i
LỜI CẢM ƠN
Sau 2 năm phấn đấu vượt qua nhiều khó khăn để học tập, với sự ủng hộ,
động viên của gia đình, sự quan tâm tạo điều kiện thuận lợi của cơ quan nơi tôi
công tác, của nhà trường và sự dạy dỗ tận tình của quý thầy cô giáo cùng với sự
nỗ lực của bản thân, tôi đã hoàn thành chương trình đào tạo cao học Kinh tế
nông nghiệp và hoàn thành luận văn này.
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tôi đã nhận được sự hướng dẫn và giúp
đỡ tận tình, đầy tinh thần trách nhiệm của người hướng dẫn khoa học, thầy giáo
tiến sỹ Trần Hữu Dào, cũng như sự giúp đỡ tạo điều kiện thuận lợi của các cơ
quan, ban ngành đặc biệt là Huyện ủy, UBND huyện Cẩm Khê, Ban Tổ chức,
Văn phòng huyện ủy, Phòng Nội vụ, Phòng NN&PTNT, chi cục Thống kê, Trạm
khuyến nông, Trạm thú y và một số Phòng, Ban khác của huyện Cẩm Khê, tỉnh
Phú Thọ cùng bạn bè, đồng nghiệp, gia đình đã tận tình giúp đỡ động viên tôi
hoàn thành đề tài. Nhân đây, bằng tất cả tấm lòng chân thành và kính trọng của
mình, tôi xin được trân trọng cảm ơn các thầy cô giáo, nhà trường, quý cơ quan,
quý anh chị, các đồng nghiệp và gia đình đã dạy dỗ, hướng dẫn, giúp đỡ, tạo điều
kiện và động viên để tôi hoàn thành chương trình của khóa học này.
Tôi xin cam đoan luận văn này là kết quả của quá trình nghiên cứu khoa học
thật sự nghiêm túc của bản thân tôi, những số liệu báo cáo trong luận văn này là số
liệu điều tra thực tế và trung thực, các thông tin được trích dẫn rõ ràng
Hà Nội, ngày tháng năm 2014
Tác giả
Trần Xuân Sơn
ii
MỤC LỤC
Trang
Chương 2. ĐẶC ĐIỂM HUYỆN CẨM KHÊ VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU ..................................................................................................................... 32
2.1. Đặc điểm của huyện Cẩm Khê .............................................................. 32
2.1.1. Đặc điểm tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên ...................................... 32
2.1.2. Đặc điểm kinh tế - xã hội ................................................................ 36
2.1.3. Những thuận lợi và khó khăn trong phát triển KT - XH của huyện .... 42
2.2. Phương pháp nghiên cứu .......................................................................... 44
2.2.1. Phương pháp tiếp cận ........................................................................ 44
2.2.2. Phương pháp thu thập số liệu ............................................................ 46
2.2.3. Phương pháp phân tích số liệu .......................................................... 47
2.2.4. Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu ...................................................... 48
Chương 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN ................................ 50
3.1. Thực trạng chất lượng của đội ngũ cán bộ cấp xã làm công tác nông
nghiệp huyện Cẩm Khê .................................................................................... 50
3.1.1. Đặc điểm đội ngũ cán bộ cấp xã làm công tác nông nghiệp huyện
Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ ................................................................................ 50
3.1.2. Kiến thức, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ ...................................... 52
3.1.3. Kỹ năng hoạt động nông nghiệp ...................................................... 60
3.1.4 . Kết quả hoạt động.............................................................................. 70
3.1.5. Phẩm chất đạo đức ............................................................................. 81
3.1.6. Đánh giá của nông dân về chất lượng đội ngũ cán bộ cấp xã làm
công tác nông nghiệp ................................................................................... 85
3.1.7. Đánh giá của cán bộ, công chức cấp huyện, xã về chất lượng
đội ngũ cán bộ cấp xã làm công tác nông nghiệp ......................................... 86
3.1.8. Đánh giá chung về chất lượng đội ngũ cán bộ cấp xã làm công tác
nông nghiệp huyện Cẩm Khê ....................................................................... 87
iv
1
CBNLNTS
Cán bộ nông lâm nghiệp,thủy sản
2
CBCNTY
Cán bộ chăn nuôi, thú ý
3
CNXH
Chủ nghĩa xã hội
4
CNCS
Chủ nghĩa Cộng sản
5
CBNN
Cán bộ nông nghiệp
11
KHKT
Khoa học kỹ thuật
12
KT-XH
Kinh tế, xã hội
13
NN&PTNT
Nông nghiệp và phát triển nông thôn
14
QL
Quốc lộ
15
PTNT
Phát triển nông thôn
2.1. Các loại đất huyện Cẩm Khê
39
2.2. Tình hình đất đai và sử dụng đất của huyện Cẩm Khê năm 2013
41
2.3. Một số chỉ tiêu kinh tế tổng hợp
44
2.4
Dân số và lao động huyện Cẩm Khê
3.1. Số lượng cán bộ làm công tác nông nghiệp huyện Cẩm Khê
2011- 2013
3.2. Giới và độ tuổi của cán bộ cấp xã làm công tác nông nghiệp
huyện Cẩm Khê
3.3. Thực trạng trình độ cán bộ cấp xã làm công tác nông nghiệp
huyện Cẩm Khê
3.4. Kinh nghiệm hoạt động trong nông nghiệp của cán bộ cấp xã
làm công tác nông nghiệp
3.5. Đánh giá chất lượng cán bộ cấp xã làm công tác nông nghiệp
theo kiến thức và trình độ chuyên môn
3.6. Tình hình đào tạo các kỹ năng: Lập kế hoạch, thuyết trình, phân
tích, đánh giá của cán bộ cấp xã làm công tác nông nghiệp
3.7. Tỷ lệ cán bộ cấp xã làm công tác nông nghiệp phối hợp với các
bên liên đới trong hoạt động nông nghiệp
3.11. Các mức chất lượng tập huấn nông dân của cán bộ cấp xã làm
công tác nông nghiệp
3.12. Các mức chất lượng về khả năng truyền thông của cán bộ cấp
xã làm công tác nông nghiệp
3.13. Tỷ lệ cán bộ cấp xã làm công tác nông nghiệp tổ chức các hoạt
động tư vấn, dịch vụ cho nông dân
3.14. Các mức chất lượng tư vấn, dịch vụ của cán bộ cấp xã làm công
tác nông nghiệp
3.15. Mức độ hài lòng của cán bộ cấp xã làm công tác nông nghiệp
3.16. Đánh giá của người dân về cán bộ cấp xã làm công tác nông
nghiệp
3.17. Đánh giá của cán bộ công chức cấp huyện,xã về cán bộ cấp xã
làm công tác nông nghiệp.
84
87
88
90
92
95
96
viii
74
3.6. Cán bộ cấp xã làm công tác nông nghiệp tự đánh giá khả năng
thuyết trình
75
3.7. Tỷ lệ cán bộ cấp xã làm công tác nông nghiệp đã được đào tạo
kỹ năng viết tin bài và tham gia viết tin bài
78
3.8. So sánh giá yêu cầu và kỹ năng thực tế của cán bộ cấp xã làm
công tác nông nghiệp
86
3.9. Tỷ lệ cán bộ cấp xã làm công tác nông nghiệp tham gia cung
cấp thông tin thị trường, giá cả cho nông dân
93
3.10. Nguyên nhân làm cho cán bộ cấp xã làm công tác nông nghiệp
chưa bằng lòng với công việc
100
3.11. Trình độ chuyên môn, kỹ năng nghiệp vụ hạn chế kết quả công
việc
vực nông nghiệp nên nông nghiệp Việt Nam đóng vai trò đặc biệt quan trọng
trong đảm bảo an ninh lương thực, tạo điều kiện việc làm cho dân cư, là nhân
tố quyết định xóa đói giảm nghèo, góp phần phát triển kinh tế và ổn định
chính trị - xã hội của đất nước. Vì vậy ngành nông nghiệp được ưu tiên hàng
đầu trong các chính sách phát triển của quốc gia. Để ngành nông nghiệp phát
triển bền vững và tạo ra những bước tiến trong quá trình sản xuất đòi hỏi chất
lượng đội ngũ cán bộ làm công tác nông nghiệp từ trung ương đến địa phương
ngày càng phải được nâng cao, đảm bảo đủ yêu cầu để điều hành một ngành
nông nghiệp ngày càng phát triển và hiện đại hóa trong thị trường mở cửa
hiện nay.
Đặc biệt đối với cấp xã, thị trấn là cấp thấp nhất, gần dân nhất, giữ vị trí
hết sức quan trọng, là nền tảng của hệ thống chính trị, là cấp trực tiếp tổ chức,
vận động nhân dân thực hiện chủ trương đường lối của Đảng, chính sách và
pháp luật của Nhà nước, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, chăm lo đời
sống của nhân dân, là “ cầu nối” giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân. Vì vậy,
2
việc chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ cấp xã làm công tác nông nghiệp có đủ
phẩm chất, năng lực là nhiệm vụ thường xuyên, có ý nghĩa hết sức quan trọng
cả trước mắt cũng như lâu dài trong sự nghiệp phát triển ngành nông nghiệp
của đất nước.
Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác nông nghiệp để phát
triển nông nghiệp, nông thôn là một trong những chính sách vô cùng quan
trọng của Đảng và Nhà nước trong quá trình đổi mới nhằm nâng cao hiệu quả
của việc phát triển nông thôn ngày nay. Trong những năm vừa qua, đội ngũ
cán bộ nông nghiệp đã ngày càng khẳng định vị trí, vai trò của mình trong
cộng đồng, xã hội. Với nhiệm vụ truyền bá kiến thức về phát triển nông
nghiệp, nông thôn cho nông dân, tuyên truyền phổ biến những tiến bộ kỹ
trên địa bàn huyện chưa được tiến hành thường xuyên và chưa có giải pháp
đồng bộ. Nên việc nghiên cứu về nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ cấp xã
làm công tác nông nghiệp trên địa bàn huyện Cẩm Khê nhằm phát huy mọi
tiềm năng về trí tuệ, trình độ chuyên môn và nhiệt huyết nghề nghiệp của lực
lượng này để đưa sự nghiệp phát triển nông nghiệp nông thôn của tỉnh Phú Thọ
nói chung và của huyện Cẩm Khê nói riêng ngày càng phát triển đi lên là một
việc làm cần thiết. Xuất phát từ thực tế trên, tôi nghiên cứu đề tài: “Giải pháp
nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ cấp xã làm công tác nông nghiệp tại
huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ”.
2. Mục tiêu nghiên cứu
2.1. Mục tiêu chung
Trên cơ sở đánh giá thực tra ̣ng chất lượng đội ngũ cán bô ̣ nông nghiệp cấp
xã, thị trấn thuộc huyê ̣n Cẩm Khê, tỉnh Phú Tho ̣. Từ đó đề ra các giải pháp nhằ m
nâng cao chất lượng cho đội ngũ cán bô ̣ nông nghiệp cấp xã, thị trấn trong thời
gian tới.
2.2. Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hoá những vấ n đề lý luâ ̣n cơ bản và thực tiễn về đội ngũ cán
bộ cấp xã làm công tác nông nghiệp, chất lượng và nâng cao chất lượng của
đội ngũ cán bộ cấp xã làm công tác nông nghiệp.
4
- Đánh giá thực tra ̣ng chất lượng và chỉ ra được các yế u tố ảnh hưởng đến
chất lượng đội ngũ cán bộ cấp xã làm công tác nông nghiệp tại huyện Cẩm Khê,
tỉnh Phú Thọ.
- Đề xuấ t các giải pháp nhằ m nâng cao chất lượng cho đội ngũ cán bộ
cấp xã làm công tác nông nghiệp trên địa bàn huyê ̣n Cẩm Khê tin̉ h Phú Tho ̣
trong thời gian tới.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
bộ và công tác cán bộ cũng đều hết sức quan trọng. Từ chủ trương, đường lối
chính trị đến việc tổ chức thực hiện những nhiệm vụ công việc cụ thể, đội ngũ
cán bộ đều đóng vai trò quyết định. Chính đội ngũ cán bộ là người đưa đường
lối chính sách của Đảng đi vào cuộc sống, thực hiện thành công mục tiêu, lý
tưởng của Đảng thông qua hành động cách mạng của đông đảo quần chúng
nhân dân. Nhận thức được vấn đề này, các lãnh tụ của giai cấp vô sản thế giới
C.Mác Ph.Ăng ghen, V.I. Lênin đều đặt vai trò của đội ngũ cán bộ lên hàng
đầu.[4]
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác, "nếu không có những hoạt động
thực tiễn có mục đích thì những tư tưởng dù tốt đẹp bao nhiêu cũng chẳng
đem lại kết quả mong muốn nào cả", C.Mác khẳng định: "Muốn thực hiện tốt
những tư tưởng thì cần phải có những con người vận dụng một lực lượng thực
tiễn". Cũng theo chủ nghĩa Mác, vấn đề cán bộ hoàn toàn xuất phát từ thực
tiễn khách quan, do lịch sử đỏi hỏi. Mỗi thời kỳ phát triển của xã hội đều
phải có một đội ngũ cán bộ tương ứng, thích ứng với điều kiện khách quan
của xã hội.[3]
Bất kỳ giai cấp nào trong lịch sử, muốn trở thành giai cấp lãnh đạo xã
hội cũng phải đào tạo được đội ngũ cán bộ tiêu biểu cho giai cấp mình. Khi
nói về vai trò của cán bộ trong sự nghiệp cách mạng, V.I. Lê nin vị lãnh tụ vĩ
đại của giai cấp vô sản thế giới chỉ rõ: "Trong lịch sử chưa hề có một giai cấp
6
nào giành được quyền thống trị nếu nó không tạo ra được trong hàng ngũ của
mình lãnh tụ chính trị, những đại biểu tiên phong có đủ khả năng tổ chức và
lãnh đạo phong trào".[5]
Dựa vào tư tưởng của C.Mác và Ăng ghen, nghiên cứu phong trào công
nhân Nga, ngay từ khi chưa giành được chính quyền VI.Lênin cũng đã nhấn
mạnh đến việc đào tạo, rèn luyện những cán bộ hoạt động chuyên nghiệp để
thực tiễn để xây dựng những tiêu chuẩn cụ thể làm cơ sở cho Đảng ta lựa
chọn cán bộ. Những tư tưởng đó được Bác nêu ra trong nhiều tài liệu huấn
luyện cán bộ, như “phép dùng người của Khổng Minh”, “phép dùng binh của
Tôn Tử”, “sửa đổi lề lối làm việc” được Bác ứng dụng để giáo dục, rèn luyện
cán bộ. Như chúng ta đều biết, một trong những tư tưởng về công tác cán bộ
mà Bác nêu ra, đó là: "Cán bộ là cái gốc của mọi công việc và huấn luyện cán
bộ là công việc của Đảng". Từ đó Bác nêu ra những tiêu chuẩn cơ bản để lựa
chọn cán bộ là:[1]
+ Những người đã tỏ ra rất trung thành và hăng hái trong công việc,
trong lúc đấu tranh.
+ Những người liên lạc mật thiết với dân chúng. Như thế thì dân chúng
mới tin cậy cán bộ và nhận cán bộ đó là người lãnh đạo của họ.
+ Những người có thể phụ trách và giải quyết các vấn đề trong những
hoàn cảnh khó khăn. Ai sợ phụ trách và không có sáng kiến thì không phải là
người lãnh đạo. Người lãnh đạo đúng đắn cần phải: khi thất bại không hoang
mang, khi thắng lợi không kiêu ngạo khi thi hành thì kiên quyết, gan góc,
không sợ khó khăn.
+ Những người luôn giữ đúng kỷ luật.
Đó là những khuôn khổ để lựa chọn cán bộ, chúng ta phải theo cho đúng.
Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến đội ngũ cán bộ, động viên
cán bộ hăng hái thi đua thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị. Bác nói: "Cán bộ là
những người đem đường lối, chính sách của Đảng, của Chính phủ giải thích
8
cho dân hiểu rõ và thi hành, đồng thời đem tình hình của dân báo cáo cho
Đảng, cho Chính phủ hiểu rõ để đặt chính sách cho đúng. Vì vậy cán bộ là cái
gốc của mọi công việc". Khi xem xét mọi vấn đề liên quan đến cán bộ và
công tác cán bộ phải gắn với nhiệm vụ cách mạng. Điều đó khác với quan
mạnh: ""Đổi mới đội ngũ cán bộ có nghĩa là đánh giá lựa chọn, bố trí đi đôi
với đào tạo, bồi dưỡng để có được một đội ngũ cán bộ có đủ những tiêu chuẩn
về phẩm chất và năng lực lãnh đạo, quản lý ngang tầm nhiệm vụ ". [18]
Đại hội VII (năm 1991) xác định tiêu chuẩn cơ bản cho mọi cán bộ,
trong giai đoạn đổi mới là : "Có bản lĩnh chính trị vững vàng có tinh thần
trách nhiệm và tinh thần đổi mới, trung thực và thẳng thắn, có tinh thần học
tập để không ngừng nâng cao trình độ, có lối sống lành mạnh, được nhân dân
tín nhiệm".[19]
Đại hội VII đã chỉ ra phương hướng và nhiệm vụ của công tác cán bộ
trong thời gian tới: "Mục tiêu của công tác cán bộ là xây dựng đội ngũ cán bộ
đồng bộ và có chất lượng, mà nòng cốt là đội ngũ cán bộ chủ chốt các ngành,
các cấp và cơ sở, trước hết là đội ngũ cán bộ chiến lược, có đủ phẩm chất và
năng lực đảm bảo thực hiện thắng lợi những nhiệm vụ của những năm tới và
sự vững vàng của Đảng trước mọi khó khăn thử thách, đồng thời tích cực
chuẩn bị cán bộ cho những năm tiếp theo ".[22]
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII cũng đã khẳng định nước ta đã
chuyển sang thời kỳ phát triển mới: Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá
đất nước. Tình hình và nhiệm vụ mới đặt ra rất nhiều yêu cầu cho công tác
cán bộ, đòi hỏi "Toàn Đảng phải hết sức chăm lo xây dựng thật tốt đội ngũ
cán bộ, chú trọng đội ngũ cán bộ kế cận vững vàng, đủ bản lĩnh về các mặt.
Sớm xây dựng cho được một chiến lược cán bộ của thời kỳ mới."[20]
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX của Đảng đã chỉ rõ mục tiêu của
công tác cán bộ là: "Xây dựng đội ngũ cán bộ, trước hết là đội ngũ cán bộ
lãnh đạo và quản lý ở các cấp, vững vàng về chính trị, gương mẫu về đạo đức,
10
trong sạch về lối sống, có trí tuệ, kiến thức và năng lực hoạt động thực tiễn,
gắn bó với nhân dân."[26]
chuyên môn về một trong những ngành cơ bản sản xuất nông nghiệp ở địa
phương như trồng trọt, chăn nuôi, thú y, lâm nghiệp, thuỷ sản...
- Có đạo đức, tác phong lành mạnh, khiêm tốn, kiên trì, chịu khó học
hỏi kinh nghiệm của những bậc lão nông tri điền, các kinh nghiệm hay
của người khác;
- Biết làm giàu cho bản thân gia đình mình và có tinh thần thương
yêu, giúp đỡ những người xung quanh mình cũng làm giàu;
- Biết vận động và tổ chức nông dân thực hiện đúng các yêu cầu của
chương trình dự án nông nghiệp.
1.1.3. Vai trò của cán bộ cấp xã làm công tác nông nghiệp [11]
Cán bộ cấp xã làm công tác nông nghiệp: chịu trách nhiệm cung cấp
thông tin giúp nông dân hiểu biết được và ra quyết định về một vấn đề cụ
thể (ví dụ áp dụng một cách làm ăn mới, gieo trồng một loại giống mới).
Khi nông dân đã quyết định làm theo, cán bộ cấp xã làm công tác nông
nghiệp chuyển giao kiến thức, kỹ năng cần thiết để họ áp dụng thành công
cách làm mới đó. Như vậy vai trò của cán bộ cấp xã làm công tác nông
nghiệp là đem lại kiến thức cho dân và giúp họ sử dụng kiến thức đó một
cách có hiệu quả.
Cán bộ cấp xã làm công tác nông nghiệp phải biết giúp người nông dân
phát triển sản xuất trên những điều kiện, nguồn lực sẵn có của họ. Muốn vậy
cán bộ cấp xã làm công tác nông nghiệp phải thường xuyên hỗ trợ và động
viên nông dân phát huy những tiềm năng và sáng kiến của họ để chủ động
giải quyết những vấn đề trong cuộc sống
1.1.4 Những nhiệm vụ cơ bản của cán bộ cấp xã làm công tác nông
nghiệp [11,12]
- Cung cấp kiến thức KHKT và huấn luyện nông dân, biến những kiến
12
1.1.5. Các tiêu chí đánh giá chấ t lượng cán bộ cấp xã làm công tác nông
nghiệp.[6,7]
Các tiêu chí cơ bản đánh giá chất lượng đội ngũ cán bộ cấp xã làm công
tác nông nghiệp bao gồm: Phẩm chất chính trị, đạo đức, năng lực, khả năng
hoàn thành nhiệm vụ được giao.
* Về phẩm chất chính trị: Phẩm chất chính trị là tiêu chí quan trọng
nhất, quyết định đến chất lượng của mỗi cán bộ. Phẩm chất chính trị là động
lực tinh thần, là kim chỉ nam để đinh
̣ hướng và thúc đẩy cán bộ các cấp thực
hiện xuất sắc nhiệm vụ được giao. Phẩm chất chính trị cũng là yêu cầu cơ bản
nhất đối với cán bộ. Đó là nhiệt tình cách mạng, tuyệt đối trung thành với Chủ
nghiã Mác-Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lý tưởng của Đảng Cô ̣ng sản Viêṭ
Nam, tinh thần tận tuỵ với công việc, hết lòng hết sức phục vụ nhân dân. Bản
thân mỗi cán bộ phải có bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định mục tiêu độc
lập dân tộc gắn liền với Chủ Nghiã Xã Hô ̣i, cương quyết đấu tranh chống lại
các biểu hiện lệch lạc mơ hồ, trái với đường lối của Đảng, chính sách, pháp
luật của Nhà nước và kiên quyết đấu tranh chống lại các hành vi xâm phạm
quyền lợi chính đáng, hơ ̣p pháp của nhân dân cũng như quyền và lợi ích của
quốc gia, dân tộc.
* Về đạo đức: Hoạt động nông nghiệp là một công việc mang tính xã
hội, lợi ích gắn liền với cộng đồng, xã hội. Do đó, để có thể hoàn thành tốt
công việc cấp xã làm công tác nông nghiệp cần phải có những phẩm chất đạo
đức tốt, đó là:
+ Chịu đựng gian khổ, sẵn sàng làm việc ở những vùng nông thôn xa xôi,
hẻo lánh, điều kiện khó khăn với tinh thần vì nhân dân.
+ Thật thà, thẳng thắn và nhiệt tình, là niềm tin, chỗ dựa cho người nông
dân trong sản xuất cũng như đời sống. Người cán bộ nông nghiệp không
15
xã làm công tác nông nghiệp nói riêng. Thực tế cho thấy nếu cán bộ có lập
trường chính trị vững vàng, hoạt động vì mục tiêu, lý tưởng cách mạng thì sẽ
được nhân dân kính trọng, tin yêu và họ sẽ có sức thuyế t phu ̣c nhân dân trong
quá trin
̀ h tuyên truyề n, vận động nhân dân thực hiêṇ các chủ chương của
Đảng, chính sách pháp luâ ̣t của Nhà nước. Khi đươ ̣c nhân dân kính trọng tin
yêu, thì ho ̣ là những ha ̣t nhân tích cực góp phần lớn vào quá trình phát triể n
kinh tế – xã hô ̣i trong thời kỳ hô ̣i nhâ ̣p và phát triể n.
Ngược lại, nếu cán bộ nào lập trường chính trị không vững vàng, lý
luâ ̣n chính tri ̣ non yế u hoă ̣c hoạt động vì lợi ích cá nhân, thoái hoá biến chất
sẽ mất lòng tin ở nhân dân. Bản thân cán bô ̣ đó hoa ̣t đô ̣ng không đa ̣t hiệu quả
mà công việc đòi hỏi, thâ ̣m chí còn gây ha ̣i cho Nhà nước và nhân dân . Chính
vì thế , để nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ cấp xã làm công tác nông
nghiệp cần phải nâng cao trình độ lý luận cho họ.
- Trình độ chuyên môn nghiệp vụ: Trình độ chuyên môn nghiệp vụ
được hiểu là những kiến thức chuyên sâu về một lĩnh vực nhất định được biểu
hiện qua những cấp độ: sơ cấp, trung cấp, cao đẳng, đại học, sau đại học. Đây
là những kiến thức mà cán bộ cấp xã làm công tác nông nghiệp phải có ở mô ̣t
triǹ h đô ̣ nhấ t đinh
̣ để giải quyết công việc theo chức năng, nhiệm vụ được
giao. Nếu thiếu kiến thức này thì cán bộ sẽ lúng túng và chắc chắn sẽ khó
hoàn thành nhiệm vụ.
- Trình độ quản lý Nhà nước: Quản lý nhà nước là hệ thống tri thức
khoa học về quản lý xã hội mang tính quyền lực Nhà nước. Đó là những kiến
thức đòi hỏi các nhà quản lý phải có để giải quyết các vụ việc cụ thể đặt ra
trong quá trình quản lý điều hành. Quản lý vừa là hoạt động khoa học, vừa là
xã làm công tác nông nghiệp cần có các kiến thức về kinh tế (như lập kế
hoạch sản xuất kinh doanh, tổ chức quản lý sản xuất, hạch toán kinh tế,
hợp đồng kinh tế, lập dự án đầu tư...) để có thể tư vấn hỗ trợ nông dân.
Ngoài ra Cán bộ cấp xã làm công tác nông nghiệp cần hiểu được cả những
17
vấn đề liên quan đến xã hội và đời sống nông thôn địa bàn mình đang
công tác, đặc biệt là các phong tục tập quán, truyền thống văn hoá và những
giá trị tinh thần của người dân.
+ Kiến thức về các quy định, chính sách của nhà nước về nông
nghiệp: Cán bộ cấp xã làm công tác nông nghiệp phải nắm được những chủ
trương, chính sách của nhà nước về sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là những
chính sách cụ thể áp dụng đối với địa phương nơi phụ trách.
+ Kiến thức về giáo dục người lớn tuổi: Cán bộ cấp xã làm công tác
nông nghiệp phải biết cách tiếp cận và có phương pháp phù hợp để giáo
dục người lớn tuổi, đặc biệt là phải biết cách vận động, lôi cuốn nông dân
tham gia vào các chương trình, dự án nông nghiệp.
- Về kỹ năng cá nhân:
Những kỹ năng mà mỗi cán bộ cấp xã làm công tác nông nghiệp cần
phải có bao gồm:
+ Kỹ năng tổ chức và lập kế hoạch: Cán bộ cấp xã làm công tác nông
nghiệp cần có khả năng lập kế hoạch các hoạt động nông nghiệp và tổ chức,
hướng dẫn nông dân thực hiện những kế hoạch đó.
+ Kỹ năng truyền thông: Cán bộ cấp xã làm công tác nông nghiệp phải
có khả năng nói và viết tốt, bởi vì họ sẽ phải sử dụng thường xuyên những
kỹ năng này để giao tiếp với nông dân và các cá nhân, tổ chức khác trong quá
trình hoạt động nông nghiệp. Cán bộ cấp xã làm công tác nông nghiệp phải có
khả năng nói trước đám đông, biết cách chuyển tải những thông tin, kiến thức