Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn làm căn cứ đề xuất phương án quy hoạch sử dụng đất phát triển sản xuất nông lâm nghiệp tại xã hợp hòa, huyện lương sơn, tỉnh hòa bình - Pdf 43

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
--------------------------------

LÊ THỊ THANH MAI

NGHIÊN CỨU CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN LÀM CĂN CỨ
ĐỀ XUẤT PHƯƠNG ÁN QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT PHÁT TRIỂN
SẢN XUẤT NÔNG LÂM NGHIỆP TẠI XÃ HỢP HÒA,
HUYỆN LƯƠNG SƠN, TỈNH HÒA BÌNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP

HÀ NỘI, 2010


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
--------------------------------

LÊ THỊ THANH MAI

NGHIÊN CỨU CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN LÀM CĂN CỨ
ĐỀ XUẤT PHƯƠNG ÁN QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT PHÁT TRIỂN
SẢN XUẤT NÔNG LÂM NGHIỆP TẠI XÃ HỢP HÒA,

đảm bảo sử dụng đất đai, tài nguyên hợp lý, có hiệu quả và bền vững, an toàn
sinh thái là nhiệm vụ của QHSDĐ. Muốn QHSDĐ hiệu quả, cần thực hiện từ
những đơn vị hành chính nhỏ nhất như cấp xã bởi cấp xã là đơn vị quản lý
hành chính nhỏ nhất trong hệ thống chính quyền, có vai trò quan trọng trong
ổn định KTXH và an ninh quốc phòng.
Tại các xã miền núi, sự đa dạng về văn hóa và trình độ sản xuất đã tạo
nên không gian nhân văn vô cùng đa dạng; các hoạt động sinh kế của người
dân địa phương có tác động không nhỏ vào không gian tự nhiên trên địa bàn
họ sinh sống, nhất là thông qua hoạt động sản xuất nông lâm nghiệp, các tác
động này càng trở nên rõ nét.
Mặc dù vậy, công tác QHSDĐ cấp xã hiện nay vẫn còn một số tồn tại
về phương pháp tiếp cận, công tác điều tra cơ bản, cơ sở thực tiễn của đất đai.


2

Do vậy, việc nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn làm căn cứ để xây
dựng phương án QHSDĐ, PTSX nông lâm nghiệp cho một xã là nội dung có
ý nghĩa thiết thực trong hoàn cảnh hiện nay.
Hợp Hòa là xã thuộc khu vực II miền núi của huyện Lương Sơn, tỉnh
Hòa Bình, có phần đông là người dân tộc Mường sinh sống từ lâu đời, việc sử
dụng đất đai của đại bộ phận nhân dân trong xã là nông lâm nghiệp theo
phong tục tập quán canh tác thuần nông lâu đời, thực tiễn sử dụng đất nông
lâm nghiệp còn manh mún và chưa đồng bộ. Bên cạnh đó, việc người dân
chưa có nhận thức đầy đủ về pháp luật đất đai, sử dụng đất theo phong tục, sở
thích và canh tác không đúng kỹ thuật đã ảnh hưởng không tốt đến hiệu quả
của SDĐ và môi trường. Vì thế, việc quy hoạch phân bổ lại quỹ đất trên địa
bàn xã sao cho vừa đáp ứng được yêu cầu KTXH, nâng cao đời sống nhân
dân và cân đối được nhu cầu sử dụng đất đai là hết sức cần thiết để đảm bảo
môi trường sinh thái và các nguồn tài nguyên được sử dụng bền vững.

để lập dự án đầu tư phát triển kinh tế và xây dựng nông thôn mới [19]. Trên
thế giới, đã có nhiều nước tiến hành quy hoạch vùng lãnh thổ với các cách
thức khác nhau, tiêu biểu là các quốc gia Bungari, Pháp, Thái Lan.
1.1.1.1. Quy hoạch vùng ở Pháp
Các hoạt động sản xuất trong quy hoạch vùng ở Pháp theo các hướng
sau: Sản xuất nông nghiệp theo các phương thức trồng trọt gia đình, công
nghiệp với các mức thâm canh cao độ, thâm canh trung bình và cổ điển; hoạt
động khai thác rừng; hoạt động đô thị, khai thác chế biến; nhân lực theo các
dạng thuế thời vụ, các loại lao động nông - lâm nghiệp; cân đối xuất nhập, thu chi
và các cân đối khác. Quy hoạch nhằm mục đích khai thác lãnh thổ theo hướng
tăng thêm giá trị sản phẩm của xã hội.


4

1.1.1.2. Quy hoạch vùng ở Bungari
Mục đích của quy hoạch vùng lãnh thổ ở quốc gia này là: Sử dụng hiệu
quả nhất lãnh thổ của đất nước, lãnh thổ là môi trường thiên nhiên phải bảo
vệ; lãnh thổ thiên nhiên không có vùng nông thôn, sự tác động của con người
vào đây rất ít; lãnh thổ là môi trường thiên nhiên có mạng lưới nông thôn, ít
có sự can thiệp của con người, thuận lợi cho kinh doanh về du lịch; lãnh thổ là
môi trường nông nghiệp có mạng lưới nông thôn và có sự can thiệp của con
người, thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp; lãnh thổ là môi trường nông
nghiệp không có mạng lưới nông thôn nhưng có sự tác động của con người;
lãnh thổ là môi trường công nghiệp với sự can thiệp tích cực của con người.
- Nội dung của quy hoạch vùng lãnh thổ Bungari là: Cụ thể hóa, chuyên
môn hóa sản xuất nông nghiệp; phối hợp giữa sản xuất công nghiệp và sản
xuất nông nghiệp theo ngành dọc; xây dựng các mạng lưới công trình phục vụ
công cộng và sản xuất; tổ chức đúng đắn mạng lưới khu dân cư và phục vụ
công cộng liên hợp trong phạm vi hệ thống nông thôn; bảo vệ môi trường

chế lượng chặt hàng năm. Sau đó phương pháp “Bình quân thu hoạch” ra đời
và đến cuối thế kỷ XIX, xuất hiện phương pháp “Lâm phần kinh tế” của
Judeich.
Phương pháp “Bình quân thu hoạch” và “Cấp tuổi” chịu ảnh hưởng
của “Lý luận rừng tiêu chuẩn”, tức là rừng phải có kết cấu tiêu chuẩn về tuổi
cũng như về diện tích, trữ lượng, vị trí và đưa các cấp tuổi cao vào diện tích
khai thác. Hiện nay, phương pháp kinh doanh rừng này được dùng phổ biến ở
các nước có tài nguyên rừng phong phú. Còn phương pháp “Lâm phần kinh
tế” và phương pháp “Lâm phần” không căn cứ vào tuổi rừng mà dựa vào đặc
điểm cụ thể của mỗi lâm phần để tiến hành phân tích, xác định sản lượng và
biện pháp kinh doanh. Cũng từ phương pháp này, còn phát triển thành
“Phương pháp kinh doanh lô” và “Phương pháp kiểm tra” [21].
1.1.3. Quy hoạch phát triển nông lâm nghiệp (QHNLN)
1.1.3.1. Lược sử QHNLN
Ngay từ thế kỳ XVII, QHNLN đã được xác nhận như một chuyên
ngành bắt đầu từ các quy hoạch vùng. Vào thời gian này, quy hoạch quản lý


6

rừng và lâm sinh ở Châu Âu được xem như một lĩnh vực phát triển ở mức cao
trên cơ sở QHSDĐ (Olschowy, 1975).
Đến thế kỳ XIX, với các khái niệm "lập địa hợp lý", "năng suất sử
dụng" (Weber, 1921) đã mở đầu thời kỳ quy hoạch phát triển nông nghiệp
trên cơ sở QHSDĐ theo địa lý với vùng sản xuất là nền tảng của quy hoạch
vùng cho sản xuất lâm nông nghiệp.
Tại châu Âu, vào thập kỷ 30 và 40 của thế kỷ XX, quy hoạch ngành giữ
vai trò lấp chỗ trống của quy hoạch vùng được xây dựng vào đầu thế kỷ. Năm
1946 Jacks G.V đã cho ra đời chuyên khảo đầu tiên về phân loại đất đai với
tên “Phân loại đất đai cho QHSDĐ”. Đây cũng là tài liệu đầu tiên đề cập đến

(classical approach) và tiếp cận lấy người dân làm trung tâm (people’s
centered approach) Những nghiên cứu của ông về quy hoạch và quản lý rừng
cộng đồng ở Nepal chứng tỏ những ưu thế về tiếp cận mới trong xây dựng và
thực hiện kế hoạch phát triển cộng đồng [8].
Từ cuối những năm 1970, các phương pháp điều tra đánh giá cùng
tham gia được nghiên cứu rộng rãi như: Đánh giá nhanh nông thôn (RRA),
phương pháp quá trình sáng tạo, phân tích HTCT cho QHSDĐ vi mô. vào
những năm 1980 và đầu những năm 1990 của thế kỷ XX, những thử nghiệm
các phương pháp RRA trong phát triển nông thôn và lập kế hoạch SDĐ được
thực hiện trên 30 nước phát triển cho thấy ưu thế của các phương pháp này
trong lập kế hoạch lâm nông nghiệp cấp thôn bản [9].
Luning (1990) lần đầu tiên nghiên cứu kết hợp đánh giá đất đai với
phân tích HTCT cho QHSDĐ. Năm 1994, FAO đã công bố quy trình kết hợp
đánh giá đất đai với phân tích HTCT cho QHSDĐ (LEFA), hạn chế là đòi hỏi
hệ thống thông tin phân tích lớn, khó áp dụng cho quy hoạch địa phương.
Theo Erwin (1999), phân tích HTCT là công cụ cho phân tích các trở ngại
trong hệ thống nông trại hộ gia đình để xác định mục tiêu quy hoạch, xác định
các kiểu SDĐ hiện tại và phương pháp SDĐ mới, đánh giá phương án SDĐ
khác nhau nhằm mục đích lựa chọn phương án một cách tốt nhất [8].


8

1.1.3.3. Các nghiên cứu xây dựng quy trình QHSDĐ
FAO (1976) đã đề xuất cấu trúc khung QHSDĐ với 10 điểm chính.
Trong đó phân loại đánh giá và đề xuất các kiểu và dạng SDĐ được xét như là
các bước chính trong quá trình quy hoạch.
Năm 1980, Buchwald đề xuất quá trình quy hoạch 8 bước, trong đó có
những nghiên cứu đánh giá về sinh thái và KTXH được đề cập tách biệt ở các
bước khác nhau. Điểm hạn chế này tạo nên sự thiếu tính liên ngành trong quy

sát [8].
1.1.3.4. Lược sử hình thành và phát triển các HTCT nông lâm nghiệp trên thế
giới
Trên thế giới, hoạt động canh tác nông nghiệp đã được hình thành từ
lâu trong lịch sử. Từ hoạt động canh tác này mà các HTCT nông nghiệp dần
được hình thành.
Hệ thống nông nghiệp là sự biểu hiện không gian của sự phối hợp các
ngành sản xuất và kỹ thuật do một xã hội thực hiện để thỏa mãn các nhu cầu.
Nó biểu hiện một sự tác động qua lại giữa một hệ thống sinh học - sinh thái và
môi trường tự nhiên là đại diện và một hệ thống xã hội - văn hóa, qua các hoạt
động xuất phát từ những thành quả kỹ thuật (Vissac, 1979) [14].
Hệ thống trồng trọt là hoạt động sản xuất cây trồng trong một nông hộ.
Hệ thống cây trồng là tổ hợp cây trồng bố trí theo không gian và thời gian với
các biện pháp kỹ thuật được thực hiện [14].
HTCT là một phức hợp của đất đai, cây trồng, vật nuôi, lao động và các
nguồn lợi đặc trưng khác trong một ngoại cảnh mà nông hộ quản lý theo sở
thích, khả năng và kỹ thuật có thể có trong một phạm vi nhất định để tạo ra
sản phẩm nông nghiệp thỏa mãn nhu cầu ăn, mặc của con người [4].
Du canh là HTCT đầu tiên trên thế giới. Đây là kiểu SDĐ nông nghiệp
trong đó đất được phát quang để canh tác trong thời gian ngắn hơn thời gian
bỏ hóa (Conklin, 1957). Cho đến nay, phương thức này vẫn được sử dụng phổ
biến ở các vùng nhiệt đới. Tuy nhiên về chiến lược PTBV, du canh không


10

được nhiều Chính phủ và cơ quan quốc tế coi trọng bởi vì du canh được coi là
phí phạm về sức người và tài nguyên đất đai, là nguyên nhân gây mất rừng, là
nguyên nhân chính gây nên tình trạng xói mòn và thoái hóa đất xảy ra nghiêm
trọng (Grinnell, 1977) [14].

Taungya tỏ ra không thích hợp. Vấn đề đặt ra là phải có những phương thức
mới, những mô hình SDĐ mới có hiệu quả và bền vững hơn. Một trong
những nghiên cứu thành công là việc tìm ra HTCT trên đất dốc (Slopping
Agricultural Land Technology - SALT) đã được Trung tâm phát triển Nông
thôn Bapsip Midanao Philippines tổng kết và phát triển từ những năm 1970.
Trải qua thời gian dài nghiên cứu và hoàn thiện, đến năm 1992 các nhà khoa
học đã cho ra đời 4 mô hình tổng hợp về kỹ thuật canh tác trên đất dốc và đã
được các tổ chức quốc tế, nhiều quốc gia ghi nhận và áp dụng là SALT 1,
SALT 2, SALT 3, SALT 4.
- SALT 1 (Sloping Agricultural Land Technology) là mô hình tổng hợp
canh tác trên đất dốc với thành phần 25% cây lâm nghiệp, 25% cây nông
nghiệp và 50% cây hàng năm.
- SALT 2 (Simple Agro - livestock Land Technology) là mô hình kỹ
thuật canh tác nông súc đơn giản với 40% nông nghiệp, 20 % lâm nghiệp,
20% chăn nuôi, 20% làm nhà ở và chuồng trại.
- SALT 3 (Sustainable Agro - forest Land Technology) là mô hình canh
tác nông lâm nghiệp bền vững với 60% cây lâm nghiệp, 40% cây nông
nghiệp. Mô hình này đòi hỏi đầu tư cao cả về nguồn lực và vốn liếng cũng
như sự hiểu biết.
- SALT 4 (Small Agro - fruit likelihood Technology) là mô hình kỹ
thuật canh tác sản xuất nông lâm nghiệp kết hợp cây ăn quả trên quy mô nhỏ
với thành phần 60% cây lâm nghiệp, 15% cây nông nghiệp, 25% cây ăn quả.
Đây là mô hình đòi hỏi phải đầu tư cao nguồn lực, vốn cũng như kiến thức, kỹ
năng và kinh nghiệm [22].


12

Ở Thái Lan trong hơn hai thập kỷ qua đã thực hiện dự án phát triển
làng lâm nghiệp (forest village) ở vùng Đông Bắc với mục tiêu là: Giải quyết

các số liệu nghiên cứu về phân loại đất mới được thống nhất cơ bản.
Xung quanh chủ đề phân loại đất đã có nhiều công trình khác nhau
triển khai thực hiện trên các vùng sinh thái (Ngô Nhật Tiến, 1986, Đỗ Đình
Sâm, 1994…). Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu trên mới chỉ dừng lại
ở mức độ nghiên cứu cơ bản, thiếu những để xuất cần thiết cho việc SDĐ.
Công tác điều tra phân loại đã không gắn liền với công tác SDĐ.
Nhiều tác giả như Phạm Văn Chiểu (1964), Lê Trọng Cúc (1971), Bùi
Huy Đáp (1977), Vũ Tuyên Hoàng (1987), Nguyễn Ngọc Bình (1987), Bùi
Quang Toản (1991) đã đề cập tới vấn đề luân canh tăng vụ trồng xen, trồng
gối vụ để sử dụng hợp lý đất đai. Theo các tác giả trên thì việc lựa chọn hệ
thống cây trồng trên đất dốc là rất thiết thực với vùng đồi núi Việt Nam.
Trong giai đoạn trước năm 1993, QHSDĐ được thực hiện bởi tổ
chuyên môn trong từng ngành. Căn cứ vào định hướng phát triển kinh tế của
nhà nước, nhiệm vụ phát triển kinh tế của từng địa phương mà có các quy
hoạch tầm vĩ mô.
TS. Lê Sỹ Việt và TS. Trần Hữu Viên (1999) đã đề cập đến việc quy
hoạch lâm nghiệp cho các đơn vị thuộc cấp quản lý lãnh thổ và cấp quản lý
sản xuất kinh doanh [21].
TS. Hà Quang Khải, Đặng Văn Phụ (1997) đã đưa ra khái niệm về hệ
thống SDĐ và đề xuất một số hệ thống và kỹ thuật SDĐ bền vững trong điều
kiện Việt Nam; đi sâu phân tích các vấn đề về hệ thống SDĐ bền vững, kỹ
thuật SDĐ bền vững, chỉ tiêu đánh giá tính bền vững trong các hệ thống, kỹ
thuật SDĐ.
Chương trình tập huấn dự án hỗ trợ đào tạo lâm nghiệp xã hội của
trường ĐH Lâm nghiệp theo phương pháp PRA đã phối hợp các chuyên gia
trong và ngoài nước biên soạn tập tài liệu với những vấn đề chính: Các khái


14


QHSDĐ, bản chất và quy luật phát triển của QHSDĐ. QHSDĐ cấp vĩ mô nêu
rõ vị trí, vai trò và căn cứ để lập QHSDĐ cấp vĩ mô, chi tiết những nội dung
và trình tự xây dựng QHSDĐ cấp vĩ mô. QHSDĐ cấp vi mô gồm nội dung
QHSDĐ cấp xã, phương pháp thực hiện các nội dung công việc trong
QHSDĐ, QHSDĐ cấp vi mô theo phương pháp PRA [20].
TS. Đoàn Công Quỳ (2006) đã xây dựng cơ sở khoa học của công tác
QHSDĐ đất bao gồm những vấn đề chung về QHSDĐ, trình bày công tác
điều tra cơ bản phục vụ QHSDĐ, vấn đề QHSDĐ đất cấp xã và đã đưa ra 3
bài tập về tổng hợp kết quả điều tra cơ bản, xây dựng bản đồ hiện trạng SDĐ
và bản đồ QHSDĐ, dự báo nhu cầu SDĐ phục vụ QHSDĐ cấp xã [11].
TS. Nguyễn Đình Hợi (2006) đã khái quát hóa vai trò của đất đai đối
với sự phát triển của KTXH, trình bày và phân tích chế độ quản lý nhà nước
về đất đai ở nước ta, trình bày nội dung quản lý nhà nước một số loại đất, nêu
cơ sở lý luận chung về quy hoạch đất đai và nêu nội dung của QHSDĐ [6].
Nhìn chung, các kết quả nghiên cứu của các tác giả trên cũng chính là
những cơ sở lý luận và các phương pháp thực tiễn đã được chúng tôi kế thừa
có chọn lọc và áp dụng trong đề tài này.
1.2.2. Các công trình nghiên cứu và quan điểm về QHNLN cấp xã
1.2.2.1. Quan điểm
Vào đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX, các vấn đề QHNLN cấp xã được
nhiều tác giả đề cập và nghiên cứu. Năm 1990, Tổng cục quản lý ruộng đất có
ban hành bản hướng dẫn QHSDĐ vi mô theo thông tư số 106/ĐKTĐ. Nhiều
tỉnh thực hiên quy hoach vi mô theo hướng dẫn này. Tuy nhiên khi triển khai
đã gặp những khó khăn do phương pháp chưa thống nhất. Mặc dù vậy, quy
hoạch vi mô cũng đã là tiền đề để thay đổi quan điểm về quy hoạch cấp xã
trong những năm tiếp theo [8].


16



- Nghiên cứu và thử nghiệm các phương pháp cùng tham gia trong quá
trình quy hoạch phát triển nông lâm nghiệp, xác định và phân tích rõ các chủ
thể trong QHNLN cấp xã.
Vũ Văn Mễ và Desloges (1996) đã đưa ra một khái niệm mới là sự
tham gia của người dân. Các tác giả cho rằng điểm quan trọng là phải thu hút
được người dân tham gia vào tất cả các giai đoạn trong quá trình QHSDĐ và
giao đất lâm nghiệp ngay từ khi bắt đầu tùy phạm vi và mức độ theo nội dung
hoạt động và giai đoạn tiến hành.
1.2.2.2. Các nghiên cứu và thử nghiệm
Theo Nguyễn Văn Tuấn (1996) QHSDĐ được coi là nội dung chính và
được thực hiện trước khi giao đất trên cơ sở tôn trọng tập quán nương rẫy cố
định, lấy xã làm đơn vị để lập kế hoạch và giao đất, có sự tham gia tích cực
của người dân.
Năm 1993, nghiên cứu và thí điểm đầu tiên về QHSDĐ cấp xã được
thực hiện ở xã Tử Nê, huyện Tân Lạc và xã Hang Kia, Pà Cò huyện Mai
Châu, tỉnh Hòa Bình do Dự án đổi mới chiến lược phát triển lâm nghiệp thực
hiện. Bản đánh giá về QHSDĐ xã Tử Nê cho thấy cần phải có một kết hoạch
SDĐ chi tiết thì mới đáp ứng được yêu cầu, tránh được những mâu thuẫn
trọng cộng đồng phát sinh sau quy hoạch.
Chương trình Phát triển nông thôn miền núi Việt Nam - Thụy Điển giai
đoạn 1996 - 2001 trên phạm vi 5 tỉnh Lào Cai, Bắc Giang, Hà Giang, Tuyên
Quang và Phú Thọ đã tiến hành thử nghiệm công tác quy hoạch phát triển
nông lâm nghiệp cấp xã trên cơ sở kế hoạch phát triển cấp thôn bản và hộ gia
đình.
Năm 1998, tỉnh Lào Cai đã xây dựng mô hình sử dụng PRA để tiến
hành QHSDĐ, tỉnh Hà Giang đã xây dựng quy hoạch và lập kế hoạch SDĐ 3
cấp: xã, thôn và hộ gia đình. Trong năm này trên vùng dự án đã có 78 thôn,




19

hội Sông Đà trên cở sở hướng dẫn này đã xây dựng phương pháp QHSDĐ và
giao đất lâm nghiệp cấp xã của 2 huyện Yên Châu (Sơn La) và Tủa Chùa (Lai
Châu). Trong đó cấp thôn bản đã được chọn là đơn vị quy hoạch phù hợp với
đặc thù vùng cao. Kết quả này cũng phù hợp với kết quả nghiên cứu xã hội và
cộng đồng của Donovan (1997) ở miền Bắc Việt Nam [8].
Nguyễn Bá Ngãi và nhóm tư vấn của Dự án khu vực lâm nghiệp Việt
Nam -ADB (1999, 2000) đã nghiên cứu và thử nghiệm phương pháp xây
dựng tiền dự án cấp xã. Mục tiêu là đưa ra một phương pháp QHNLN cấp xã
có sự tham gia của người dân để xây dựng tiểu dự án lâm nghiệp cho 50 xã
của 4 tỉnh Thanh Hóa, Gia Lai, Phú Yên và Quảng Trị.
Nguyễn Bá Ngãi (2001) đã nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn cho
quy hoạch phát triển lâm nông nghiệp cấp xã vùng Trung tâm miền núi phía
Bắc Việt Nam. Đề tài được tiến hành nghiên cứu điểm tại 3 xã là Tân Nguyên
(huyện Yên Bình, Yên Bái), Thượng Long (huyện Yên Lập, Phú Thọ), Đức
Ninh (huyện Hàm Yên, Tuyên Quang).
Trong nghiên cứu, tác giả đã đưa ra một số quan điểm và cơ sở lý luận
cho nghiên cứu quy hoạch phát triển lâm nông nghiệp cấp xã như: Quan điểm
duy vật biện chứng, quan điểm sinh thái - kinh tế - nhân văn; quan điểm quy
hoạch phát triển tổng hợp và bền vững; quan điểm kết hợp giữa định hướng vĩ
mô của nhà nước với nhu cầu của người dân trong quy hoạch phát triển lâm
nông nghiệp. Phương pháp quy hoạch phát triển lâm nông nghiệp cấp xã là
kết hợp các phương pháp đánh giá đất đai với phương pháp phân tích HTCT
(FSA) để đánh giá tiềm năng đất đai, xây dựng bản đồ lập địa cấp xã, phân
tích và lựa chọn hệ thống cây trồng; sử dụng hiệu quả phương pháp PRA
trong nghiên cứu đề xuất phương án quy hoạch phát triển nông lâm nghiệp.
Tác giả cũng đã chỉ ra được trong tiến hành QHSDĐ cấp xã cần phải tiến
hành phân chia 3 loại rừng và phân cấp phòng hộ.

phát triển một ngành kinh tế nào cũng có nhu cầu SDĐ ở các mức độ khác


21

nhau. Do vậy trong QHSDĐ phải căn cứ vào điều kiện tự nhiên, KTXH, quỹ
đất và chiến lược phát triển, nhu cầu đất của các ngành để có phương án phân
bổ SDĐ hợp lý, hiệu quả nhất, tạo cho các ngành đều có đầy đủ điều kiện để
phát triển [20].
- Tạo ra những điều kiện tổ chức lãnh thổ để thực hiện những nhiệm vụ
kế hoạch của Nhà nước, của riêng ngành nông nghiệp và từng đơn vị sản xuất
cụ thể. Căn cứ vào chiến lược phát triển KTXH và an ninh quốc phòng của
đất nước, chiến lược phá triển của từng ngành và quy hoạch phát triển của
từng đơn vị, QHSDĐ phải đảm bảo tương quan tỷ lệ hợp lý giữa các ngành,
các vùng lãnh thổ, phân bổ hợp lý sức sản xuất, tạo ra những điều kiện tổ
chức lãnh thổ đảm bảo phát triển tổng hợp các vùng kinh tế và trong từng đơn
vị sản xuất, đặc biệt là trong lĩnh vực sản xuất nông lâm nghiệp [20].
- Tạo ra những điều kiện tổ chức lãnh thổ để nâng cao hiệu quả sản
xuất trên cơ sở các phương pháp quản lý kinh tế tiên tiến để nâng cao độ màu
mỡ của đất, nâng cao trình độ canh tác và hiệu quả sử dụng máy móc.
QHSDĐ phải được phối hợp chặt chẽ với việc tổ chức sản xuất để tạo ra điều
kiện tốt nhất cho sự phát triển và nâng cao trình độ lao động. QHSDĐ trong
nông lâm nghiệp phải tạo ra các điều kiện để áp dụng các biện pháp kỹ thuật
tiên tiến, có hiệu quả cao để nâng cao độ màu mỡ của đất và trình độ kỹ thuật
canh tác. Vì vậy khi giải quyết các nội dung của QHSDĐ phải dựa trên các
hình thức tổ chức lao động tiến bộ nhất, trình độ cơ giới hóa và khoa học công
nghệ tiên tiến [20].
- Khi QHSDĐ phải tính đến các điều kiện tự nhiên, KTXH của từng
vùng, từng đơn vị, xí nghiệp SDĐ. Mỗi vùng, mỗi đơn vị SDĐ đều có những
đặc điểm riêng về điều kiện tự nhiên, KTXH. Nếu không tính đến các điều

- Dân chủ và công khai trong quy hoạch và kế hoạch SDĐ và phải tiến
hành kịp thời, được phê duyệt trong năm cuối của kỳ trước để đảm bảo tính
khả thi trong việc thực hiện quy hoạch, kế hoạch SDĐ.


23

1.2.4. Tình hình quản lý đất đai tại xã Hợp Hòa qua các thời kỳ
1.2.4.1.Giai đoạn trước Luật đất đai 2003
- Trước khi có Luật đất đai năm 1993, đất đai thuộc quyền quản lý và
sử dụng của các hợp tác xã nông nghiệp. SDĐ không theo quy hoạch, hiệu
quả thấp, gây lãng phí đất và làm cho đất ngày càng suy thoái. Phương pháp
thống kê phân loại, quản lý đất đai không cố định, không hợp lý nên không
nắm chắc, quản lý không chặt quỹ đất của địa phương.
- Từ khi Luật đất đai năm 1993 có hiệu lực, đặc biệt là khi Tổng cục
Địa chính được thành lập theo Nghị định số 12/CP ngày 22/2/1994, các chủ
trương chính sách của Đảng và Nhà nước về đất đai đã được xã thực hiện và
thu được kết quả khả quan như:
+ Hoàn thiện công tác đo đạc lập bản đồ địa chính, từng bước hoàn
thiện công tác quản lý đất đai theo quy hoạch, kế hoạch.
+ Hoàn thiện công tác giao đất, giao rừng theo theo Nghị định 02/CP
ngày 15/01/1994 của Chính phủ về việc giao đất, giao rừng cho các tổ chức,
hộ gia đình và cá nhân sử dụng lâu dài.
+ Công tác thống kê đất đai trong toàn xã được thực hiện thường xuyên,
công tác cấp giấy chứng nhận quyền SDĐ được thực hiện nghiêm túc.
Nhìn chung, trong giai đoạn này công tác quản lý Nhà nước về đất đai
đã được cải thiện, chặt chẽ. Bên cạnh đó vẫn còn nhiều hạn chế như:
+ Chưa xây dựng được quy hoạch SDĐ cấp xã. Công tác xây dựng quy
hoạch, kế hoạch SDĐ chưa được đầu tư đúng mức, tính khả thi chưa cao.
+ Công tác kiểm kê, thống kê chỉnh lý biến động chưa được cập nhật


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status