i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là
hoàn toàn trung thực, là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi, được thực hiện
trên cơ sở nghiên cứu lý thuyết, nghiên cứu và khảo sát tình hình thực tiễn và
dưới sự hướng dẫn khoa học của Tiến Sĩ Lê Thu Huyền.
Các số liệu, những kết quả trong luận văn là trung thực, chưa từng được
công bố dưới bất cứ hình thức nào trước khi trình, bảo vệ và công nhận bởi “Hội
đồng đánh giá luận văn tốt nghiệp Thạc sỹ kinh tế nông nghiệp”.
Một lần nữa tôi xin khẳng định sự trung thực của lời cam kết trên.
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Kiều Trang
ii
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến cô
giáo Tiến Sĩ Lê Thu Huyền, người đã tận tình hướng dẫn giúp đỡ em hoàn thành
trong suốt quá trình viết luận văn tốt nghiệp.
Em chân thành cảm ơn quý Thầy, cô trong trường Đại học Lâm Nghiệp
Việt Nam đã tận tình truyền đạt kiến thức trong 2 năm học tập. Với vốn kiến
thức được tiếp thu trong quá trình học không chỉ là nền tảng cho quá trình
nghiên cứu luận văn mà còn là hành trang để em tiếp tục sự nghiệp học tập và
nghiên cứu khoa học sau này.
Xin chân thành cảm ơn các cơ quan: Phòng Nông nghiệp huyện Đồng Hỷ,
Phòng thống kê huyện Đồng Hỷ, UBND huyện Đồng Hỷ, sở NN-PTNT, sở
Công thương, Cục thống kê, UBND thành phố Thái Nguyên đã cho phép thu
thập thông tin số liệu trong quá trình nghiên cứu đề tài.
2.1.3. Một số chỉ tiêu kinh tế xã hội chủ yếu của huyện giai đoạn 2011-2013....41
2.1.4. Đánh giá những thuận lợi, khó khăn trong phát triển sản xuất nông
nghiệp ở huyện Đồng Hỷ .............................................................................. 43
2.2. Phương pháp nghiên cứu........................................................................... 45
iv
2.2.1. Phương pháp thu thập số liệu.............................................................. 45
2.2.2. Phương pháp phân tích số liệu ............................................................ 47
Chương 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ............................................................... 49
3.1.Tình hình sản xuất chè của huyện Đồng Hỷ .............................................. 49
3.2. Thực trạng hiệu quả sản xuất chè các hộ vùng nghiên cứu ...................... 61
3.2.1. Đặc điểm chung các hộ vùng nghiên cứu ........................................... 61
3.2.2. Thực trạng sản xuất chè của các hộ nghiên cứu ................................. 65
3.2.3. Kết quả sản xuất chè của các nhóm hộ ............................................... 73
3.2.4. Hiệu quả sản xuất chè của hộ nghiên cứu........................................... 74
3.2.5. Mô hình hồi quy các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất chè .. 76
3.3. So sánh hiệu quả sản xuất chè và cây trồng khác ..................................... 78
3.4. Đánh giá tác động của phát triển sản xuất chè trên địa bàn huyện Đồng Hỷ...80
3.5. Đánh giá thực trạng hiệu quả sản xuất kinh doanh chè của huyện Đồng Hỷ
3.5.1. Mô hình SWOT................................................................................... 82
3.5.2. Thành công đạt được của huyện Đồng Hỷ ......................................... 83
3.5.3. Hạn chế và nguyên nhân của hạn chế ................................................ 83
3.6. Những quan điểm, phương hướng, mục tiêu của sản xuất và nâng cao hiệu
quả kinh tế sản xuất chè tại Huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên. ................... 92
3.6.1. Những quan điểm, phương hướng, mục tiêu của sản xuất và nâng cao
hiệu quả kinh tế sản xuất chè tại Huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên ......... 92
3.6.2. Mục tiêu nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất chè của các hộ nông dân
tại huyện Đồng Hỷ ........................................................................................ 92
Bảo vệ thực vật
CLĐ
Công lao động
GO
Giá trị sản xuất
HQKT
Hiệu quả kinh tế
HTX
Hợp tác xã
IC
Chi phí trung gian
MI
Thu nhập hỗn hợp
NHCSXH
Ngân hàng chính sách xã hội
TT
Trang
2.1
Tình hình sử dụng đất của huyện Đồng Hỷ
37
2.2
Tình hình dân số và lao động huyện Đồng Hỷ 2011-2013
39
2.3
Một số chỉ tiêu kinh tế chủ yếu huyện Đồng Hỷ 2011-2013
42
3.1
Diện tích chè của huyện Đồng Hỷ qua 3 năm 2011 – 2013
52
Diện tích, năng suất, sản lượng chè kinh doanh của huyện Đồng Hỷ
3.7
Tình hình sản xuất chè của hộ
65
3.8
Chi phí sản xuất chè của hộ
68
3.9
Chi phí sản xuất chè tính trên 1 sào năm 2013
70
3.10
Hình thức tiêu thụ tại vùng nghiên cứu
72
Chỉ tiêu đánh giá kết quả sản xuất chè theo loại hình sản xuất năm
73
3.11
Sản lượng chè của hộ nghiên cứu năm 2013
87
3.17
Mức đầu tư của hộ năm 2013
88
viii
DANH MỤC CÁC HÌNH
Tên hình
TT
Trang
1.1
Quy trình sản xuất chè xanh thành phẩm
15
2.1
Bản đồ hành chính huyện Đồng Hỷ
55
3.5
Sơ đồ tiêu thụ sản phẩm chè
59
3.6
Diện tích đất của hộ
65
3.7
Năng suất sản lượng chè của hộ
66
3.8
Kết quả sản xuất chè của hộ
74
3.9
Thu nhập bình quân đầu người huyện Đồng Hỷ giai đoạn 2011-2013
vị đậm đà khác biệt mà không nơi nào sánh được. Với sự ưu đãi về điều kiện tự
nhiên, khí hậu, đất đai nơi đây thích hợp cho sự sinh trưởng, phát triển cây chè
và trở thành vùng chè nổi tiếng trong cả nước.
Đồng Hỷ là một huyện nằm phía Đông Bắc của tỉnh Thái Nguyên, diện
tích trồng chè tập trung chủ yếu ở các xã phía Bắc và phía Nam của huyện. Theo
đánh giá về hiệu quả kinh tế của huyện thì cây chè là cây cho thu nhập tương đối
ổn định so với các cây trồng khác. Cây chè được xem là cây trồng mũi nhọn,
góp phần xoá đói giảm nghèo, giải quyết việc làm ổn định cho hàng vạn lao
động, đồng thời đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế ở tỉnh. Tuy nhiên,
diện tích trồng chè của huyện chưa được mở rộng như tiềm năng đất đai vốn có,
năng suất, chất lượng, giá cả chè của huyện còn chưa cao, chưa xứng với tiềm
năng của huyện. Vì vậy tôi đã lựa chọn đề tài luận văn là “Đánh giá hiệu quả
kinh tế sản xuất chè của các hộ nông dân trên địa bàn huyện Đồng Hỷ, tỉnh
Thái Nguyên”, để nhận diện các yếu tố tác động đến quá trình sản xuất – chế
biến – tiêu thụ chè của các hộ nông dân nhằm tìm ra các giải pháp phát triển sản
xuất, chế biến tiêu thụ chè của vùng.
2
2. Mục tiêu nghiên cứu
- Mục tiêu tổng quát
Trên cơ sở đánh giá kết quả và hiệu quả sản xuất kinh doanh, đề xuất các
giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất chè, nâng cao thu nhập của
các hộ nông dân tại huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên.
- Mục tiêu cụ thể
+ Hệ thống hoá và luận giải các cơ sở lý luận về hiệu quả kinh tế sản
xuất chè.
+ Phân tích đánh giá thực trạng hiệu quả kinh tế và xác định các nhân tố ảnh
hưởng tới hiệu quả kinh tế sản xuất chè trên địa bàn huyện Đồng Hỷ, Thái Nguyên.
1.1.1.1. Khái niệm hộ nông dân
Về hộ nông dân, tác giả Frank Ellis định nghĩa “Hộ nông dân là các hộ
gia đình làm nông nghiệp, tự kiếm kế sinh nhai trên những mảnh đất của mình,
sử dụng chủ yếu sức lao động của gia đình để sản xuất, thường nằm trong hệ
thống kinh tế lớn hơn, nhưng chủ yếu đặc trưng bởi sự tham gia cục bộ vào các
thị trường và có xu hướng hoạt động với mức độ không hoàn hảo cao” [13]
Nhà khoa học Traianop cho rằng “Hộ nông dân là đơn vị sản xuất rất ổn
định” và ông coi “Hộ nông dân là đơn vị tuyệt với để tăng trưởng và phát triển
nông nghiệp” [6,8,20]
Luận điểm trên của ông đã được áp dụng rộng rãi trong chính sách nông
nghiệp tại nhiều nước trên thế giới, kể cả các nước phát triển. Đồng tình với
quan điểm trên của Traianop, hai tác giả Mats Lundahl và TommyBengtsson bổ
sung và nhấn mạnh thêm “Hộ nông dân là đơn vị sản xuất cơ bản”. Chính vì
vậy, cải cách kinh tế ở một số nước những thập kỷ gần đây đã thực sự coi hộ
nông dân là đơn vị sản xuất tự chủ và cơ bản, từ đó đã đạt được tốc độ tăng
trưởng nhanh trong sản xuất nông nghiệp và phát triển nông thôn.
Ở nước ta, có nhiều tác giả đề cập đến khái niệm hộ nông dân. Theo nhà
khoa học Lê Đình Thắng (1993) cho rằng: “Nông hộ là tế bào kinh tế xã hội, là
hình thức kinh tế cơ sở trong nông nghiệp và nông thôn”. Đào Thế Tuấn (1997)
cho rằng “Hộ nông dân là những hộ chủ yếu hoạt động nông nghiệp nghĩa rộng,
bao gồm cả nghề rừng, nghề cá và hoạt động phi nông nghiệp ở nông thôn”[16].
Còn theo nhà khoa học Nguyễn Sinh Cúc, trong phân tích điều tra nông thôn
4
năm 2001 cho rằng “Hộ nông nghiệp là những hộ có toàn bộ hoặc 50% số lao
động thường xuyên tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp các hoạt đông trồng trọt,
chăn nuôi, dịch vụ nông nghiệp (làm đất, thuỷ nông, giống cây trồng, bảo vệ
thực vật...) và thông thường nguồn sống chính của hộ dựa vào nông nghiệp” [5]
bằng các chu kỳ, mang tính chất vùng, có các thời kỳ trị trệ và tiến lên. Do đó
các nước đi sau có thể đuổi kịp, thậm chí có thể vượt các nước đi trước. Phải đi
lên chủ nghĩa xã hội bằng cách phục hồi nền văn minh nông dân, chủ yếu là
cộng đồng nông thôn và hợp tác xã thủ công nghiệp. Chỉ có bằng cách này mới
tránh được các nhược điểm của chủ nghĩa xã hội.
Theo Frank Eliss: “Kinh tế hộ nông dân là kinh tế của những hộ gia đình
có quyền sống trên mảnh đất sử dụng chủ yếu sức lao động của gia đình. Sản
xuất của họ nằm trong hệ thống sản xuất lớn hơn và tham gia ở mức độ không
hoàn hảo và hoạt động của thị trường”.[13]
K.Max và PL.Anghen lúc đầu nghiên cứu hộ các ông cho rằng: “Kinh tế
hộ nông dân vốn bị hạn chế nên cần được cải tạo nó mới có thể phát triển nông
nghiệp xã hội ngày càng cao”. Lúc đầu các ông dự toán kinh tế hộ nông dân
hoàn toàn bị phá bỏ trong điều kiện phát triển nền đại công sau đó các ông thừa
nhận. Ở Anh cho thấy phát triển nông nghiệp không giống phát triển công
nghiệp trong đó phát triển nông nghiệp họ tỏ ra ưu thế hơn.
Kinh tế hộ nông dân là hình thức tổ chức kinh tế cơ sở của nền sản xuất
kinh tế xã hội, trong đó các nguồn lực đất đai, lao động tiền vốn và tư liệu sản
xuất được coi là chung để tiến hành sản xuất: Có chung ngân quỹ, ở chung một
nhà, ăn chung, mọi quyết định trong sản xuất kinh doanh và đời sống xã hội là tuỳ
thuộc vào chủ hộ, được nhà nước thừa nhận, hỗ trợ và tạo điều kiện phát triển.
Do vậy tự những thành viên trong hộ lao động nên không có khái niệm
tiền lương. Hộ nông dân chỉ có thu nhập chung của tất cả các hoạt động kinh tế.
Đó là sản xuất lương thực thu được hàng năm của hộ trừ đi chi phí mà họ đã bỏ
ra để phục vụ cho quá trình sản xuất.
1.1.1.3. Đặc điểm cơ bản của kinh tế hộ nông dân
Phát triển kinh tế hộ nông dân rất đa dạng nhưng tựu chung lại kinh tế hộ
nông dân có nhưng đặc điểm cơ bản sau:
6
7
Kinh tế hộ nông dân sử dụng sức lao động và tiền vốn của hộ là chủ yếu,
song kinh tế hộ nông dân cũng có giới hạn nhất định đó là trong sản xuất các hộ
cần phải có sự hợp tác, đoàn kết để giải quyết các vấn đề thủy lợi, phòng trừ sâu
bệnh, áp dụng phương pháp kỹ thuật vào sản xuất. Và không thể thiếu được sự
cần thiết của kinh tế nhà nước, kinh tế hợp tác, kinh tế tư nhân cùng nhiều nhân
tố khác trong việc hướng dẫn và hỗ trợ kinh tế hộ nông dân phát triển. Vì thế khi
nghiên cứu kinh tế hộ nông dân cần phải nắm rõ đặc điểm cơ bản của nó cũng
như thấy được sự khác nhau giữa kinh tế hộ với các loại hình kinh tế.
1.1.1.4. Phân loại kinh tế hộ nông dân
Kinh tế nông hộ được chia thành bốn loại căn cứ vào tính chất, đặc điểm sau:
a. Căn cứ vào mục tiêu và cơ chế hoạt động:
Hộ nông dân hoàn toàn tự cấp không phản ứng với thị trường: Loại hộ
này có mục tiêu tối đa hoá lợi ích, tự cấp tự túc những sản phẩm cần thiết để
phục vụ trong gia đình
Hộ nông dân bắt buộc có phản ứng với thị trường: Loại hộ này còn gọi là
“nửa tự cấp”, ở đây hộ có phản ứng với thị trường, giá cả nhưng ở mức độ thấp.
Hộ nông dân sản xuất hàng hoá là chủ yếu: Loại hộ này mục tiêu là tối
đa hoá lợi nhuận được biểu hiện rõ rệt và họ có phản ứng gay gắt với thị trường
bốn, đất đai, lao động...
b. Theo tính chất sản xuất
Nông hộ kiêm: Là loại hộ vừa làm nông nghiệp vừa làm nghề tiểu thủ
công nghiệp hay kiêm các loại cây trồng khác nhau và không coi loại cây trồng
nào là sản xuất chính.
Nông hộ chuyên: Là loại hộ làm dịch vụ kỹ thuật cho nông nghiệp hay là
loại hộ chỉ chuyên trồng một loại cây trồng nhất định (chuyên lúa, chuyên chè,
chuyên cà phê....)
Nông hộ buôn bán: Loại hộ tập trung ở nơi dân đông, họ có quầy hàng
riêng hoặc bán buôn ở chợ.
+Hộ du canh định cư : Là hộ có nơi ở ổn định nhưng nơi canh tác thay
đổi liên tục.
+Hộ định canh định cư: Là hộ có nơi ở và nơi canh tác ổn định, không
thay đổi trong một thời gian dài.
1.1.2. Lý luận về hiệu quả kinh tế và hiệu quả kinh tế của sản xuất chè
1.1.2.1. Lý luận về hiệu quả kinh tế
a. Quan điểm về hiệu quả kinh tế
Dựa trên các cách tiếp cận về hiệu quả kinh tế khác nhau có những quan
điểm về hiệu quả khác nhau.
9
Theo quan điểm của Các Mác hiệu quả kinh tế là việc: Tiết kiệm và phân
phối một cách hợp lý về thời gian lao động sống và lao động vật hoá giữa các
ngành và đó cũng chính là quy luật “Tiết kiệm và tăng năng suất lao động” hay
là hiệu quả. C.Mac cũng cho rằng “Nâng cao năng suất lao động là cơ sở của tất
cả mọi xã hội”. Để đạt hiệu quả bằng cách thức lao động chính là một sự thay
đổi làm rút ngắn thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra hàng hoá mà
với số lượng ít hơn mà tạo được ra nhiều giá trị sử dụng hơn.
Một số các nhà kinh tế khác cho rằng “Hiệu quả của nền sản xuất xã hội là
tăng năng suất lao động”. Hay có quan điểm lại khẳng định rằng “Hiệu quả kinh
tế được biểu hiện là mối quan hệ tương quan so sánh kết quả sản xuất đạt được
và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó” được nhìn nhận trên cả hai mặt tương
đối và tuyệt đối có thể nhận thất quan điểm nảy như sau:
Hiệu quả trước hết được đo bằng hiệu số giữa kết quả sản xuất đạt được
và lượng chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó. Với cách tiếp cận này quan điểm
mới chỉ tiếp cận về hiệu quả trên giác độ về quy mô của hiệu quả. Với quan
điểm này vẫn chưa phản ánh được đầy đủ hiệu quả vì trong điểu kiện nguồn lực
khan hiếm các đơn vị phải sản xuất làm sao cho đạt hiệu quả tối đa nhất...
thiện điều kiện sống và làm việc, cải tạo môi trường, môi sinh, nâng cao đời
sống tinh thần và văn hoá cho nhân dân, tức là đạt được hiệu quả xã hội.
Căn cứ vào yêu cầu tổ chức và quản lý kinh tế các cấp, các ngành hiệu
quả chia thành: Hiệu quả kinh tế quốc dân, hiệu quả kinh tế vùng lãnh thổ, hiệu
quả kinh tế của khu vực sản xuất và vật chất, chi phí vật chất và hiệu quả kinh tế
xí nghiệp, doanh nghiệp. Hoặc nếu căn cứ theo các yếu tố cơ bản của sản xuất
và phương hướng tác động vào sản xuất và căn cứ vào hiệu quả sản xuất và sử
dụng sản phẩm xã hội. Hiệu quả được chia làm nhiều loại.
Đối với các nông hộ, hiệu quả kinh tế căn cứ theo các yếu tố cơ bản và các
yếu tố ảnh hưởng đến sản xuất bao gồm: Hiệu quả sử dụng lao động, hiệu quả về
sử dụng vốn, máy móc, thiết bị, hiệu quả của các biện pháp khoa học kỹ thuật.
Hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế xã hội phản ánh mặt chất của
các hoạt động sản xuất kinh doanh và là đặc trưng cho mọi hình thái xã hội. Bản
chất của hiệu quả kinh tế có thể được hiểu như sau:
11
+ Hiệu quả kinh tế là quan hệ so sánh, đo lường cụ thể quá trình sử dụng
các yếu tố sản xuất (đất đai,vốn, lao động, khoa học kỹ thuật, tiến bộ quản lý...)
đề tạo ra khối lượng sản phẩm lớn hơn với chất lượng cao hơn.
+ Hiệu quả kinh tế phải được gắn liền với kết quả của những hoạt động
sản xuất cụ thể trong các doanh nghiệp, nông hộ và nền sản xuất xã hội ở những
điều kiện xác định về thời gian và hoàn cảnh kinh tế.
+ Hiệu quả kinh tế phải lượng hoá cụ thể việc sử dụng các yếu tố đầu
vào (chi phí) và các yếu tố đầu ra (kết quả) trong quá trình sản xuất ở từng đơn
vị, ngành, nền sản xuất xã hội trong từng thời kỳ nhất định, các doanh nghiệp
với mục đích là tiết kiệm, lợi nhuận tối đa trên cơ sở khối lượng sản phẩm hàng
hoá nhiều nhất với các chi phí tài nguyên và lao động thấp nhất. Do đó, hiệu quả
kinh tế liên quan trực tiếp đến yếu tố đầu vào và đầu ra của quá trình sản xuất.
mức độ sử dụng các nguồn lực, xem xét được một đơn vị nguồn lực mang lại
hiệu quả là bao nhiêu. Vì vậy nó giúp cho việc đánh giá HQKT của các đơn vị
sản xuất một cách rõ nét. Tuy nhiên cách tính này cũng có nhược điểm là chưa
thể hiện được quy mô HQKT vì trên thực tế những quy mô khác nhau nhưng lại
có hiệu quả sử dụng vốn như nhau.
Trong thực tế khi đánh giá HQKT người ta thường kết hợp giữa công thức
1 và 2 để chúng bổ sung cho nhau, qua đó đánh giá được HQKT một cách sâu
sắc toàn diện.
Công thức 3: H = ∆Q - ∆C
Trong đó H là HQKT tăng thêm
∆Q là kết quả tăng thêm
∆C là chi phí tăng thêm
Chỉ tiêu này càng lớn thì hiệu quả càng cao. Công thức này thể hiện rõ
mức độ hiệu quả của đầu tư thêm và nó được dùng kết hợp với công thức 4 để
phản ánh toàn diện HQKT hơn.
Công thức 4: + H = ∆Q/∆C hoặc + H = ∆C /∆Q
13
Công thức này thể hiện rõ HQKT của việc đầu tư hay tăng thêm chi phí,
nó thường được sử dụng để xác định HQKT theo chiều sâu hoặc của việc áp
dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật. Tỷ suất này giúp cho các nhà sản xuất xác định
được điểm tối đa lợi nhuận để đưa ra những quyết định sản xuất tối ưu nhất. Tuy
nhiên chỉ tiêu này chưa phân tích được tác động, ảnh hưởng của các yếu tố tự
nhiên như đất đai, khí hậu...
Trong thực tế sản xuất khi đánh giá HQKT ta thường kết hợp các công
thức lại với nhau để chúng bổ sung cho nhau. Như vậy việc đánh giá HQKT sẽ
chính xác và toàn diện hơn. Tuỳ thuộc từng trường hợp mà ta lựa chọn chỉ tiêu
cho phù hợp với điều kiện sản xuất.
Một năm chè có thể cho thu hoạch từ 7 – 8 lứa chè và chia làm hai vụ là
vụ mùa và vụ đông, giá cả chè khô được tính tuỳ theo chất lượng, giống chè và
tuỳ thuộc vào vụ đông hay vụ mùa. Vụ đông giá cả cao hơn nhưng năng suất
kém hơn vụ mùa và ngược lại. Để phát triển sản phẩm chè trở thành hàng hoá
đạt chất lượng cao cần phải quan tâm, chú trọng từ những khâu đầu tiên, áp
dụng kỹ thuật, có những chính sách đầu tư hợp lý, loại bỏ dần những phong tục
tập quán trồng chè lạc hậu..., để tạo ra được những sản phẩm hàng hoá có sức
cạnh tranh cao, thu hút khách hàng và các nhà đầu tư sản xuất trong và ngoài
nước. Nếu coi cây chè là cây trồng mũi nhọn thì cần phải thực hiện theo hướng
chuyên môn hoá để nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm chè, góp phần tăng
thu nhập cải thiện đời sống người dân trồng chè.
Vùng Trung du miền núi với những đặc điểm thổ nhưỡng và địa hình rất
phù hợp với sự phát triển cây chè. Những nơi đất chua, dốc thoải, dễ thoát nước,
đất đổ mùn sâu hoặc cát pha thích hợp cho sự phát triển cây chè. Chè trồng được
ở những nơi có độ cao hơn so với mức nước biển có chất lượng tốt hơn chè
trồng ở vùng thấp.
Sản xuất, chế biến và tiêu thụ chè nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng
về số lượng và chất lượng của người tiêu dùng, đòi hỏi phải thực hiện đồng bộ
các biện pháp kỹ thuật từ khâu trồng mới, chăm sóc, chế biến và có chiến lược
maketing tiêu thụ sản phẩm thích hợp.
15
b. Quy trình sản xuất chè
-
Sản xuất chè
Sản xuất là quá trình làm ra sản phẩm để sử dụng hoặc để trao đổi buôn
16
Giai đoạn đầu là giai đoạn khó khăn nhất, người nông dân phải bắt đầu
từ việc trồng chè, chăm sóc nương chè con.
Trồng chè để thu hoạch búp và lá non làm nguyên liệu chế biến chè
thương phẩm. Ngoài yếu tố giống và địa hình, mọi biện pháp kỹ thuật trồng trọt
được áp dụng trong quá trình sản xuất chè đều có ảnh hưởng rất lớn đến phẩm
chất chè nguyên liệu, dẫn đến ảnh hưởng đến phẩm chất chè thành phẩm. Đó là
một đặc điểm trong sản xuất chè khác với các cây trồng khác.
Đất trồng chè thường ở vùng Trung du và miền núi có độ dốc cao, địa
hình phức tạp cho nên vấn đề cơ giới hóa và sử dụng những công cụ cải tiến
trong canh tác thường gặp nhiều khó khăn. Song nghiên cứu cơ giới hóa trong
sản xuất chè nhằm giảm bớt lao động là một vấn đề rất cần thiết, nhất là trong
điều kiện sản xuất lớn. Mặt khác, chè thường trồng ở đất đồi núi có độ dốc cao
nên phải chống xói mòn và rửa trôi đất. Biện pháp canh tác không hợp lý không
chú ý tới vấn đề bảo vệ đất chống xói mòn, thì sẽ ảnh hưởng rất lớn đến quá
trình sinh trưởng của cây về sau. Biện pháp chống xói mòn, bảo vệ đất, phải là
biện pháp canh tác tổng hợp có hệ thống, lâu dài và phải thấy trước.
Giống chè ảnh hưởng đến năng suất búp, chất lượng nguyên liệu do đó
cũng ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm chè, đến hiệu quả sản xuất kinh doanh
và cạnh tranh trên thị trường. Mỗi sản phẩm chè đòi hỏi một nguyên liệu nhất
định, mỗi vùng, mỗi điều kiện sinh thái lại thích hợp cho một hoặc một số giống
chè. Vì thế, để góp phần đa dạng hóa sản phẩm chè và tận dụng lợi thế so sánh
của mỗi vùng sinh thái cần đòi hỏi một tập đoàn giống thích hợp với điều kiện
mỗi vùng.
Mật độ trồng chè: Để có năng suất cao cần đảm bảo mật độ trồng chè cho
thích hợp, mật độ trồng chè phụ thuộc vào giống chè, độ giốc,điều kiện cơgiới
hóa. Nhìn chung tùy điều kiện mà ta bố trí mật độ chè khác nhau, nếu mật độ
quá thưa hoặc quá dầy thì sẽ làm cho năng suất sản lượng thấp, lâu khép tán,
sinh trưởng của cây chè, tăng năng suất và chất lượng chè. Trong quá trình sinh