Dư luận xã hội về tính thiêng của các di tích lịch sử văn hóa đối với việc bảo tồn giá trị của các di tích này ở hà nội hiện nay (tt) - Pdf 43

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
--------------------------------

TRẦN THỊ HIÊN

DƢ LUẬN XÃ HỘI VỀ TÍNH THIÊNG CỦA CÁC DI TÍCH
LỊCH SỬ VĂN HOÁ ĐỐI VỚI VIỆC BẢO TỒN GIÁ TRỊ
CỦA CÁC DI TÍCH NÀY Ở HÀ NỘI HIỆN NAY

(Qua nghiên cứu trường hợp Phủ Tây Hồ và Đền thờ Hai Bà
Trưng)

LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC

Người Hướng dẫn Khoa học: Hoàng Thu Hương

Hà Nội – 2009
1


MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU................................................................................................. Error! Boo
PHẦN NỘI DUNG CHÍNH .............................................................................. 11
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI ............... 11
1.1. Các hướng tiếp cận lý thuyết xã hội học............................................... 11
1.1.1. Tiếp cận chức năng trong xã hội học ...................................................... 11
1.1.2. Quan điểm Mác - xít về dư luận xã hội ................................................... 12
1.1.3. Quan điểm về tôn giáo tác động đến hành vi xã hội của M.Weber ........ 13
1.2. Các khái niệm công cụ ......................................................................... 13

2.3. Hành vi tham gia bảo tồn giá trị văn hóa của người đi lễ ở Đền thờ Hai Bà
Trưng và Phủ Tây Hồ ..................................... Error! Bookmark not defined.
2.3.1. Mức độ hiểu biết của người đi lễ về di tích Phủ Tây Hồ và Đền thờ Hai
Bà Trưng .............................................................. Error! Bookmark not defined.
2.3.2. Sự tham gia của người đi lễ vào việc đóng góp tu bổ tôn tạo di tích và

bảo tồn lễ hội truyền thống ở Đền thờ Hai Bà Trưng và Phủ Tây HồError! Bookmark not d
2.3.3. Sự tham gia của người đi lễ vào việc tuyên truyền, giới thiệu về di tích
Đền thờ Hai Bà Trưng và Phủ Tây Hồ ................ Error! Bookmark not defined.

PHẦN KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ ....................................................... Error! Boo

TÀI LIỆU THAM KHẢO CHÍNH .................................................................. Error! Boo

3


PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Hà Nội là nơi có nhiều di tích lịch sử văn hoá vô cùng phong phú và đa dạng
với những giá trị hết sức to lớn đối với người dân Thủ đô nói riêng và cả nước nói
chung. Ẩn chứa trong mỗi di tích là ý nghĩa về văn hoá truyền thống, là cội nguồn
lịch sử giáo dục cho thế hệ tương lai, có những di tích là điểm du lịch để thu hút du
khách tới thăm, có di tích mang ý nghĩa văn hóa tâm linh, là chỗ dựa tinh thần cho
con người trong cuộc sống... Việc bảo tồn các di tích lịch sử văn hoá không những
giữ gìn được những sản phẩm vật thể mà còn góp phần làm thăng hoa các di sản
văn hoá phi vật thể trong di tích, qua đó truyền thống, bản sắc văn hoá dân tộc được
nuôi dưỡng, lưu truyền.
Hiện nay, các di tích lịch sử văn hoá ở Hà Nội đang tồn tại trong môi trường
sôi động và chịu sự tác động từ nhiều phía. Những tác động mạnh mẽ của cơ chế

nay” (Qua nghiên cứu trường hợp Phủ Tây Hồ và Đền thờ Hai Bà Trưng ).

2. Ý nghĩa của đề tài
2.1. Ý nghĩa lý luận
Trên cơ sở áp dụng một số lý thuyết xã hội học vào việc nghiên cứu “Dư
luận xã hội về tính thiêng của các di tích lịch sử văn hoá đối với việc bảo tồn giá trị
của các di tích này ở Hà Nội hiện nay”, đề tài góp phần làm sáng tỏ cách thức vận
dụng các lý thuyết, các quan điểm xã hội học vào việc nghiên cứu dư luận xã hội,
tác động của dư luận xã hội vào các lĩnh vực của đời sống xã hội, cụ thể ở đây là
lĩnh vực văn hoá, việc bảo tồn, phát huy giá trị của các di tích lịch sử văn hoá.

2.2. Ý nghĩa thực tiễn
Nghiên cứu cung cấp cho chúng ta cái nhìn tương đối toàn diện dư luận xã
hội về tính thiêng của các di tích lịch sử văn hoá ở Hà Nội hiện nay như thế nào và
có ảnh hưởng đến hành vi bảo tồn giá trị các di tích của người dân ra sao. Trên cơ
sở đó, đề tài đưa ra những kết luận và khuyến nghị về giải pháp nhằm định hướng
dư luận xã hội về tính thiêng của các di tích lịch sử văn hoá góp phần cho việc bảo
tồn tốt hơn những giá trị tốt đẹp của các di tích lịch sử ở Hà Nội.
Mặt khác, những kết quả thu thập được qua cuộc khảo sát của đề tài sẽ là
một nguồn sử liệu nhỏ góp phần hướng tới Lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà
Nội - hoạt động chào mừng mà người dân cả nước đang hướng đến.

5


3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài nhằm làm sáng tỏ dư luận xã hội về tính
thiêng của các di tích lịch sử văn hoá đối với việc bảo tồn giá trị văn hóa của các di
tích này ở Hà Nội hiện nay.

6


Việc chọn hai di tích trên để nghiên cứu cũng dựa trên kết quả điều tra xã
hội học của đề tài cấp Nhà nước do PGS.TS. Nguyễn Chí Bền làm chủ nhiệm:
“Bảo tồn và phát huy giá trị những di tích lịch sử - văn hoá - cách mạng tiêu biểu
của Thăng Long Hà Nội” thuộc chương trình KX09.09, điều tra năm 2007 với hơn
3000 bảng hỏi, khảo sát mức độ đến thăm 33 di tích của người dân ở Hà Nội, kết
quả cho thấy mức độ người dân đến Phủ Tây Hồ nhiều hơn; Đền thờ Hai Bà Trưng
lượng người đến có ít hơn so với di tích Phủ Tây Hồ và một số di tích khác ở nội
thành Hà Nội. Do đó, nghiên cứu chọn hai di tích để thấy được sự khác biệt dư luận
xã hội về tính thiêng với việc tham gia bảo tồn giá trị văn hoá của di tích.
- Thời điểm nghiên cứu:
Qua quan sát của tác giả cũng như chia sẻ với quan điểm nghiên cứu về
người đi lễ chùa của TS. Hoàng Thu Hương (2007) đã cho thấy vào các thời điểm
khác nhau trong năm, Phủ Tây Hồ và Đền thờ Hai Bà Trưng cũng thu hút những
nhóm dân cư khác nhau.
+ Thời điểm đầu năm, cuối năm: Cũng như bao đền, chùa, phủ khác ở Hà
Nội và nhiều nơi, cứ vào dịp đầu năm và cuối năm người dân thường đi lễ chùa ở
các đình, đền hay phủ để cầu những điều may mắn trong năm mới cũng như tạ ơn
đấng thần linh phù hộ che chở cho bản thân và gia đình trong năm qua.
+ Thời điểm lễ hội: Phủ Tây Hồ và Đền thờ Hai Bà Trưng hàng năm có tổ
chức lễ hội. Hội đền Hai Bà Trưng kéo dài trong bốn ngày từ 3 đến 6 tháng 2 (âm
lịch) hàng năm, mùng 6 là ngày chính hội. Hội Phủ Tây Hồ diễn ra từ ngày 3 đến
ngày 7 tháng 3 (âm lịch) hàng năm, mùng 3 là ngày giỗ Mẫu Liễu Hạnh, đây là
ngày chính hội.
- Ngày rằm, mùng một hàng tháng: theo truyền thống của người Việt, đây là
hai thời điểm người dân đến các đền, chùa, phủ… rất đông để thắp hương cầu khấn.
- Vào những ngày thường: Ngoài những ngày lễ cũng như rằm, mùng một
hàng tháng Phủ Tây Hồ vẫn thu hút được nhiều người đến lễ, Đền thờ Hai Bà

cơ cấu mẫu thu được như sau:

8


Bảng 1: Cơ cấu mẫu khảo sát tại Đền thờ Hai Bà Trưng và Phủ Tây Hồ

Giới tính

Tuổi

Trình độ học vấn

Tình trạng hôn nhân

Nghề nghiệp

Nơi hỏi

Tần số
(ngƣời)

Tần suất (%)

Nam

65

30.5


THCS trở xuống

31

14.6

THPT

70

32.9

Trung cấp

2

0.9

CĐ, ĐH trở lên

110

51.6

Đã kết hôn

169

79.3


Học sinh, sinh viên

14

6.6

Tự do

24

11.3

Đền thờ Hai Bà Trưng

94

44.1

Phủ Tây Hồ

119

55.9

Những số liệu thu thập được từ phiếu hỏi sẽ được xử lý trên chương trình
SPSS 11.5 for Window. Xử lý các tần suất, tương quan, tiến hành kiểm định thống
kê các tương quan so sánh giữa hai di tích.

6.2. Phương pháp phỏng vấn sâu:
Số lượng phỏng vấn thực hiện: 15 người đi lễ (7 người đi lễ tại Phủ Tây Hồ,

Hành vi tham gia bảo tồn giá trị văn
hoá của di tích

Mức độ tìm hiểu về
di tích

Tu bổ, tôn tạo các di tích và
bảo tồn lễ hội truyền thống

10

Tuyên truyền, giới
thiệu các di tích


PHẦN NỘI DUNG CHÍNH
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ
THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Các hướng tiếp cận lý thuyết xã hội học
1.1.1. Tiếp cận chức năng trong xã hội học
Theo quan điểm chức năng luận, các bộ phận của hệ thống phụ thuộc vào
nhau, mỗi bộ phận thay đổi kéo theo sự thay đổi của các bộ phận khác, tạo nên sự
cân bằng. Mỗi hiện tượng xã hội đều có chức năng nào đó, có cả chức năng tích
cực và chức năng tiêu cực. Như vậy, mỗi hiện tượng xã hội một cách khách quan
vừa mang ý nghĩa tích cực, vừa mang ý nghĩa tiêu cực đối với đời sống xã hội, tuỳ
theo từng thời điểm lịch sử cụ thể. Trong xã hội học, chức năng là vai trò của tiểu
hệ thống đối với hệ thống lớn hơn mà tiểu hệ thống đó là thành phần. Dư luận xã
hội đóng vai trò nhất định trong những khía cạnh khác nhau của đời sống xã hội.
Dư luận xã hội có thể được xem là tiểu hệ thống trong chỉnh thể xã hội và trong quá
trình phát triển của xã hội loài người, tiểu hệ thống dư luận xã hội được xã hội giao

là: dư luận xã hội là một đặc trưng của ý thức xã hội; Dư luận xã hội thuộc thượng
tầng kiến trúc, do đó nó bị chi phối bởi những đặc điểm và tính chất của hạ tầng cơ
sở trong xã hội đó. Thế nhưng, có sự độc lập tương đối so với hạ tầng cơ sở của xã
hội, nên dư luận xã hội cũng có thể là động lực tạo ra những chuyển biến của xã
hội; Dư luận xã hội có những chức năng nhất định trong đời sống xã hội [37, tr 9799].
Vận dụng quan điểm này chúng tôi xem xét dư luận xã hội về tính thiêng
của các di tích lịch sử văn hoá đối với việc bảo tồn giá trị của các di tích này ở Hà
Nội hiện nay như một hiện tượng tồn tại mang tính khách quan, có mối quan hệ
biện chứng với các sự vật hiện tượng khác trong xã hội. Đó là một sự kiện xã hội
quan trọng cần được tìm hiểu, khảo sát như bất kỳ một sự kiện tự nhiên hay xã hội,
tư duy khác. Dư luận xã hội về tính thiêng của di tích Đền thờ Hai Bà Trưng và
Phủ Tây Hồ có những chức năng nhất định trong đời sống xã hội, có vai trò là
phương tiện và yếu tố điều chỉnh hành vi của con người, ở đây là vai trò của dư
luận xã hội về tính thiêng ở hai di tích đối với việc bảo tồn giá trị di tích Đền thờ
Hai Bà Trưng và Phủ Tây Hồ.

12


1.1.3. Quan điểm về tôn giáo tác động đến hành vi xã hội của
M.Weber
M.Weber có nói đến tác động của tôn giáo đến hành vi đạo đức: ông cho
rằng hành vi tôn giáo cho dù là tôn giáo nào cũng đều mang tính hợp lý tương đối
theo nghĩa là con người luôn có niềm tin vào những quy tắc chung, kinh nghiệm,
quy định những hành vi đạo đức của con người trong một loạt những quy tắc bằng
sự huyền bí, có khi chỉ là những tín ngưỡng giản đơn, những quan niệm dân gian về
trật tự của cuộc sống và về đạo đức phù hợp với trật tự xã hội, đó là tôn giáo của
nghi lễ.
Còn tôn giáo của niềm tin tác động trên bình diện đạo đức dựa trên các
thuyết tiên tri hay các phép màu vốn có của nó. Tôn giáo này đem lại cho con

hơn.
 Chức năng của dư luận xã hội:
Các nhà nghiên cứu có nhiều cách phân chia chức năng của dư luận xã hội.
Cách phân chia thứ nhất, chức năng của dư luận xã hội gồm: Dư luận xã hội
có chức năng đánh giá; Chức năng điều tiết các mối quan hệ xã hội; Chức năng
giáo dục; Chức năng tư vấn – giám sát [33; tr.105-110].
Cách phân chia thứ hai, chức năng của dư luận xã hội được tác giả chia ở
cấp đỗ vĩ mô và vi mô. Ở cấp độ vi mô dư luận xã hội có chức năng đánh giá; Chức
năng kiểm soát xã hội đối với hành vi; Chức năng điều chỉnh các quan hệ xã hội và
hành vi; Chức năng giáo dục hành vi [37; tr.145-157].
 Phân biệt dư luận xã hội với tin đồn:
Sự khác biệt giữa dư luận xã hội và tin đồn thể hiện ở một số tiêu chí sau
[37; tr.66].
Tiêu chí

Dƣ luận xã hội

Tin đồn

Tính kiểm chứng Vấn đề của dư luận xã hội Vấn đề của tin đồn có thể
của vấn đề được đề thường liên quan đến lĩnh vực là những vấn đề của cá
cập đến

công cộng, nguồn kiểm chứng nhân và cũng có thể là
có thể thông qua hai nguồn là vấn đề của công cộng,
các cơ quan chức năng và các khó kiểm chứng về vấn
phương tiện truyền thông đại đề tin đồn đề cập tới.
chúng.

Mức độ tham gia Mức độ tham gia cao

trưng hoặc là hệ thống các biểu trưng để nói lên bản chất của những sự vật thiêng,
những đức tính hay quyền lực được gắn cho chúng, lịch sử của chúng, quan hệ với
những vật trần tục. Một sự vật, hiện tượng trong đời sống tín ngưỡng sở dĩ thiêng
liêng không phải là vì những thuộc tính vật chất của nó mà là ở giá trị biểu trưng
của nó... [12, tr.49].
Dưới góc độ xã hội học, vấn đề cần quan tâm là ý nghĩa của cái thiêng đối
với hoạt động xã hội… Cái thiêng hay tôn giáo có chức năng kiểm soát xã hội, khi
niềm tin tôn giáo được chia sẻ trong xã hội, thì chiều hướng có ý nghĩa và có mục
đích sẽ phát sinh trong sự cố kết xã hội và ổn định xã hội. Durkheim phân tích về
chức năng tôn giáo không ngụ ý một niềm tin tôn giáo bất kỳ là có giá trị hay vô
giá trị. Nhưng khi đối mặt với cái chết, bệnh tật, thiên tai và vô số những thất bại
của con người, đời sống có vẻ dễ bị tổn thương và vô nghĩa một cách vô vọng. Lúc
này, dù là niềm tin tôn giáo nào chăng nữa đều tạo cảm giác an ủi rằng nhiều kinh
nghiệm con người từ khi sinh ra cho đến khi mất đi đều có mục đích nhiều hơn.
Củng cố niềm tin như thế, con người ít bị sự tuyệt vọng quật ngã hơn khi đối mặt
với những tai họa trong đời sống, và rất có thể đóng góp tích cực nhiều hơn vào
phúc lợi xã hội [43].
Tóm lại, tính thiêng ở đây có thể hiểu là những quyền năng thiêng liêng, phù
hộ cho người dân nhiều mặt trong đời sống, giúp họ vượt qua những khó khăn đa
dạng, phức tạp mang lại cho con người một niềm tin vào sự linh thiêng đó. Thái độ
của con người đối với cái thiêng chính là sự tôn kính, biết ơn và thái độ sợ hãi
trước sức mạnh bí ẩn. Chính tính "thiêng" ấy đã trở thành chỗ dựa tinh thần cho
người dân trong những thời điểm khó khăn, cũng như tạo cho họ những hy vọng
vào điều tốt đẹp sẽ đến, đồng thời điều chỉnh hành vi của con người cho phù hợp

15


với chuẩn mực đạo đức. Cảm giác về cái thiêng, vì thế khi con người đến những
nơi đó cảm thấy tôn kính và sợ hãi, đồng thời tăng cường sức mạnh cho các chuẩn

- Khái niệm 1: Là những hoạt động nhằm đảm bảo sự tồn tại lâu dài, ổn định
của di tích để sử dụng và phát huy giá trị của di tích đó.
- Khái niệm 2: Là tất cả những nỗ lực nhằm hiểu biết về di sản văn hoá giá
trị và lịch sử, ý nghĩa của nó, nhằm đảm bảo sự an toàn về vật chất của di tích và
khi cần đến đảm bảo việc giới thiệu, trưng bày, khôi phục.
Các khái niệm trên đều đề cập tới ba vấn đề cơ bản của hoạt động bảo tồn di
tích: Một là, những hoạt động có tính tích cực để tìm hiểu, phát hiện, đánh giá giá
trị lịch sử, văn hoá tiêu biểu của di tích đó; Hai là, những hoạt động nhằm đảm bảo

17


cho di tích tồn tại lâu dài; Ba là, những hoạt động nhằm giới thiệu, trưng bày, tuyên
truyền phổ biến cho công chúng [5].
Trong nghiên cứu này tác giả luận văn đi vào phân tích dư luận xã hội về
tính thiêng đối với việc bảo tồn giá trị văn hoá di tích Đền thờ Hai Bà Trưng và Phủ
Tây Hồ ở 3 khía cạnh mà khái niệm trên đề cập đến là: mức độ tìm hiểu về di tích;
sự tham gia của người đi lễ vào việc đóng góp tu bổ, tôn tạo di tích và bảo tồn lễ
hội truyền thống của di tích; cuối cùng là việc tuyên truyền giới thiệu đến mọi
người về di tích Đền thờ Hai Bà Trưng và Phủ Tây Hồ.

1.3. Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Vấn đề dư luận xã hội, bảo tồn di tích lịch sử văn hoá được sự quan tâm của
nhiều nhà nghiên cứu, nhà khoa học trên thế giới và ở Việt Nam.
Trên thế giới
Về việc bảo tồn và phát huy giá trị di tích: nghiên cứu về di tích và nghiên
cứu về bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử văn hoá được sự quan tâm của
nhiều nước và nhiều tổ chức trên thế giới. UNESCO (tổ chức nghiên cứu văn hoá
thế giới) đã đưa ra khái niệm về di sản văn hoá được sử dụng trong Công ước quốc
tế về bảo vệ di sản văn hoá được thông qua phiên họp lần thứ 32 của Đại hội đồng:

Các bài viết, nghiên cứu về dư luận xã hội: Công tác nghiên cứu dư luận xã
hội rất được coi trọng ở nước ta hiện nay, trong hội nghị lần thứ ba Ban chấp hành
Trung ước Đảng (khoá VII) đã nhấn mạnh: “Nâng cao chất lượng thông tin nội bộ
và công tác tuyên truyền. Coi trọng biện pháp điều tra dư luận xã hội” [6, tr.69]. Do
đó, ở nước ta đã có nhiều cơ quan, trung tâm, viện nghiên cứu về dư luận xã hội và
có nhiều nhiều công trình khoa học nghiên cứu về dư luận xã hội trên các lĩnh vực
xã hội. Nhưng nghiên cứu về dư luận xã hội liên quan đến lĩnh vực văn hoá, cụ thể
về bảo tồn giá trị các di tích đến nay vẫn còn thiếu vắng, đặc biệt những nghiên cứu
mang tính xã hội học lại càng ít hơn. Trong khi đó, dư luận xã hội lại có ảnh hưởng
rất sâu rộng đến đời sống văn hoá xã hội. Do đó, tác giả luận văn nghiên cứu về dư
luận xã hội trong lĩnh vực bảo tồn giá trị di tích để góp phần làm phóng phú những
nghiên cứu về dư luận xã hội ở Việt Nam.
Các nghiên cứu, bài viết về bảo tồn, phát huy giá trị di tích lịch sử văn hoá:
Trong những năm gần đây có nhiều nghiên cứu, bài viết về các di tích, giá trị di tích
lịch sử văn hoá, cách mạng, vai trò của di tích đối với đời sống của nhân dân trong cả
nước cũng như của Hà Nội. Việc bảo vệ di sản văn hóa là trách nhiệm của toàn dân
chứ không chỉ của riêng một ngành, cơ quan nào. Bảo tồn và phát huy các giá trị
văn hoá dân tộc được thể hiện cụ thể trong Nghị quyết hội nghị lần thứ 5 của ban
chấp hành TW khoá VIII. Hiện nay, có thể thấy các di tích ở Hà Nội đã được thành
phố đặc biệt quan tâm, nhiều di tích lịch sử văn hoá được gìn giữ và tôn tạo. Tuy

19


nhiên, nhiệm vụ bảo tồn, phát huy các giá trị của di tích lịch sử văn hóa vẫn còn
nhiều việc phải làm.
Liên quan đến vấn đề bảo tồn và phát huy giá trị các di tích cũng có những
nghiên cứu, bài báo, sách, hội thảo khoa học được tổ chức ở các cơ quan phụ trách
lĩnh vực này như: “Bảo tồn di tích lịch sử văn hoá” do PGS.TS. Trịnh Thị Minh
Đức chủ biên. “Gìn giữ và phát huy di sản văn hoá dân tộc” của tác giả Phạm Mai

nhưng chỉ thể hiện ở những nhận định trong giá trị tâm linh của các di tích lịch sử
văn hoá có tác động đến đời sống của người dân. Trong khi đó, dư luận xã hội về
tính thiêng của các di tích lịch sử văn hoá có tác động rất lớn đến việc bảo tồn giá
trị các di tích, hơn nữa, chưa có nghiên cứu xã hội học nào liên quan đến vấn đề
này. Vì vậy, luận văn đi vào nghiên cứu “Dư luận xã hội về tính thiêng của các di
tích lịch sử văn hoá đối với việc bảo tồn giá trị của các di tích này ở Hà Nội hiện
nay” để góp phần nhỏ cho việc bảo tồn, phát huy giá trị của các di tích lịch sử văn
hoá ở Hà Nội hiện nay.

1.4. Vài nét về địa bàn nghiên cứu
1.4.1. Di tích Phủ Tây Hồ
Phủ Tây Hồ nằm trên một bán đảo nhô ra giữa Hồ Tây, trước là một làng cổ
của kinh thành Thăng Long nằm ở phía đông của Hồ Tây. Đầu làng có một ngôi
Phủ thờ bà chúa Liễu Hạnh, một người đàn bà tài hoa, giỏi đàn ca, thơ phú, đức độ
nên đã được dân gian thần thánh hoá tôn làm Thánh Mẫu (Thánh Mẹ). Theo truyền
thuyết, Phủ Tây Hồ thờ Thánh mẫu Liễu Hạnh con gái Ngọc Hoàng Thượng đế vì
lỗi lầm đánh vỡ chén ngọc nên bị đày xuống trần gian triều Lê. Người tiên nữ ấy đã
ngang dọc một trời giúp dân an cư lập nghiệp, diệt trừ ma quái, trừng phạt tham
quan. Triều Nguyễn bà được nhà vua phong “Mẫu nghi thiên hạ”, là một trong bốn
vị thần “tứ bất tử” của Việt Nam. Cũng theo truyền thuyết, Phủ Tây Hồ là nơi hội
ngộ lần thứ 2 của công chúa Liễu Hạnh và Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan, cuộc
tao ngộ thơ văn giữa quan trạng với tiên nữ đã để lại cho làng Tây Hồ ngôi Phủ.
Phủ Tây Hồ với chiều dọc chừng 20m, rộng chừng 8m nhưng với kiến tạo
trình bày các cung bậc thơ đã mang đầy ý nghĩa tâm linh. Các công trình kiến trúc
của Phủ bao gồm cổng làm kiểu Tam Quan, kiến trúc chính 3 nếp (Tam toà Thánh
Mẫu): Phương đình, Tiền tế, Hậu cung; điện Sơn Trang, khu nhà khách, Lầu Cô,
Lầu Cậu.
Di tích Phủ Tây Hồ hiện còn lưu giữ được khối di vật khá phong phú và
mang giá trị lịch sử, văn hoá nghệ thuật thuộc thế kỷ XIX, XX như bộ tượng tròn
gần 30 pho, hoành phi, câu đối… đặc sắc là bức Đại tự ghi: “Thiên Tiên trắc giáng”

Chính và Bát Nạn Công chúa Phạm Thị Côn…
Hàng năm đền tổ chức ngày hội chính vào ngày 6/2 âm lịch, người dân
Đồng Nhân rước lễ từ đền ra bãi, nơi ngôi đền đã được dựng lên trước kia và tổ
chức cúng lễ, lấy nước giữa dòng sông về tắm tượng. Lễ hội ở Đền thờ Hai Bà
Trưng nhằm tưởng niệm những anh hùng dân tộc, những người có công với nước
với dân. Qua lễ hội biểu hiện rõ tình cảm “uống nước nhớ nguồn” trong tâm linh

22


người Việt. Khu di tích đền thờ Hai Bà Trưng đã được xếp hạng di tích Quốc gia
năm 1962.

23


CHƢƠNG 2:
VAI TRÒ CỦA DƢ LUẬN XÃ HỘI VỀ
TÍNH THIÊNG
ĐỐI VỚI VIỆC BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN
HÓA CỦA DI TÍCH
PHỦ TÂY HỒ VÀ ĐẾN THỜ HAI BÀ
TRƢNG
2.1. Cơ sở cho việc hình thành dư luận xã hội về tính thiêng ở di tích
Phủ Tây Hồ và Đền thờ Hai Bà Trưng
2.1.1. Sự tham gia của huyền thoại
Huyền thoại thường được hiểu là “những truyện về các vị thần, các nhân vật
được sùng bái hoặc có quan hệ nguồn gốc với các vị thần, về các thế hệ xuất hiện
trong thời gian ban đầu (thời gian khởi nguyên), tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp
vào việc tạo lập thế giới cũng như việc tạo lập nên những nhân tố của nó - thiên

truyền tụng rộng khắp cả nước.
Theo cuốn “Làng Tây Hồ - Phủ Tây Hồ” của tác giả Hoàng Giáp và Trương
Công Đức nói về ba lần giáng trần của Mẫu Liễu Hạnh thể hiện Mẫu là một người
tài sắc, chung thuỷ, hiếu nghĩa, là một người phóng khoáng, trong truyền thuyết
này tác giả có nói đến cuộc hội ngộ của Tiên chúa với Phùng Khắc Khoan ở Hồ
Tây. Lần thứ ba giáng trần, Tiên chúa hiển linh để cứu nhân độ thế, trừng phạt kẻ
bất lương, lại gia ơn cho kẻ khác và được triều đình phong là Mã Hoàng Công
chúa, rồi Chế Thắng Hoà Diệu Đại Vương, được ghi vào tự điển thờ cúng hàng Tứ
bất tử.
Huyền thoại về Mẫu Liễu ở các địa phương được ghi trong các tác phẩm có
một số điểm khác so với tác phẩm trên, Mẫu có 3 lần sinh hoá: Lần thứ nhất đầu
thai vào gia đình ở Quảng Nạp (Vỉ Nhuế), huyện Ý Yên với tên là Phạm Thị Nga.
Mẫu giáng sinh lần hai ở Vân Cát nay là huyện Vụ Bản, Nam Định, đầu thai vào
nhà họ Lê tên là Lê Thị Thắng. Năm 18 tuổi lấy chồng là Đào Lang ở Tiên Hương
cùng xã, ba năm sau lại qua đời, để lại người con trai (không phải là một con trai và

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status