒ
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIẺU
Tên bảng
Trang
TT
Nội dung
Trang
Bảng 3.6. Hiện trạng sử dụng đất lâm nghiệp theo đơn vị chủ quản lý
Bảng 4.1. Tiêu chí phân cấp mức độ ảnh hưởng của lượng mưa
Bảng 4.2. Tiêu chí phân cấp mức độ ảnh của độ dốc
Bảng 4.3. Tiêu chí phân cấp mức độ ảnh hưởng của độ cao tương đối
Bảng 4.4. Tiêu chí phân cấp mức độ ảnh hưởng đối với đất
Bảng 4.5. Quy hoạch 3 loại rừng huyện Tam Đảo đến năm 2020
Bảng 4.6. Quy hoạch 3 loại rừng huyện Tam Đảo theo chủ quản lý
Bảng 4.7. Quy hoạch rừng phòng hộ theo đơn vị hành chính
Bảng 4.8. Quy hoạch rừng đặc dụng theo đơn vị hành chính
Bảng 4.9. Quy hoạch rừng sản xuất theo đơn vị hành chính
Bảng 4.10. Quy hoạch PTLN huyện TĐ giai đoạn 2010-2020
Bảng 4.11. Tập đoàn cây trồng theo chức năng
Bảng 4.12. Dự kiến khối lượng khai thác lâm sản huyện Tam Đảo
Bảng 4.13. Tiến độ thực hiện các hạng mục trồng, chăm sóc, KN, BVR
Bảng 4.14. Tiến độ trồng rừng sản xuất phân ra hàng năm
Bảng 4.15. Tổng hợp các chỉ tiêu cho từng loài cây
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
9
10
6
PCCCR
Phòng chất chữa cháy rừng
7
PH
Phòng hộ
8
PTLN
Phát triển lâm nghiệp
9
PTNT
Phát triển nông thôn
10
QHLN
Quy hoạch lâm nghiệp
16
HGĐ
Hộ gia đình
17
KN
Khoanh nuôi
18
BV
Bảo vệ
19
LN
Lâm nghiệp
20
Trđ
Triệu đồng
đó có hơn 40% là đồng bào dân tộc thiểu số, chủ yếu là dân tộc Sán Dìu. Huyện
có 9 đơn vị hành chính cấp xã, trong đó có 8 xã và 1 thị trấn thuộc vùng miền
núi, có 3 xã thuộc diện đặc biệt khó khăn.
Tam Đảo là huyện có tiềm năng lớn về phát triển kinh tế du lịch và dịch
vụ song tiềm năng này chưa được đầu tư khai thác tốt. Bên cạnh vai trò to lớn về
phát triển kinh tế, Tam Đảo còn là huyện có vai trò quan trọng về môi trường
sinh thái. Năm 1996 Vườn Quốc gia Tam Đảo được thành lập nhằm bảo tồn các
tài nguyên thiên nhiên và nguồn gen quý hiếm.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
11
12
Những năm gần đây, hoà nhịp cùng tiến trình phát triển kinh tế của cả
nước và của tỉnh, kinh tế-xã hội huyện Tam Đảo đã có những bước phát triển
nhất định. Tuy nhiên, sự phát triển kinh tế-xã hội huyện Tam Đảo trong thời
gian qua vẫn còn chậm, chưa đạt yêu cầu của tỉnh, một tỉnh đã được Chính phủ
phê duyệt là 1 trong 8 tỉnh trọng điểm kinh tế phía Bắc. Trong giai đoạn tới,
nhằm đáp ứng được các yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội của huyện và của tỉnh
trong tình hình mới cần phải huy động tốt sức mạnh tổng hợp của các ngành,
các lĩnh vực trên địa bàn huyện.
rừng ổn định, bền vững lâu dài, nâng cao đời sống người dân địa phương cũng như
cải thiện điều kiện môi trường sinh thái khu vực, việc “Nghiên cứu đề xuất một
số nội dung cơ bản quy hoạch lâm nghiệp huyện Tam Đảo - tỉnh Vĩnh Phúc”
là cấp thiết.
Tài nguyên rừng trên thế giới cũng như Việt Nam đã và đang bị thu hẹp
dần về diện tích, giảm về chất lượng, môi trường bị suy thoái, ô nhiễm ngày
càng nghiêm trọng dẫn đến thiên tai, hạn hán, lũ lụt, dịch bệnh xảy ra ngày càng
nhiều. Nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên là do áp lực về dân số, kéo theo hoạt
động kinh tế diễn ra mạnh mẽ, đồng thời các ngành công nghiệp phát triển
mạnh, sự đô thị hoá cũng diễn ra với tốc độ nhanh. Chính vì vậy, việc quy hoạch
sử dụng hợp lý và bền vững tài nguyên rừng không còn là trách nhiệm riêng của
một quốc gia nào mà là công việc chung của toàn nhân loại.
1.1. Trên thế giới
Quy hoạch lâm nghiệp là một bộ phận cấu thành của quy hoạch tổng thể
phát triển nông thôn và thuộc phạm trù của Quy hoạch vùng. Do đó, công tác
quy hoạch lâm nghiệp cần có sự phối hợp chặt chẽ với quy hoạch phát triển
nông thôn nhằm tránh sự chồng chéo, hạn chế lẫn nhau giữa các ngành và tuân
thủ theo các nguyên tắc, định hướng của Quy hoạch vùng. Thực chất của công
tác quy hoạch nói chung là tổ chức không gian và thời gian phát triển chung cho
kinh tế, xã hội, môi trường hoặc cho một ngành hoặc một lĩnh vực sản xuất
trong từng giai đoạn cụ thể. Mỗi ngành kinh tế muốn tồn tại, phát triển thì nhất
thiết phải tiến hành quy hoạch, sắp xếp một cách hợp lý, mà trong đó công tác
điều tra cơ bản phục vụ cho quy hoạch phát triển phải được đi trước một bước.
1.1.1. Quy hoạch vùng
Quy hoạch vùng tuân theo học thuyết Mác-Lê Nin về phân bố và phát
triển lực lượng sản xuất theo lãnh thổ và sử dụng các phương pháp của chủ
nghĩa duy vật biện chứng.
Các Mác và Ăng Ghen đã chỉ ra “Mức độ phát triển lực lượng sản xuất
của một dân tộc thể hiện rõ nét hơn hết ở sự phân công lao động của dân tộc đó
Đưa các xí nghiệp, công nghiệp đến gần nguồn tài nguyên để hạn chế chi
phí vận chuyển.
- Bảo vệ môi trường thiên nhiên của vùng lãnh thổ, tạo điều kiện tốt cho
người lao động nghỉ ngơi, sinh hoạt.
Kết hợp tốt lợi ích Nhà nước và nhu cầu kinh tế của từng tỉnh, vùng.
Tăng cường toàn diện tiềm lực kinh tế, …
Kết hợp chặt chẽ các ngành kinh tế từng vùng, từng huyện nhằm nâng cao
năng xuất lao động và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên. [21]
1.1.1.1. Quy hoạch vùng lãnh thổ ở Bungari
a) Mục đích của quy hoạch vùng lãnh thổ ở Bungari
- Sử dụng có hiệu quả nhất lãnh thổ của quốc gia.
- Bố trí hợp lý các hoạt động của con người nhằm đảm bảo tái sản xuất
mở rộng.
- Xây dựng một môi trường sống đồng bộ.
b) Quy hoạch lãnh thổ quốc gia được phân thành các vùng.
- Lãnh thổ là môi trường thiên nhiên phải bảo vệ.
- Lãnh thổ thiên nhiên không có vùng nông thôn, sự tác động của con
người vào đây rất ít.
- Lãnh thổ là môi trường thiên nhiên có mạng lưới nông thôn, ít có sự can
thiệp của con người, thuận lợi cho kinh doanh về du lịch.
- Lãnh thổ là môi trường nông nghiệp có mạng lưới nông thôn và có sự
can thiệp của con người, thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp.
- Lãnh thổ là môi trường nông nghiệp không có mạng lưới nông thôn
nhưng có sự tác động của con người.
- Lãnh thổ là môi trường công nghiệp với sự can thiệp tích cực của con người.
Trên cơ sở quy hoạch vùng lãnh thổ cả nước, tiến hành quy hoạch lãnh thổ
vùng và quy hoạch lãnh thổ địa phương.
c) Nội dung của quy hoạch:
Công tác quy hoạch vùng lãnh thổ được chú ý từ những năm 1970 của thế kỷ
trước. Hệ thống quy hoạch được tiến hành theo 3 cấp: (Quốc gia, vùng, địa phương).
Vùng: Region được coi như là một á miền của đất nước, đó là điều cần
thiết để phân chia quốc gia thành các á miền theo các phương diện khác nhau
như: Phân bố dân cư, địa hình, khí hậu,…
Quy mô diện tích của vùng phụ thuộc vào diện tích của đất nước.
Quy hoạch phát triển vùng tiến hành ở cấp á miền được xây dựng theo 2
cách sau:
`
- Thứ nhất: Sự bổ sung của kế hoạch Nhà nước được giao cho vùng,
những mục tiêu và hoạt động được xác định theo cơ sở vùng.
- Thứ hai: Quy hoạch vùng được giải quyết căn cứ vào đặc điểm của
vùng, các kế hoạch vùng được đóng góp vào xây dựng kế hoạch Quốc gia.
Quy hoạch phải gắn liền với tổ chức hành chính và quản lý Nhà nước,
phải phối hợp với chính quyền, địa phương.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
15
16
1.1.2. Quy hoạch vùng nông nghiệp
Quy hoạch vùng nông nghiệp là một biện pháp tổng hợp của nhà nước về
phân bố và phát triển lực lượng sản xuất trên lãnh thổ các vùng hành chính,
nông nghiệp, nhằm đáp ứng các nhu cầu về phát triển tất cả các ngành kinh tế
trong vùng.
Quy hoạch vùng nông nghiệp là giai đoạn kết thúc của kế hoạch hoá
nguyên rừng chia đều cho từng năm của chu kỳ khai thác và tiến hành khoanh
khu chặt luân chuyển theo trữ lượng hoặc diện tích. Phương thức này phục vụ
cho phương thức kinh doanh rừng chồi, chu kỳ khai thác ngắn.
Sau cuộc cách mạng công nghiệp, vào thế kỷ 19 phương thức kinh doanh
rừng chồi được thay bằng phương thức kinh doanh rừng hạt với chu kỳ khai thác
dài, và phương thức “khoanh khu chặt luân chuyển” nhường chỗ cho phương thức
“chia đều” của Harting. Harting đã chia đều chu kỳ khai thác thành nhiều thời kỳ
lợi dụng và trên cơ sở đó khống chế lượng chặt hàng năm. Đến năm 1816, xuất
hiện phương thức luân kỳ lợi dụng của H.Cotta. Cotta chia chu kỳ khai thác thành
20 thời kỳ lợi dụng và cũng lấy đó để khống chế lượng chặt hàng năm.
Sau đó phương pháp “Bình quân thu hoạch ” ra đời, quan điểm phương
pháp này là giữ đều mức thu hoạch trong chu kỳ khai thác hiện tại, đồng thời
vẫn đảm bảo thu hoạch được liên tục trong chu kỳ sau. Và đến cuối thế kỷ 19,
xuất hiện phương pháp “Lâm phần kinh tế” của Judeich. Phương pháp này khác
với phương pháp “Bình quân thu hoạch” về căn bản, Judeich cho rằng những
lâm phần nào đảm bảo thu hoạch được nhiều tiền nhất sẽ được đưa vào diện khai
thác. Hai phương pháp “Bình quân thu hoạch ” và “Lâm phần kinh tế” chính là
tiền đề của hai phương pháp tổ chức kinh doanh và tổ chức rừng khác nhau.
Phương pháp “Bình quân thu hoạch” và sau này là phương pháp “Cấp
tuổi” chịu ảnh hưởng của “Lý luận rừng tiêu chuẩn”, có nghĩa là rừng phải có
kết cấu tiêu chuẩn về tuổi cũng như về diện tích, trữ lượng, vị trí và đưa các cấp
tuổi cao vào diện tích khai thác. Hiện nay, phương pháp kinh doanh rừng này
được dùng phổ biến ở các nước có tài nguyên rừng phong phú. Còn phương
pháp “Lâm phần kinh tế” và hiện nay là phương pháp “Lâm Phần” không căn cứ
vào tuổi rừng mà dựa vào đặc điểm cụ thể của mỗi lâm phần tiến hành phân tích,
xác định sản lượng và biện pháp kinh doanh. Cũng từ phương pháp này, còn
phát triển thành “Phương pháp kinh doanh lô” và “Phương pháp kiểm tra” [20].
1.2. Ở Việt Nam
1.2.1. Quy hoạch vùng chuyên canh
chủ Đức, Tiệp Khắc, Bungari), vùng chè ở Lai Châu, Lào Cai, Sơn La, Thái
Nguyên, Phú Thọ, Hà Giang, Tuyên Quang, Lâm Đồng, Gia Lai, Kon Tum,
vùng dâu tằm Bảo Lộc – Lâm Đồng,…
a). Tác dụng của quy hoạch vùng chuyên canh
- Xác định được phương hướng sản xuất, chỉ ra những vùng chuyên môn
hóa và những vùng có khả năng hợp tác kinh tế cao.
- Xác định và chọn những vùng trọng điểm giúp nhà nước tập trung đầu
tư vốn đúng đắn.
- Xây dựng được cơ cấu sản xuất, các chỉ tiêu sản xuất sản phẩm và sản
phẩm hàng hóa của vùng, yêu cầu xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật phục vụ sản
xuất, nhu cầu lao động.
- Cơ sở để xây dựng kế hoạch, phát triển nghiên cứu tổ chức quản lý kinh
doanh theo ngành và theo lãnh thổ.
Quy hoạch vùng chuyên canh đã thực hiện nhiệm vụ chủ yếu là bố trí cơ cấu
cây trồng được chọn với quy mô và chế độ canh tác hợp lý, theo hướng tập trung để
ứng dụng tiến bộ kỹ thuật nhằm nâng cao năng suất, sản lượng và chất lượng sản
phẩm cây trồng đồng thời phân bố các chỉ tiêu nhiệm vụ cụ thể cho từng cơ sở sản
xuất, làm cơ sở cho công tác quy hoạch, kế hoạch của các cơ sở sản xuất.
b). Nội dung của quy hoạch vùng chuyên canh
- Xác định quy mô, ranh giới vùng.
- Xác định phương hướng, chỉ tiêu nhiệm vụ sản xuất.
- Bố trí sử dụng đất đai.
- Xác định quy mô, ranh giới nhiệm vụ chủ yếu cho các xí nghiệp trong
vùng và tổ chức sản xuất ngành nông nghiệp.
- Xác định hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ sản xuất đời sống.
- Tổ chức và sử dụng lao động.
- Ước tính đầu tư và hiệu quả kinh tế.
- Dự kiến tiến độ thực hiện quy hoạch.
1.2.2. Quy hoạch nông nghiệp huyện
- Tổ chức các cụm kinh tế-xã hội.
- Bảo vệ môi trường.
Quy hoạch nông nghiệp huyện được tiến hành ở hầu hết các huyện, là một
quy hoạch ngành bao gồm cả nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản, thủ công
nghiệp và công nghiệp chế biến.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
1.2.2.1. Nhiệm vụ chủ yếu của quy hoạch nông nghiệp huyện
- Vốn đầu tư cơ bản.
- Hiệu quả sản xuất và tiến độ thực hiện quy hoạch.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
19
20
1.2.2.3. Đối tượng của quy hoạch nông nghiệp huyện
Đối tượng của quy hoạch nông nghiệp huyện là toàn bộ đất đai, ranh giới
hành chính huyện [21].
1.2.3. Quy hoạch lâm nghiệp
Quy hoạch lâm nghiệp là tiến hành phân chia, sắp xếp hợp lý về mặt
không gian tài nguyên rừng và bố trí cân đối các hạng mục sản xuất kinh doanh
theo các cấp quản lý lãnh thổ và các cấp quản lý sản xuất khác nhau làm cơ sở
tế xã hội chậm phát triển, đời sống vật chất và tinh thần còn nhiều khó khăn.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Chu kỳ kinh doanh cây lâm nghiệp dài ngày (ngắn 8 – 10 năm, thậm chí
hàng trăm năm). Người dân không chịu tự giác bỏ vốn tham gia trồng rừng chỉ
khi biết chắc chắn sẽ có lợi.
Mục tiêu của quy hoạch lâm nghiệp cũng rất đa dạng: Quy hoạch rừng
phòng hộ (phòng hộ đầu nguồn, phòng hộ ven biển, phòng hộ môi trường);
Quy hoạch rừng đặc dụng (các vườn quốc gia, các khu bảo tồn thiên nhiên,
các khu di tích văn hóa - lịch sử - danh thắng) và quy hoạch phát triển các
loại rừng sản xuất.
Quy mô của công tác quy hoạch lâm nghiệp bao gồm cả tầm vĩ mô và vi
mô: Quy hoạch toàn quốc, từng vùng lãnh thổ, từng tỉnh, huyện, xí nghiệp, lâm
trường, quy hoạch phát triển lâm nghiệp xã và làng lâm nghiệp.
Lực lượng tham gia làm công tác quy hoạch lâm nghiệp thường luôn phải
lưu động, điều kiện sinh hoạt khó khăn, cơ sở vật chất thiếu thốn về mọi mặt…
Đội ngũ cán bộ xây dựng phương án quy hoạch cũng rất đa dạng, bao gồm cả
lực lượng của Trung ương và địa phương, thậm chí các ngành khác cũng tham
gia làm quy hoạch lâm nghiệp (nông nghiệp, công an, quân đội… ). Trong đó,
có một số bộ phận được đào tạo bài bản qua các trường lớp, song phần lớn chỉ
dựa vào kinh nghiệm hoạt động lâu năm trong ngành lâm nghiệp
1.2.3.2. Những yêu cầu của công tác quy hoạch lâm nghiệp
Công tác quy hoạch lâm nghiệp được triển khai dựa trên những chủ
trương, chính sách và định hướng phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước và
chính quyền các cấp trên từng địa bàn cụ thể. Với mỗi phương án quy hoạch lâm
nghiệp phải đạt được:
- Hoạch định rõ ranh giới đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp và đất do các
ngành khác sử dụng; Trong đó, đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp được quan tâm
1.2.3.3. Các văn bản có liên quan đến quy hoạch lâm nghiệp
- Hiến pháp của nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 nêu:
“Nhà nước thống nhất quản lý toàn bộ đất đai theo quy hoạch và pháp luật, đảm
bảo sử dụng đúng mục đích và hiệu quả. Nhà nước giao đất cho các tổ chức, hộ
gia đình và cá nhân sử dụng ổn định lâu dài ”.
- Luật Đất đai năm 2003 quy định rõ 3 loại đất (đất nông nghiệp, đất phi
nông nghiệp, đất chưa sử dụng) và 6 quyền sử dụng (được cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất; hưởng thành quả lao động, kết quả đầu tư trên đất; hưởng
các lợi ích do công trình của nhà nước về bảo vệ, cải tạo đất nông nghiệp; được
nhà nước hướng dẫn và giúp đỡ trong việc cải tạo, bồi bổ đất nông nghiệp; được
nhà nước bảo hộ khi bị người khác xâm phạm đến quyền sử dụng đất hợp pháp
của mình; khiếu nại, tố cáo, khởi kiện về những hành vi vi phạm quyền sử dụng
đất hợp pháp của mình và những hành vi khác vi phạm pháp luật về đất đai).
- Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 phân định rõ 3 loại rừng (rừng
phòng hộ, rừng đặc dụng, rừng sản xuất) làm cơ sở cho quy hoạch lâm nghiệp.
- Quy chế quản lý rừng năm 2006 quy định về việc tổ chức quản lý, bảo
vệ, phát triển và sử dụng rừng đặc dụng, rừng phòng hộ và rừng sản xuất, bao
gồm diện tích có rừng và diện tích không có rừng đã được nhà nước giao, cho
thuê hoặc quy hoạch cho lâm nghiệp.
- Quyết định 61 về quy định tiêu chí phân cấp rừng phòng hộ và quyết
định 62 quy định về tiêu chí phân loại rừng đặc dụng (năm 2005).
Từ trước tới nay, công tác quy hoạch lâm nghiệp đã được triển khai
trên toàn quốc ở nhiều cấp độ, quy mô khác nhau phục vụ cho mục tiêu phát
triển ngành. Song căn cứ vào yêu cầu, trong mỗi giai đoạn cụ thể, trong
từng thời điểm, căn cứ vào nguồn vốn được cấp và yêu cầu mức độ kỹ
thuật khác nhau mà nội dung các phương án quy hoạch, dự án đầu tư cũng
được điều chỉnh cho phù hợp.
1.2.3.4. Quy hoạch lâm nghiệp cho các cấp
a). Quy hoạch lâm nghiệp cho các cấp quản lý SXKD.
Quy hoạch lâm nghiệp cho các cấp quản lý SXKD bao gồm: Quy hoạch
* Quy hoạch lâm nghiệp cấp tỉnh
Quy hoạch lâm nghiệp cấp tỉnh giải quyết những vấn đề: Xác định nhiệm
vụ phương hướng phát triển trong phạm vi tỉnh căn cứ vào phương hướng nhiệm
vụ phát triển kinh tế xã hội của tỉnh, căn cứ quy hoạch lâm nghiệp toàn quốc
đồng thời căn cứ vào điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của tỉnh. Tiến hành quy
hoạch đất lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh theo 3 chức năng: Rừng sản xuất, rừng
phòng hộ và rừng đặc dụng, căn cứ vào phương hướng nhiệm vụ phát triển kinh
tế xã hội của tỉnh, căn cứ vào điều kiện đất đai tài nguyên rừng, đồng thời căn cứ
vào nhu cầu phòng hộ và các nhu cầu đặc biệt khác. Quy hoạch bảo vệ, nuôi
dưỡng và phát triển tài nguyên rừng hiện có. Quy hoạch tái sinh rừng (bao gồm
tái sinh tự nhiên và trồng rừng) thực hiện nông lâm kết hợp. Quy hoạch lợi dụng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
23
24
rừng, chế biến lâm sản gắn với thị trường tiêu thụ. Quy hoạch tổ chức sản xuất,
phát triển nghề rừng, phát triển lâm nghiệp xã hội. Quy hoạch xây dựng cơ sở hạ
tầng, giao thông vận tải. Xác định tiến độ thực hiện.
nhiên, điều kiện kinh tế-xã hội, điều kiện tài nguyên rừng. Căn cứ vào quy
hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội, căn cứ vào quy hoạch cấp huyện và các
điều kiện cơ bản của xã, xác định phương hướng nhiệm vụ phát triển lâm nghiệp
trên địa bàn xã. Quy hoạch đất đai trong xã theo ngành và theo đơn vị sử dụng.
Xác định rõ mối quan hệ giữa các ngành sử dụng đất đai trên địa bàn xã. Căn cứ
vào phương hướng phát triển các điều kiện về nhu cầu phòng hộ và các nhu cầu
thị trường tiêu thụ.
Quy hoạch tổ chức sản xuất lâm nghiệp, quy hoạch đất lâm nghiệp cho
các thành phần kinh tế trong huyện, tổ chức phát triển lâm nghiệp xã hội.
Quy hoạch xây dựng cơ sở hạ tầng, giao thông vận tải.
Xác định tiến độ thực hiện.
Thời gian quy hoạch lâm nghiệp cấp huyện thường là 10 năm. Các nội
dung quy hoạch lâm nghiệp cũng cần phải phù hợp với phương hướng phát triển
kinh tế - xã hội chung của từng tiểu vùng trong huyện.
* Quy hoạch lâm nghiệp cấp xã
Xã là đơn vị hành chính nhỏ nhất, đơn vị cơ bản quản lý và tổ chức sản
xuất lâm nghiệp trong các thành phần kinh tế tập thể và tư nhân. Quy hoạch lâm
nghiệp trên địa bàn xã cần chi tiết, cụ thể hơn và được tiến hành trong thời gian
5-10 năm. Quy hoạch lâm nghiệp xã thường tiến hành các nội dung sau: Điều tra
các điều kiện cơ bản có liên quan đến sản xuất lâm nghiệp như: Điều kiện tự
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Về cơ bản nội dung quy hoạch lâm nghiệp cho các cấp quản lý lãnh thổ từ
toàn quốc đến tỉnh, huyện, xã là tương tự như nhau. Tuy nhiên mức độ giải
quyết khác nhau về chiều sâu và chiều rộng tùy theo các cấp.
1.3. Ở Vĩnh Phúc
Vĩnh phúc là một tỉnh trung du miền núi, nằm trong vùng kinh tế trọng
điểm Bắc Bộ với tổng diện tích tự nhiên 137.224,14 ha. Dân số 1.169.067
người, cư trú trên địa bàn 152 xã, phường, thị trấn, thuộc 7 huyện và 2 thị xã.
Tổng diện tích đất lâm nghiệp là 33.054,61 ha, trong đó đất có rừng 27.137,23
ha, chiếm 82,09% đất Lâm nghiệp. Rừng Vĩnh Phúc có ý nghĩa rất quan trọng,
nằm giữa khu rừng là khu nghỉ mát Tam Đảo, danh thắng Tây Thiên, có Vườn
quốc gia Tam Đảo nơi có hệ động thực vật phong phú, với nhiều nguồn gen động
thực vật quý hiếm. Trong những năm qua, các cấp, các ngành và nhân dân tỉnh
đạo của Chính phủ và hướng dẫn của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn.
Với mục tiêu xây dựng và phát triển nền lâm nghiệp sản xuất hàng hóa đa
dạng với nhiều thành phần kinh tế, đáp ứng lâu dài và ổn định nhu cầu gỗ, củi và
các loại lâm sản khác trong sự phát triển kinh tế của tỉnh, đóng góp một phần
vào tổng giá trị sản phẩm kinh tế quốc dân. Hình thành và phát triển các vùng
nguyên liệu tập trung nhằm đảm bảo cung cấp tối đa nguồn nguyên liệu cho các
nhà máy chế biến bột giấy và giấy, các cơ sở chế biến gỗ, ván thanh, ván dăm và
bao bì, chuyển đổi cơ cấu cây trồng hợp lý, đồng thời áp dụng các biện pháp lâm
sinh hữu hiệu nhằm nâng cao năng suất, chất lượng rừng, rút ngắn chu kỳ kinh
doanh, nâng cao giá trị thu nhập trên mỗi đơn vị diện tích lâm nghiệp. Đảm bảo
độ che phủ rừng của huyện đạt trên 24% trong những năm tới. Để góp phần ổn
định đời sống, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch sắp xếp lại diện
tích đất lâm nghiệp của huyện một cách hợp lý là nhiệm vụ cấp thiết trong thời
gian tới.
2.1. Mục tiêu nghiên cứu
2.1.1. Mục tiêu tổng quát
Quản lý lâm nghiệp ổn định, bền vững cho huyện Tam Đảo tỉnh Vĩnh
Phúc trong 10 năm (2010-2020).
2.1.2. Mục tiêu cụ thể
- Phân tích điều kiện cơ bản ảnh hưởng đến phát triển lâm nghiệp huyện
- Đánh giá tình hình sản xuất lâm nghiệp và dự báo nhu cầu lâm sản.
- Xác định được định hướng, nhiệm vụ phát triển lâm nghiệp huyện
- Đề xuất một số nội dung cơ bản cho quy hoạch lâm nghiệp huyện
- Đề xuất các giải pháp thực hiện.
2.2. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng: Rừng và đất lâm nghiệp trên địa bàn huyện Tam Đảo.
- Phạm vi: Trên toàn bộ diện tích rừng và đất lâm nghiệp thuộc huyện
Tam Đảo - tỉnh Vĩnh Phúc.
2.3. Nội dung nghiên cứu
2.3.5. Đề xuất một số nội dung QHLN huyện Tam Đảo
- Quy hoạch lâm nghiệp huyện
- Quy hoạch các biện pháp kinh doanh rừng
- Quy hoạch biện pháp kinh doanh, lợi dụng tổng hợp rừng.
2.3.6. Đề xuất một số giải pháp thực hiện quy hoạch
- Các giải pháp về tổ chức, cơ chế chính sách, nguồn nhân lực và khoa
học công nghệ
- Các giải pháp về quản lý sử dụng tài nguyên rừng.
- Giải pháp cụ thể cho từng loại rừng
2.3.7. Tiến độ thực hiện QHLN huyện Tam Đảo giai đoạn 2010-2020
2.3.8. Ước tính vốn thực hiện và hiệu quả đầu tư
- Khái toán vốn thực hiện
- Phúc tra trữ lượng rừng: Chỉ tiến hành phúc tra lại khi có sự biến động,
sai khác lớn về trữ lượng hoặc có sự nghi ngờ về độ chính xác của số liệu. Do
đó, mỗi trạng thái rừng chỉ lập 3 ô tiêu chuẩn điển hình (ngẫu nhiên hoặc theo
tuyến) để tiến hành điều tra.
* Điều tra trữ lượng rừng tự nhiên: Lập ô tiêu chuẩn có diện tích S=
1000m2 (25x40m), sau đó sử dụng thước kẹp kính, thước đo cao Blumlei, để đo
đếm, xác định các chỉ tiêu về đường kính, chiều cao vút ngọn và chiều cao dưới
cành (D1..3; Hvn; Hdc;...)
* Điều tra trữ lượng rừng trồng: Như rừng tự nhiên, lập 3 ô tiêu chuẩn
điển hình với diện tích mỗi ô S= 500m2 (20x25m), sau đó đo các chỉ tiêu về
đường kính, chiều cao vút ngọn và chiều cao dưới cành (D 1..3; Hvn; Hdc;...).
* Điều tra tình hình sinh trưởng của cây tái sinh, nguồn gốc tái sinh, loài
cây,... kết hợp với điều tra trên các ô tiêu chuẩn, tiến hành lập 5 ô dạng bản, mỗi
ô có diện tích S= 25m2 (5x5m), 4 ô ở bốn góc và 1ô ở giữa của ô tiêu chuẩn.
2.4.4. Phương pháp xử lý số liệu
- Hiệu quả về kinh tế, xã hội và môi trường
để đánh giá các tiềm năng thực tế trong phát triển kinh tế-xã hội.
2.4.3. Sử dụng phương pháp phúc tra thực địa tài nguyên rừng;
- Thu thập số liệu về hiện trạng tài nguyên rừng và bản đồ hiện trạng tài
nguyên rừng ở các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp sản xuất lâm nghiệp trong
huyện và các xã có đất lâm nghiệp của huyện Tam Đảo - tỉnh Vĩnh Phúc.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
2.4.4.3. Đánh giá hiệu quả kinh tế
Để đánh giá hiệu quả kinh tế của phương án quy hoạch chúng tôi sử dụng
phương pháp động.
Coi các yếu tố về chi phí và kết quả mối quan hệ động với mục tiêu đầu
tư, thời gian và giá trị đồng tiền
Các chỉ tiêu kinh tế được tập hợp và tính toán bằng các hàm: NPV, BCR,
BPV, CPV, IRR trong chương trình phần mềm Excel.
Các tiêu chuẩn:
- Giá trị hiện tại thuần tuý NPV: NPV là hiệu số giữa giá trị thu nhập và
chi phí thực hiện các hoạt động sản xuất trong các mô hình khi đã tính chiết
khấu để quy về thời điểm hiện tại.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
29
Bt Ct
n
NPV dùng để đánh giá hiệu quả kinh tế của các mô hình kinh tế hay các
phương thức canh tác, NPV càng lớn thì hiệu quả càng cao.
- Phía Bắc giáp tỉnh Thái Nguyên và tỉnh Tuyên Quang.
- Tỷ lệ thu hồi nội bộ IRR: IRR là chỉ tiêu đánh giá khả năng thu hồi vốn
đầu tư có kể đến yếu tố thời gian thông qua tính chiết khấu.
- Phía Nam giáp huyện Tam Dương và huyện Bình Xuyên (Vĩnh Phúc).
IRR chính là tỷ lệ chiết khấu khi tỷ lệ này làm cho NPV=0, tức là khi:
Bt Ct
= 0 thì i = IRR
t
t 0 (1 i )
n
- Tỷ lệ thu nhập so với chi phí BCR
BCR sẽ là một hệ số sinh lãi thực tế, phản ánh chất lượng đầu tư và cho
biết mức thu nhập trên một đơn vị chi phí sản xuất.
n
BCR =
Bt
(1 i)
i 1
n
BCR: là tỷ suất thu nhập và chi phí (đồng/đồng)
Địa hình huyện Tam Đảo tương đối đa dạng, phức tạp, có vùng miền núi
và núi cao, có vùng đồi gò, có vùng đất bãi ven sông. Mỗi vùng đều có những
điều kiện tự nhiên đặc thù với những thuận lợi, khó khăn khác nhau trong phát
triển sản xuất nông, lâm nghiệp.
BPV: là giá trị hiện tại của thu nhập (đồng)
CPV: là giá trị hiện tại của chi phí (đồng)
N: là số đại lượng tham gia vào tính toán
Nếu mô hình nào hoặc phương thức canh tác nào có BCR > 1 thì có hiệu
quả kinh tế. BCR càng lớn thì hiệu quả kinh tế càng cao. Ngược lại BCR < 1 thì
kinh doanh không có hiệu quả.
Vùng miền núi và núi cao với diện tích khoảng 11.000 ha, chủ yếu do
Vườn Quốc gia Tam Đảo và Lâm trường Tam Đảo quản lý. Diện tích còn lại
bao gồm các vùng núi thấp, vùng bãi do các xã quản lý và sử dụng.
Với đặc điểm địa hình như trên tạo điều kiện cho Tam Đảo phát triển
kinh tế nông, lâm nghiệp hàng hoá phong phú và đa dạng.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
chất có kết cấu hạt thô. Diện tích 5.539 ha, chiếm 23,49% tổng diện tích tự
nhiên. Độ dày tầng đất 60cm - 100cm, thành phần cơ giới nhẹ, kết cấu rời rạc dễ
bị xói mòn rửa trôi.
- Nhóm đất vùng đồi và núi thấp phát triển trên nhóm đá hỗn hợp diện tích
6.171,43 ha, chiếm 26,17% tổng diện tích tự nhiên. Đất phát triển trên từ loại đá sa
thạch, cuội kết..., độ dày tầng đất từ 70cm -110cm, thành phần cơ giới trung bình.
- Nhóm đất thung lũng, bồn địa và phù sa cổ, đất ven sông suối và đồng bằng
diện tích 4.747,67 ha, chiếm 20,14% tổng diện tích tự nhiên. Đất được hình thành do
sản phẩm bồi tích từ các sườn đồi, từ các sông suối, tầng đất dày, giàu dinh dưỡng
thuận tiện cho phát triển trồng cây lương thực, cây công nghiệp.
3.1.4. Khí hậu
Do địa hình tương đối phức tạp nên khí hậu thời tiết ở Tam Đảo được
chia thành 2 tiểu vùng: Tiểu vùng khí hậu Tam Đảo núi quanh năm mát mẻ, rất
thuận tiện cho việc phát triển kinh tế du lịch và hình thành khu nghỉ mát; Tiểu
vùng khí hậu vùng thấp mang các đặc điểm khí hậu gió mùa nội chí tuyến vùng
Đông Bắc Bắc bộ.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
- Lượng mưa trung bình hàng năm khá cao từ 2.000-2.570 mm. Mưa
thường tập trung vào các tháng 6,7,8,9. Trong các tháng này thường tập trung
các trận mưa lớn gây nên xói mòn, rửa trôi đất ở những khu vực đồi núi dốc,
đặc biệt là những nơi đồi núi trơ trọc, độ che phủ của rừng thấp.
- Độ ẩm tương đối trung bình 85-86 %. Vùng núi cao quanh năm có
sương mù tạo nên cảnh quan rất đẹp.
- Hướng gió chủ đạo: Mùa hè là hướng Đông Nam xuất hiện từ tháng 49, mùa Đông là hướng Đông Bắc xuất hiện từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau.
Nhìn chung, khí hậu của huyện Tam Đảo tương đối thuận lợi cho phát
triển nông nghiệp, đặc biệt vùng núi Tam Đảo có chế độ khí hậu lý tưởng cho
34
Bảng 3. 1. Hiện trạng cơ cấu sử dụng đất huyện Tam Đảo năm 2007
Sơn. Đây là loại rừng đã bị khai thác nhiều lần với cường độ cao, làm cho tầng
tán bị phá vỡ. Tầng chính chỉ còn những cây chất lượng kém và những cây ít có
giá trị kinh tế. Tổ thành gồm các loài cây gỗ thuộc các họ: họ Giẻ (Fagaceae), họ
Trinh nữ (Mimosaceae), họ Long Não (Lauraceae), họ Trám (Burseraceae), họ
Xoan (Meliaceae), họ Dung (Symplokcaceae), họ Sau Sau (Altingiaceae), họ Ba
mảnh vỏ (Euphobi).
Loại đất
Diện tích (ha)
Tổng diện tích tự nhiên
1. Đất sản xuất nông nghiệp
2. Đất lâm nghiệp
3. Đất phi nông nghiệp
4. Đất chưa sử dụng
Cơ cấu (%)
23.573,10
100,00
4.747,67
rừng, phân bố chủ yếu ở VQG Tam Đảo. Đây là loại rừng ít bị tác động và nằm
trong vùng bảo vệ nghiêm ngặt của vườn, tổ thành của rừng bao gồm rất nhiều
loài cây gỗ có giá trị như: Lim, Lát, Dẻ, Chò, Gội.
Rừng trung bình (IIIA2): Diện tích 4.493,99 ha, chiếm 37,29% diện tích đất có
rừng, phân bố chủ yếu ở các đỉnh dông, ven khe, nơi dốc hiểm vùng núi cao, xa khó
tiếp cận trên địa bàn các xã Đại Đình, Đạo Trù, Minh Quang của huyện Tam Đảo.
Đây là loại rừng ít bị tác động hoặc đã bị tác động nhưng đã có thời gian phục hồi. Tổ
thành gồm các loại cây gỗ thuộc các họ điển hình như: Họ Dẻ (Fagaceae), họ Long
Não (Lauraceae), họ Trám (Burseraceae), họ Xoan (Meliaceae).
Rừng nghèo (IIIA1): Diện tích 2.047,49 ha, chiếm 16,99% diện tích đất
có rừng. Phân bố ở vùng núi cao, xa trên địa bàn các xã trong huyện huyện
nhưng tập trung nhiều ở xã Đạo Trù, Minh Quang, Đại Đình, Tam Quan, Hồ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Rừng non phục hồi (IIA, IIB): Diện tích 241,08 ha, chiếm 0,2% diện tích
đất có rừng. Phân bố ở sườn đồi, chân núi. Tổ thành rừng gồm các loài cây gỗ
thuộc các họ: Họ Dẻ (Fagaceae), họ Đay (Tiliaceae), họ Long Lão (Lauraceae),
họ Trám (Burseraceae), Họ Xoan (Meliaceae), họ Sau sau (Altingiaceae), họ Ba
mảnh vỏ (Fabaceae), họ Trinh nữ (Mimosaceae). Rừng non phục hồi có ở tất cả
các xã có rừng trong huyện nhưng tập trung nhiều ở các xã Hồ Sơn, Đại Đình
Đạo Trù, Minh Quang,...
Rừng tre nứa: Diện tích 1,9 ha, chiếm không đáng kể so với diện tích đất có
rừng. Rừng được hình thành từ vầu, nứa tép hoặc vầu thoái hoá, phân bố ở thị
trấn Tam Đảo.
+ Diện tích rừng trồng: 5.042,16 ha, chiếm 41,85 % diện tích đất có
rừng, gồm các quần thụ rừng đồng tuổi (cấp tuổi I, II), rừng trồng thường tập
trung ở những khu vực gần đường giao thông, gần khu dân cư, dễ tiếp cận.
Các loài cây trồng chủ yếu là thông, keo, mỡ, muồng, lim xẹt, bạch đàn . Loại
Trù và Tam Quan.
- Động vật rừng : Khu hệ thú ở VQG Tam Đảo đã bị suy thoái do sự khai
thác quá mức trong nhiều năm qua và sự suy thoái thảm thực vật rừng. Tuy
nhiên, theo báo cáo kết quả điều tra nhanh của Cục Kiểm lâm tại VQG Tam Đảo
cho thấy hiện có 77 loài thú được ghi nhận đang tồn tại ở đây như là các loài :
khỉ, Cu li, voọc, cầy, chồn, triết, lửng lợn, lợn rừng, nai, hoẵng, cheo cheo, sóc,
dúi, chuột,…Như vậy, có thể nói động vật rừng ở đây còn khá phong phú và đa
dạng. Mặc dù, quần thể của các loài thú lớn chỉ còn với số lượng ít, nhưng VQG
có thể vẫn còn lưu giữ được nhiều loài thú ăn thịt nhỏ và các loài thú nhỏ khác.
Bảng 3.2. Hiện trạng rừng và đất lâm nghiệp huyện Tam Đảo
ĐVT: ha
Tổng
diện tích
TT
Tam Đảo
Đại
Đình
Bồ Lý
Hồ Sơn
Hợp
Châu
Minh
7450.84
I
Đất lâm nghiệp
14822.21
155.66
2227.70
277.80
1061.90
165.85
3414.70
1511.50
194.50
5784.20
1
Rừng tự nhiên
Loại đất loại rừng
TT
1.1
a
Rừng giàu
b
Rừng trung bình
4493.99
89.40
862.60
63.10
516.00
450.49
2512.40
c
1.2
Rừng hỗn giao
a
Gỗ-tre, nứa
b
Lá rộng-lá kim
1.3
Rừng lá kim
1.4
Rừng tre, nứa
1.5
Rừng núi đá có cây
222.20
222.20
241.08
119.50
461.70
2.2
R. chưa có trữ lượng
2495.42
7.50
329.49
156.30
102.50
2.3
Rừng đặc sản
2.4
Tre
Đất chưa có rừng
Tam Đảo có nhiều cảnh quan thiên nhiên đẹp, có thế mạnh trong phát
triển du lịch và xây dựng các khu nghỉ mát cuối tuần như:
1269.40
51.10
396.90
378.00
90.12
548.60
41.00
1051.90
46.70
42.53
717.50
69.70
27.35
20.60
112.92
46.40
61.85
- Ngoài ra, trong vùng còn có các khu rừng tự nhiên rất thuận lợi cho
phát triển du lịch sinh thái.
Khu di tích danh thắng Tây Thiên đã được xếp hạng, hàng năm thu hút
hàng chục vạn người đến tham quan. Nếu được đầu tư xây dựng cơ sở vật chất
để hình thành Tour du lịch khép kín: Tây Thiên - Tam Đảo sẽ là nguồn thu
chính, là động lực mạnh mẽ nhất để thúc đẩy phát triển kinh tế và chuyển dịch
cơ cấu kinh tế của huyện theo hướng nâng cao tỷ trọng du lịch, dịch vụ,
thương mại và công nghiệp, giảm dần tỷ trọng nông nghiệp trong cơ cấu kinh
tế chung toàn huyện.
3.1
Ia
768.17
107.60
118.68
184.30
3.2. Điều kiện kinh tế, xã hội
3.2
210.30
3.4
Đất khác
II
Các loại đất khác
1561.95
1297.50
8750.89
59.19
1223.35
656.16
732.06
846.43
736.01
1666.64
Tốc độ gia tăng dân số bình quân là 1,72 %/năm. Đây là tốc độ phát triển
dân số khá cao so với các địa phương khác trong tỉnh và trong vùng Đồng bằng
sông Hồng.
Trên địa bàn huyện có 2 dân tộc chiếm phần lớn dân số là dân tộc Kinh và
dân tộc Sán Dìu, các dân tộc khác (dân tộc Lào, dân tộc Mường, dân tộc Hoa) có
ít. Phân theo cơ cấu dân tộc: Dân tộc Kinh chiếm 57,78%, dân tộc Sán Dìu
chiếm gần 42,07%, các dân tộc khác chỉ chiếm 0,14%. Dân số đang tập trung
chủ yếu trong lĩnh vực nông nghiệp.
Tổng nguồn lao động của huyện năm 2004 có 40.255 người, trong đó có
30.573 trong độ tuổi và 9.682 người ngoài độ tuổi có tham gia lao động. Năm
2007 tổng nguồn lao động có 44.023 người, trong đó có 33.586 lao động trong
độ tuổi và 10.437 người ngoài tuổi có tham gia lao động. Tốc độ gia tăng nguồn
lao động là 3,03%, cao hơn tốc độ gia tăng dân số.
Lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế năm 2004 là 37.390
người, năm 2007 là 39.830 người. Số lao động có nhu cầu việc làm nhưng thiếu
việc làm năm 2004 là 2.685 người, năm 2007 là 4.193 người. Việc làm cho
người lao động trong huyện có xu hướng ngày càng bức xúc hơn.
Trình độ lao động nhìn chung còn thấp, chưa đáp ứng được các yêu cầu
phát triển kinh tế-xã hội trong bối cảnh thực hiện sự nghiệp công nghiệp hoá,
hiện đại hoá và hội nhập kinh tế thế giới.
* Dự báo tỷ lệ tăng dân số cơ học giai đoạn 2005-2015 khoảng 0,5%/năm
và giai đoạn 2016-2020 là 0,3%/năm, phấn đấu giảm tỷ lệ tăng dân số tự nhiên
đến năm 2010 đạt 1,65%, năm 2015 đạt 1,6% và năm 2020 đạt 1,2% thì dân số
và lao động của huyện Tam Đảo trong giai đoạn 2005-2020 như sau:
Bảng 3.3. Dự báo dân số và lao động
Năm
Dân số TB
(ngƣời)
Năm 2020
91348
1,20
44340
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
3.2.2. Cơ sở hạ tầng
3.2.2.1. Hệ thống giao thông
Đến nay, tổng chiều dài hệ thống giao thông trong huyện (không kể hệ
thống đường liên thôn và đường làng, ngõ xóm) là 151,45km trong đó: Quốc lộ
có 16,4 km, tỉnh lộ 20,75 km, còn lại là đường liên huyện và liên xã, Trong
tổng số trên đây, đã rải nhựa và đổ bê tông được 42,65 km.
Bảng 3.4. Thực trạng hệ thống giao thông
Loại đường
TT
Chiều dài (km)
1
Quốc lộ
Quốc lộ 2B nối liền thị xã Vĩnh Yên với khu nghỉ mát Tam Đảo đã
được rải nhựa nhưng mặt đường còn hẹp, nên đang được cải tạo, nâng cấp để
khai thác tiềm năng du lịch của vùng Tam Đảo núi. Các tuyến tỉnh lộ 314 và
310 góp phần tạo ra mạng lưới giao thông liên hoàn nhưng chất lượng mặt
đường và nền đường còn thấp, chưa được rải nhựa nên đi lại còn khó khăn,
cần phải được cải tạo và nâng cấp trong thời gian tới. Các tuyến đường liên
xã hầu hết chưa được rải nhựa hoặc đổ bê tông nên vào mùa mưa đường lầy
lội, đi lại không thuận tiện.
Nhìn chung, hệ thống giao thông của huyện cần phải đầu tư mở rộng và
nâng cấp mặt đường thì mới đáp ứng được các yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội
trong giai đoạn tới.
3.2.2.2. Thuỷ lợi
Hệ thống thuỷ lợi những năm gần đây đã được nhà nước quan tâm đầu tư
hơn, song vẫn chưa đáp ứng được các yêu cầu của sản xuất nông nghiệp. Toàn
huyện có 29 hồ chứa nước lớn nhỏ, trong đó có các hồ lớn như hồ Xạ Hương,
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
39
40
Vĩnh Thành, Bản Long, Làng Hà. Việc đầu tư xây dựng các công trình thuỷ lợi
đã có tác dụng rất lớn đối với sản xuất nông nghiệp. Có những địa phương do
nguồn nước tưới thuận lợi, nông dân có thể sản xuất 3 vụ lúa/năm.
Về cơ sở vật chất, Trung tâm y tế huyện chưa có gì đáng kể. Các trạm y tế
xã, thị trấn còn lại vẫn sử dụng toàn bộ cơ sở vật chất được đầu tư từ khi còn
sinh đi học được đến trường khá cao (99%).
- Hệ thống quản lý lâm nghiệp:
Cấp tỉnh: Sở Nông nghiệp & PTNT, Sở Tài nguyên & môi trường, Chi
cục Kiểm lâm.
Cấp huyện: Phòng Kinh tế (Phòng Nông nghiệp & PTNT), Phòng Tài
nguyên & môi trường, Hạt Kiểm lâm, Trung tâm Lâm nghiệp Tam Đảo (BQL
dự án 661 cơ sở rừng phòng hộ Tam Đảo).
Cấp xã: Ban lâm nghiệp xã hoặc cán bộ chuyên trách.
Sơ đồ 3.1: Hệ thống tổ chức quản lý tài nguyên rừng huyện Tam Đảo
Sở NN & PTNT
Chi cục KL
Những năm gần đây, hệ thống trường học đã được quan tâm đầu tư hơn
song vẫn còn khó khăn nhiều mặt. Một số xã còn rất khó khăn về nhà ở cho
giáo viên như các xã Đạo Trù, Bồ Lý, Yên Dương.
Cơ sở vật chất của các trường học hiện nay còn rất nghèo, chưa đáp ứng
tốt nhu cầu dạy và học. Đặc biệt là hệ thống trường mẫu giáo mầm non còn tạm
bợ, chất lượng đội ngũ giáo viên mẫu giáo chưa cao.
Loại hình giáo dục không chính quy: Hiện nay huyện chưa có Trung tâm
giáo dục thường xuyên nhưng hiện có hàng trăm học viên đang theo học các
lớp bổ túc văn hoá ở các huyện, thị lân cận. Đối với ngành giáo dục-đào tạo
hiện có rất nhiều cán bộ, giáo viên đang theo học tại chức tại Trung tâm giáo
dục thường xuyên tỉnh Vĩnh Phúc.
3.2.3.3 Y tế:
UBND huyện
Phòng
Chỉ đạo gián tiếp
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
41
42
- Hệ thống tổ chức sản xuất kinh doanh:
Trên địa bàn huyện trước đây có một Lâm trường do tỉnh quản lý với trên
200 CBCNVC, nay chuyển đổi thành Trung tâm Lâm nghiệp Tam Đảo trực
thuộc Sở Nông nghiệp & PTNT thực hiện chức năng vừa sản xuất kinh doanh vừa
nghiên cứu ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất và có một đơn vị Trung
ương đóng trên địa bàn do Bộ Nông nghiệp & PTNT quản lý (VQG Tam Đảo).
3.3.2. Hiện trạng sử dụng đất đai của huyện Tam Đảo
Tam Đảo là huyện miền núi của tỉnh Vĩnh Phúc, có các tuyến đường
giao thông đường bộ thuận tiện nối liền với các huyện, thành phố trong tỉnh.
Đồng thời là huyện có quy mô diện tích và dân số tương đối lớn trong tỉnh, có
lực lượng lao động dồi dào, có điều kiện khả năng để phát triển một nền kinh tế
tương đối toàn diện: nông nghiệp, lâm nghiệp, công nghiệp và dịch vụ du lịch,
trong đó nông lâm nghiệp và du lịch là chủ yếu. Đất đai là thế mạnh và là
nguồn tài nguyên có ý nghĩa to lớn trong chiến lược phát triển kinh tế-xã hội
của huyện. Trong những năm gần đây, cùng với các địa phương khác trong
tỉnh, công tác quản lý và sử dụng đất đai trên địa bàn huyện đã được các cấp
chính quyền quan tâm hơn. Tuy nhiên, việc quản lý sử dụng đất còn chưa thực
sự đi vào nề nếp.
Tính đến ngày 31/12/2007 đất đai của huyện đã được sử dụng cho sản
xuất nông lâm nghiệp chiếm khoảng 83,02%, diện tích đất chưa sử dụng chiếm
I
II
1
1.1
a
b
1.2
a
b
c
2
2.1
a
b
2.2
3
3.1
a
b
3.2
a
b
c
B
C
Loại đất, loại rừng
Diện tích tự nhiên
Đất nông nghiệp
Đất sản xuất nông nghiệp
12100
12110
12111
12112
12120
12121
12122
12123
12200
12210
12211
12212
12220
12300
12310
12311
12312
12320
12321
12322
12323
00002
00003
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Diện tích tự
nhiên (ha)
23573.10
19569.88
20.14%
62.88%
52.69%
42.82%
29.04%
13.78%
9.88%
1.78%
5.78%
2.31%
2.74%
2.40%
0.61%
1.79%
0.34%
7.44%
5.90%
0.07%
5.82%
1.54%
1.13%
0.35%
0.07%
16.47%
0.51%
43
nghiệp chưa được giao hết cho người dân, diện tích rừng chưa có chủ còn nhiều.
Do vậy, trong thời gian tới việc giao đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất cần được tiếp tục tiến hành để rừng thực sự có chủ, từ đó chủ rừng sẽ yên
tâm đầu tư phát triển sản xuất lâm nghiệp.
Theo công bố của Chi cục Kiểm lâm tỉnh Vĩnh Phúc thì diện tích đất lâm
nghiệp theo chủ quản lý đến 31/12/2007 được thể hiện ở bảng 3.6:
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Bảng 3.6. Hiện trạng sử dụng đất lâm nghiệp theo đơn vị chủ quản lý huyện Tam Đảo
TT
I
1
1.1
a
b
c
d
1.2
a
b
1.3
1.4
1.5
2
2.1
2.2
6845.38
222.20
4404.59
1994.99
223.60
12421.50
12421.50
6845.38
6845.38
222.20
4404.59
1994.99
223.60
647.06
647.06
143.80
141.90
Hộ gia
đình
Diện tích tự nhiên
Đất lâm nghiệp
Rừng tự nhiên
Rừng gỗ lá rộng
Rừng giầu
Rừng trung bình
Rừng nghèo
1230
23573.10
14822.21
7006.66
7004.76
222.20
4493.99
2047.49
241.08
5042.16
2282.06
2495.42
264.68
3248.00
1343.93
1879.39
24.68
3248.00
1343.93
1879.39
24.68
421.95
110.42
311.53
1362.60
545.12
81.31
81.31
79.25
79.25
1.90
491.40
491.40
89.40
52.50
155.66
155.66
143.80
141.90
Tổng
DN nhà
nước
Hộ gia
đình
9.80
2.30
7.50
1372.21
827.71
304.50
240.00
323.90
147.65
149.34
26.91
762.78
493.89
63.08
205.81
285.53
186.17
92.08
7.28
2.06
2.06
363.96
266.46
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Rừng sản xuất
UBND
xã
410.57
3953.2
45
46
* Đối với rừng tự nhiên: Trên địa bàn huyện diện tích rừng tự nhiên còn
7.006,66 ha chiếm 47,27% diện tích đất lâm nghiệp hiện có. Tuy nhiên, phần lớn
rừng gỗ lá rộng có trữ lượng thấp, chủ yếu là rừng trung bình (4.493,99ha), rừng
nghèo (2.047,49ha), rừng giàu (222,2ha), rừng phục hồi (241,08ha), rừng trenứa (1,9ha). Trong đó:
Rừng tự nhiên là rừng phòng hộ 143,8ha toàn bộ diện tích này được quản
lý bởi UBND các xã. Trong đó: Rừng nghèo (52,5ha), rừng trung bình (89,4ha)
và rừng tre - nứa là 1,9ha.
Rừng tự nhiên là rừng đặc dụng 6.845,38ha, toàn bộ diện tích này do
VQG Tam Đảo quản lý.
Rừng sản xuất là 17,48ha, diện tích này chủ yếu do hộ gia đình quản lý
(16,48ha), và doanh nghiệp nhà nước (1,0 ha).
Trong những năm qua nhờ có các chương trình, dự án phát triển lâm nghiệp
của nhà nước cùng với kế hoạch bảo vệ và phát triển vốn rừng của chính quyền địa
phương cũng như ý thức của cộng đồng người dân địa phương về môi trường ngày
càng được nâng cao nên độ che phủ của rừng trên địa bàn huyện đạt 51,11 %.
Trong đó, thị trấn Tam Đảo có độ che phủ đạt cao nhất trong huyện (71,5%); Đạo
Trù (62,33%), thấp nhất xã Hợp Châu (11,8%), Yên Dương (14,25%).
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
47
48
Chƣơng 4
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
- Quyết định số 106/2006/QĐ-BNN ngày 27/11/2006 của Bộ Nông
nghiệp và phát triển nông thôn về việc ban hành bản hướng dẫn rừng cộng đồng
dân cư;
4.1. Cơ sở quy hoạch lâm nghiệp huyện Tam Đảo
4.1.1. Cơ sở pháp lý
- Chiến lược phát triển lâm nghiệp quốc gia giai đoạn 2006-2020;
06/12/2006 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hướng dẫn thực hiện
quyết định trên;
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
- Quyết định số 678/QĐ-CT ngày 2/3/2007 của Chủ tịch UBND tỉnh về
việc phê duyệt kết quả rà soát, quy hoạch lại 3 loại rừng tỉnh Vĩnh Phúc;
- Nghị quyết đại hội Đảng bộ huyện Tam Đảo - tỉnh Vĩnh Phúc lần thứ 14
nhiệm kỳ 2005-2010;
- Quy hoạch tổng thể kinh tế-xã hội huyện Tam Đảo đến năm 2010 và
những định hướng phát triển đến năm 2020.
- Báo cáo quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế-xã hội huyện Tam Đảo
đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020.
4.1.2. Điều kiện cơ bản
4.1.2.1. Những thuận lợi và khó khăn
* Thuận lợi
- Nằm cách Thị xã Vĩnh Yên 10 km, cách Thành phố Hà Nội khoảng 65
km, có quốc lộ 2B nối liền Thị xã Vĩnh Yên với khu nghỉ mát Tam Đảo, trong
vùng lại có nhiều di tích lịch sử, văn hoá, các danh lam, thắng cảnh, Tam Đảo có
vị trí địa lý rất thuận lợi cho phát triển kinh tế và văn hoá, xã hội.
- Tam Đảo mang các đặc điểm khí hậu thời tiết gió mùa nội chí tuyến,
thuận lợi cho phát triển nông nghiệp đa dạng hoá.
- Tam Đảo có đội ngũ lao động dồi dào, ham học hỏi là thuận lợi lớn
trong việc đưa nhanh các tiến bộ khoa học, công nghệ vào sản xuất.
- Hệ thống chính trị vững mạnh, an ninh trật tự và an toàn xã hội được giữ
vững. Đội ngũ cán bộ lãnh đạo xã, HTX dịch vụ nông nghiệp, nhiệt tình với sự
nghiệp xây dựng quê hương. Nhân dân chấp hành tốt pháp luật, có tinh thần
khăn về hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật sản xuất và thương mại đã làm hạn
chế đáng kể đến việc khai thác các tiềm năng kinh tế tại địa bàn.
- Chất lượng nguồn nhân lực thấp: Trình độ dân trí chưa cao, trình độ
chuyên môn của người lao động còn thấp, chủ yếu chưa qua đào tạo là một cản
trở lớn trong tiến trình phát triển kinh tế-xã hội trong bối cảnh hội nhập kinh tế
thế giới và khu vực.
- Khả năng đầu tư thấp: Do thu nhập và đời sống nhân dân còn thấp nên
khả năng thu hút đầu tư tại chỗ để khai thác các tiềm năng kinh tế trên địa bàn
còn hạn chế. Trong giai đoạn tới, cần phải có các biện pháp hữu hiệu thu hút
thêm đầu tư từ bên ngoài thì mới có thể tạo ra những bước phát triển đột biến
về kinh tế-xã hội của địa bàn.
4.1.2.2. Thực trạng kinh tế- xã hội huyện Tam Đảo
- Nền kinh tế xã hội của huyện trong những năm qua đã có những chuyển
biến đáng kể, tốc độ tăng trưởng kinh tế ngày càng cao (16%/năm). Song, so với
tiềm năng và yêu cầu phát triển thì tốc độ tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu
kinh tế còn chậm. GDP bình quân đầu người đạt trên 4 triệu đồng/người/năm
- Kinh tế chủ yếu là nông, lâm nghiệp, sản xuất lâm nghiệp quy ra thóc
đạt thấp 314,25/kg/người/năm (năm 2007). Diện tích và sản lượng cây rau màu
ngày càng được mở rộng và phát triển (đặc biệt là rau su su). Sản phẩm chăn
nuôi kém đa dạng, chủ yếu tập chung nuôi gà công nghiệp; Nông lâm nghiệp
chưa tạo được nguồn nguyên liệu có quy mô và chất lượng ổn định cho phát
triển công nghiệp.
- Cơ sở vật chất hạ tầng còn nghèo nàn, yếu kém, chưa đồng bộ với yêu
cầu phát triển kinh tế xã hội thời kỳ hội nhập WTO. Trên địa bàn huyện có
lượng tài nguyên khoáng sản không lớn song việc quản lý khai thác và tiêu thụ
còn chưa có quy hoạch cụ thể nên hiệu quả mang lại chưa cao.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
dân thì hàng loạt các công trình phục vụ đời sống văn hoá, giáo dục, thể thao,
giải trí, nghỉ ngơi,… cũng phải được cải tạo và mở rộng kết hợp với xây mới.
Đây là một thách thức đòi hỏi cần phải có sự quy hoạch hợp lý về không gian và
thời gian.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên