BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
LÊ VĂN SƠN
NGHIÊN CỨU TRI THỨC BẢN ĐỊA TRONG QUẢN LÝ,
SỬ DỤNG TÀI NGUYÊN RỪNG CỦA NGƯỜI K’HO
TẠI VƯỜN QUỐC GIA BIDOUP – NÚI BÀ
TỈNH LÂM ĐỒNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
Hà Nội, 2012
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
LÊ VĂN SƠN
NGHIÊN CỨU TRI THỨC BẢN ĐỊA TRONG QUẢN LÝ,
SỬ DỤNG TÀI NGUYÊN RỪNG CỦA NGƯỜI K’HO
TẠI VƯỜN QUỐC GIA BIDOUP – NÚI BÀ
TỈNH LÂM ĐỒNG
Trước tiên, tác giả xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến quý thầy,
cô giáo đã giảng dạy trong chương trình học tập của lớp cao học Lâm học khoá 18,
quý thầy, cô công tác tại khoa Đào tạo sau đại học và quý thầy, cô công tác tại Cơ
sở 2 - Trường Đại học Lâm nghiệp Việt Nam.
Tác giả cũng xin chân thành cảm ơn Ban Giám đốc và các bạn đồng nghiệp
đang công tác tại Vườn quốc gia Bidoup-Núi Bà, tỉnh Lâm Đồng đã tạo điều kiện
về thời gian và giúp đỡ tác giả cả về vật chất và tinh thần trong quá trình thực hiện
luận văn.
Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Th.s. Lương Văn Dũng, Th.s
Hoàng Hữu Cải giúp đỡ chọn lĩnh vực nghiên cứu của luận văn.
Đặc biệt tác giả xin bày tỏ lòng tri ân sâu sắc đến PGS.TS. Phạm Xuân Hoàn,
người đã hết lòng giúp đỡ và hướng dẫn tận tình để tác giả hoàn thành luận văn tốt
nghiệp.
Mặc dầu đã rất cố gắng trong quá trình thực hiện, song luận văn này sẽ
không tránh khỏi những thiếu sót. Tác giả rất mong nhận được sự góp ý của quý
thầy, cô và các bạn đồng nghiệp.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Lê Văn Sơn
iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ............................................................................................................. i
LỜI CẢM ƠN ................................................................................................................. ii
MỤC LỤC ......................................................................................................................iii
DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT..................................................................... vi
DANH MỤC CÁC BẢNG ............................................................................................. vi
DANH MỤC CÁC HÌNH ............................................................................................. vii
2.5.3. Xử lý nội nghiệp ....................................................................................... 27
Chương 3. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA VQG
BIDOUP-NÚI BÀ ........................................................................................................ 28
3.1. Điều kiện tự nhiên............................................................................................ 28
3.1.1. Vị trí – Diện tích ....................................................................................... 28
3.1.2. Địa hình .................................................................................................... 29
3.1.3. Khí hậu ..................................................................................................... 30
3.1.4. Những đặc trưng về rừng và thực vật rừng .............................................. 31
3.1.5. Khu hệ động vật ....................................................................................... 33
3.2. Điều kiện kinh tế - xã hội ................................................................................ 34
Chương 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN ..................................... 35
4.1. Vai trò và vị thế của người K’ho tại khu vực nghiên cứu ............................... 35
4.1.1. Nguồn gốc, lịch sử di cư và phát triển của người K’ho tại VQG BidoupNúi Bà ................................................................................................................. 35
4.1.2. Đặc tính dân cư ......................................................................................... 37
4.1.3 Tỉ lệ nghèo đói ........................................................................................... 40
4.1.4. Giáo dục ................................................................................................... 41
4.1.5. Y tế ........................................................................................................... 42
4.1.6. Sản xuất nông nghiệp ............................................................................... 42
4.1.7. Sản xuất lâm nghiệp ................................................................................. 44
4.2. Tri thức bản địa của người K’ho trong quản lý, sử dụng tài nguyên rừng. ..... 46
4.2.1. Tri thức bản địa trong quản lý tài nguyên rừng ........................................ 46
4.2.2. Tri thức bản địa trong sử dụng lâm sản .................................................... 55
4.3. Tri thức bản địa trong sinh kế của cộng đồng địa phương .............................. 64
4.3.1. Trường hợp nghiên cứu điểm ở bon Đưng Ia Giêng ................................ 64
4.3.2. Ở các điểm nghiên cứu khác: ................................................................... 67
4.3.3. Tri thức bản địa đối với công tác bảo tồn của VQG Bidoup-Núi Bà ....... 69
v
Kinh tế - Xã hội
PRA
Phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia
QLBVR
Quản lý bảo vệ rừng
UBND
Ủy ban nhân dân
UNESCO
Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hiệp quốc
VQG
Vườn quốc gia
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1. Hiện trạng rừng và đất rừng của VQG Bidoup – Núi Bà .....................31
Bảng 4.1. Tình hình dân cư tại khu vực nghiên cứu .............................................38
Bảng 4.2. Thành phần dân tộc khu vực nghiên cứu .............................................39
Bảng 4.3. Cơ cấu dân cư theo tuổi lao động .........................................................40
Bảng 4.4. Số hộ nghèo tại các xã nghiên cứu .......................................................41
Bảng 4.5. Cơ cấu học sinh phân theo cấp học ......................................................41
Bảng 4.6. Năng suất các loại cây trồng chính.......................................................43
chiếm 67,5% tổng số hộ trong các cộng đồng dân tộc đang sinh sống ở đây. Trải
qua hàng trăm năm tồn tại và phát triển trên mảnh đất cao nguyên hùng vĩ nhưng
đầy khắc nghiệt này, bao thế hệ người K’ho đã đúc kết kinh nghiệm và xây dựng
cho mình một hệ thống tri thức hết sức phong phú về rừng. Những tri thức này đã
hình thành, được bảo lưu và phát triển cùng với người K’ho và nhờ đó họ đã sống
hài hòa với rừng từ bao đời nay. Tuy nhiên, cùng với thời gian và sự du nhập mạnh
mẽ của văn hóa và công nghệ mới từ bên ngoài vào, những tri thức bản địa của
người K’ho đang bị mai một và sự hài hòa này đã và đang bị phá vỡ nhanh chóng.
Khi một người già trong cộng đồng mất đi luôn đồng nghĩa với việc cả một kho
tàng tri thức cũng mất theo.
Trong nỗ lực để quản lý bền vững tài nguyên rừng của VQG Bidoup – Núi
Bà, có hai vấn đề quan trọng được đặt ra là: (1) làm thế nào để cộng đồng có thể
dựa vào nội lực của chính mình để ổn định được đời sống và hướng tới phát triển
bền vững?, và (2) làm thế nào để có thể kết hợp các nỗ lực phát triển của cộng đồng
với việc bảo tồn tài nguyên thiên nhiên hay thực chất là làm thế nào để giải quyết
xung đột lợi ích giữa mục tiêu bảo tồn của VQG với mục tiêu đảm bảo sinh kế cho
cộng đồng?. Các nhà quản lý của VQG Bidoup – Núi Bà, với sự hỗ trợ của Chính
phủ và các tổ chức trong và ngoài nước đã đầu tư nhiều công sức và cả tiền bạc để
hướng tới mục tiêu phát triển bền vững đó. Tuy nhiên, thực tế là những thành công
chưa được như mong đợi. Việc tách người dân ra khỏi những tri thức bản địa truyền
thống của họ trong nỗ lực phát triển bền vững đã dẫn tới những kết quả hạn chế của
các chương trình, dự án phát triển tại VQG.
Tri thức bản địa là một khái niệm được sử dụng rộng rãi vào đầu những năm
90 của thế kỷ XX. Các nhà khoa học sau nhiều thế kỷ hồ hởi chinh phục thiên nhiên
và coi nhẹ những kinh nghiệm sống hàng ngày của người dân ở nhiều nơi trên thế
2
giới, đã chợt nhận ra tầm quan trọng của tri thức bản địa trong mọi lĩnh vực của đời
1998) [35].
Frederico Mayor (1997)1 đã nhận định “Dựa vào hàng thế kỷ sống gần gũi
với thiên nhiên, các dân tộc bản địa trên thế giới sở hữu những kho tàng tri thức
khổng lồ về môi trường. Sống trong tự nhiên và lớn lên cùng sự giàu có và đa dạng
của hệ sinh hái phức tạp, họ có sự hiểu biết về những đặc tính của cây cối và động
vật, các chức năng của hệ sinh thái và những kỹ thuật sử dụng và quản lý chúng một
cách đặc thù và phù hợp. Ở các cộng đồng nông thôn ở các nước đang phát triển,
người dân địa phương (có khi là hoàn toàn) sống dựa vào những sản vật địa phương
từ thức ăn, thuốc chữa bệnh, nhiên liệu, vật liệu xây dựng và các sản phẩm khác.
Tương thích với điều đó, kiến thức và quan niệm của người dân về môi trường và
mối quan hệ của họ với môi trường trở thành những thành tố quan trọng hình thành
nên bản sắc văn hóa” [46].
Louise Grenier (1998) lại xem “Kiến thức bản địa là vốn kiến thức duy nhất,
truyền thống và của một địa phương, tồn tại và phát triển dưới các điều kiện cụ thể
của những người dân bản địa trong một khu vực địa lý nhất định. Sự phát triển của
hệ thống kiến thức bản địa trong tất cả các khía cạnh của cuộc sống, kể cả việc quản
1
Nguyên Tổng giám đốc UNESCO
4
lý môi trường tự nhiên, từ lâu đã là một vấn đề sống còn đối với những con người
đã sáng tạo ra chúng. Các hệ thống kiến thức bản địa cũng có tính động, kiến thức
mới liên tục được bổ sung. Các hệ thống này luôn đổi mới trong lòng nó và cũng sẽ
tiếp nhận, sử dụng và thích nghi với kiến thức bên ngoài nhằm phù hợp với điều
kiện của địa phương” [40].
Trong một nghiên cứu của Mugabe (1998) đã chỉ ra sự khác biệt giữa tri thức
1.1.2. Ở Việt Nam
Cụm từ tri thức bản địa (Indigenous Knowledge), tri thức địa phương (Local
Knowledge), tri thức dân gian (Folk Knowledge) đã được sử dụng trong một số
công trình nghiên cứu với nhiều tên gọi khác nhau: tri thức địa phương, văn hóa
truyền thống, tri thức dân gian, kiến thức bản địa, kiến thức truyền thống, kiến
thức địa phương, tri thức dân gian, tri thức tộc người, và luật tục.
Từ những cách gọi khác nhau như trên, các nhà nghiên cứu có những quan
niệm và cách hiểu khác nhau về nội hàm của cụm từ “tri thức bản địa”.
Lê Trọng Cúc (2002) cho rằng “Tri thức địa phương hay còn gọi là tri thức
bản địa là hệ thống tri thức của các cộng đồng dân cư bản địa ở các quy mô lãnh thổ
khác nhau. Tri thức địa phương được hình thành trong qúa trình lịch sử lâu đời, qua
kinh nghiệm ứng xử với môi trường xã hội, được định hình dưới nhiều dạng thức
khác nhau, được truyền từ đời này sang đời khác qua trí nhớ, qua thực tiễn sản xuất
và thực hành xã hội. Nó hướng đến việc hướng dẫn và điều hòa các quan hệ xã hội,
quan hệ giữa con người và thiên nhiên” [5].
Ngô Đức Thịnh (2004) định nghĩa “Tri thức bản địa là toàn bộ những hiểu
biết của con người về tự nhiên, xã hội và bản thân, hình thành và tích luỹ trong qúa
trình lịch sử lâu dài của cộng đồng, thông qua trải nghiệm trong qúa trình sản xuất,
quan hệ xã hội và thích ứng môi trường. Nó tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau
và truyền từ đời này sang đời khác bằng trí nhớ và thực hành xã hội” [33].
Phan Hữu Dật (1998) xem “Tri thức bản địa là văn hóa tộc người, nhưng
không phải là toàn bộ văn hóa tộc người, mà chỉ là bộ phận có ích cho sự phát triển
kinh tế - xã hội của tộc người hiện nay, khi nó bổ sung cho tri thức hiện đại” [6].
6
Trong công trình nghiên cứu của mình Nguyễn Duy Thiệu (1999) định nghĩa
“Tri thức dân gian là một phức hệ những kinh nghiệm được truyền từ đời này sang
đời khác. Nó cũng được hình thành trong thế ứng xử giữa hoạt động của con người
có nghĩa là: Tri thức bản địa được hình thành dựa trên kinh nghiệm; thường xuyên
được kiểm nghiệm qua hàng thế kỷ sử dụng và thích ứng; thích nghi với đặc điểm
văn hoá và môi trường của địa phương; Năng động và đang thay đổi.
+ Thuật ngữ "bản địa" không hạn chế trong các bộ tộc hoặc người bản địa
của một vùng đất, cũng không hạn chế ở những người dân nông thôn. Trên thực thế,
bất kỳ nhóm cộng đồng nào cũng có tri thức bản địa - nông thôn và thành thị; người
định cư và người du cư; người bản địa và người nhập cư. Mặc dù có thể phân biệt
các tri thức này với tri thức khoa học phương Tây, khó có thể tìm kiếm những tri
thức nào được cho là thuần túy bản địa, nhất là với quá trình hội nhập đang diễn ra
nhanh chóng hiện nay.
Trong địa bàn nghiên cứu của luận văn (vùng đệm và vùng lõi của VQG Bidoup – Núi Bà), vấn đề này cần được làm rõ vì đây là một vùng đã từng tiếp nhận
các cộng đồng nhập cư với các truyền thống văn hóa khác nhau và đang tương tác
với cộng đồng bản địa (người K’ho). Do đó, việc nghiên cứu tri thức bản địa của
các cộng đồng này không thể tách rời với các quá trình tương tác đang xẫy ra trong
lịch sử phát triển của các cộng đồng.
- Xem xét tri thức bản địa như là một nguồn lực mà không phải là vật cản
của tiến trình phát triển.
1.2. Phân loại và đặc điểm của tri thức bản địa
1.2.1. Phân loại
Có một số quan điểm khác nhau trong phân loại tri thức bản địa:
(1) Theo Simon Brascoupe' và Howard Mann, tri thức bản địa bao gồm các
lĩnh vực: Nông nghiệp và nghề làm vườn; Thiên văn học; Lâm nghiệp; Sức khoẻ
con người, những bài thuốc y học chữa bệnh truyền thống; Kiến thức về những
động vật, con cá và những hệ sinh thái; Sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên
và môi trường bền vững; Những hệ thống phân loại truyền thống cho sự sống và các
8
nguồn tài nguyên khác; Hệ thống kiến thức và những phong tục truyền miệng; Tinh
+ Tri thức bản địa thể hiện những kinh nghiệm được tích lũy. Các hệ thống
tri thức này thể hiện kinh nghiệm được tích lũy qua nhiều thế hệ, nhờ sự quan sát,
cũng như tiến trình thử nghiệm và sửa sai.
+ Tri thức bản địa cũng vận động, thường xuyên bổ sung. Chúng là các hệ
thống được đổi mới thường xuyên từ bên trong và cũng tiếp thu, sử dụng và thích
ứng tri thức bên ngoài cho thích ứng với tình hình địa phương.
+ Tri thức bản địa thay đổi trong các nhóm khác nhau của một cộng đồng.
+ Tri thức bản địa được lưu giữ bằng những phương thức và phương tiện đa
dạng. Tri thức bản địa được lưu giữ trong ký ức và hoạt động của người dân và
được biểu thị trong các câu chuyện, bài hát, văn học dân gian, tục ngữ, vũ điệu, thần
thoại, các giá trị văn hóa, niềm tin, lễ nghi…
(2) Roy Ellen và Holly Harris (2003) trong phần Giới thiệu của cuốn sách
“Tri thức bản địa về môi trường và những biến đổi” thay cho việc định nghĩa thế
nào là tri thức bản địa vốn vẫn đang là một vấn đề bàn luận của các nhà nghiên cứu
đã đưa ra các đặc điểm được thừa nhận chung tạm thời về tri thức bản địa:
+ Tri thức bản địa mang tính địa phương, bắt nguồn từ một địa điểm cụ thể.
+ Tri thức bản địa là những tri thức được truyền miệng, hoặc được chuyển
giao thông qua các hình thức mô phỏng hoặc mô tả.
+ Tri thức bản địa là hệ quả của các gắn kết thực tế trong đời sống hàng ngày
và liên tục được củng cố bằng các kinh nghiệm, các lần thử, các lỗi và các thử
nghiệm cẩn trọng.
+ Tri thức bản địa được chia sẻ ở một mức độ lớn hơn rất nhiều so với các
loại tri thức khác, bao gồm cả tri thức khoa học. Đấy chính là lý do vì sao đôi khi nó
còn được gọi là “tri thức của dân”.
10
+ Mặc dù tri thức bản địa có thể tập trung vào các cá nhân và có thể được đạt
đến bằng mức độ gắn kết với các nghi lễ hoặc các cấu trúc biểu tượng khác nhưng
- Tri thức bản địa thường có nhiều dị bản. Mỗi tri thức được một người (hay
một nhóm người) tiếp nhận thông qua “lăng kính” chủ quan của mình, rồi lại truyền
lại cho thế hệ sau theo cách hiểu, cách vận dụng của mình. Cứ như thế, nội dung tri
thức ban đầu sau nhiều thế hệ bị biến dạng thành nhiều nội dung khác nhau (dị bản).
Điều này cũng ảnh hưởng tới việc bảo tồn các giá trị của tri thức bản địa.
- Mỗi loại tri thức bản địa thường phù hợp với văn hóa, môi trường tự nhiên,
môi trường sống của một cộng đồng cụ thể. Nó là kết quả của việc đúc rút kinh
nghiệm trong cuộc sống của các thành viên trong cộng đồng. Ở mỗi địa phương, tri
thức của người dân thường hướng tới một vài lĩnh vực nhất định. Ví dụ, những
người sống ở vùng biển thì có tri thức về biển, về cá, về thời tiết…; những người
sống ở miền núi có tri thức về rừng, về cây, về canh tác trên đất đồi núi… rất phong
phú. Vốn tri thức này cũng thay đổi theo sự phát triển của cuộc sống và nhận thức
của người dân trong cộng đồng.
1.3. Tình hình nghiên cứu tri thức bản địa
1.3.1. Trên thế giới
Thuật ngữ “tri thức bản địa” được Robert Chambers dùng lần đầu tiên trong
ấn phẩm “Indigenous Technical Knowledge: Analysis, Implications and Issues”
xuất bản năm 1979. Sau đó, thuật ngữ này được Brokensha và D.M.Warren sử dụng
vào năm 1980 trong tác phẩm “Indigenous knowledge systems and development”
và tiếp tục được sử dụng, phát triển cho đến ngày nay (trích dẫn theo Hoàng Xuân
Tý và Lê Trọng Cúc, 1998).
Trong phạm vi những tài liệu mà chúng tôi đã được tiếp cận, có thể kể các
tác giả và những công trình nghiên cứu sau:
Trong tác phẩm “Làm việc với kiến thức bản địa: một chỉ dẫn cho nhà
nghiên cứu” của Louise Grenier (1998) đã trình bày một số nội dung: 1) Kiến thức
12
bản địa là gì); 2) Bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ; 3) Sự phát triển một tổ chức nghiên
1.3.2. Ở Việt Nam
Trần Bình (1996) nghiên cứu về “Tri thức địa phương, tiềm lực phát triển đất
nước” đã trình bày các nội dung: 1) Quan niệm và nội hàm của tri thức địa phương;
2) Vai trò của tri thức địa phương trong phát triển kinh tế - xã hội [2].
Hoàng Xuân Tý - Lê Trọng Cúc (1998), trong tác phẩm "Kiến thức bản địa
của đồng bào vùng cao trong nông nghiệp và quản lý tài nguyên thiên nhiên" đã
trình bày: 1) Các khái niệm và vai trò của kiến thức bản địa; 2) Kiến thức bản địa
của đồng bào vùng cao trong một số lĩnh vực cụ thể. Cuốn sách là một tài liệu tham
khảo rất tốt trong nghiên cứu về tri thức bản địa [35].
Hoàng Hữu Bình (1998), trong bài viết "Tri thức địa phương và vấn đề phát
triển bền vững miền núi Việt Nam" đã làm rõ một số vấn đề: 1) Khái niệm tri thức
địa phương; 2) Tri thức địa phương trong bảo vệ môi trường và khai thác nguồn tài
nguyên thiên nhiên [1].
Nguyễn Duy Thiệu (1999) trong bài viết “Tri thức bản địa nguồn lực quan
trọng cho sự phát triển” đề cập hai nội dung chính: 1) Quan niệm về tri thức bản
địa; 2) Tri thức bản địa của một số tộc người trong khai thác nguồn tài nguyên thiên
nhiên, sản xuất nông nghiệp…[30].
Nguyễn Thanh Thự (2000), trong bài viết "Một vài suy nghĩ về việc giảng
dạy tri thức bản địa" đã bàn về :1) Suy nghĩ về khái niệm tri thức bản địa; 2) Sự cần
thiết phải giáo dục tri thức bản địa; 3) Nội dung và phương pháp giảng dạy.
Ngô Đức Thịnh (2002) trong bài viết "Tri thức dân gian và phát triển" đã
trình bày một số nội dung: 1) Khái niệm tri thức dân gian; 2) Các loại tri thức dân
gian của các tộc người; 3) Vai trò của tri thức dân gian; 4) Bảo tồn tri thức dân gian.
Trong bài viết "Thế giới quan bản địa" ông cũng đã trình bày một số nội dung: 1)
Khái niệm tri thức bản địa; 2) Các lĩnh vực của tri thức bản địa; 3) Những nghiên
cứu trường hợp…Hai bài viết trên của tác giả Ngô Đức Thịnh trình bày tương đối
đầy đủ về khái niệm, nội hàm và các lĩnh vực liên quan của tri thức bản địa [32].
16
Phạm Quốc Hùng, Hoàng Ngọc Ý (2009) trong khuôn khổ dự án Thí điểm
tiếp cận thị trường tổng hợp nhằm hỗ trợ công tác bảo tồn thiên nhiên: Nâng cao đời
sống cộng đồng vùng đệm để giảm thiểu tác động lên tài nguyên tại Khu bảo tồn
thiên nhiên Hang Kia – Pà Cò, huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình, được tài trợ bởi
Quỹ Blue Moon đã nghiên cứu tri thức bản địa trong bảo vệ rừng của người
H’Mông tại khu BTTN Hang Kia - Pà Cò, tỉnh Hòa Bình [16]. Nghiên cứu đã đưa
ra các kiến thức bản địa liên quan tới hoạt động quản lý bảo vệ rừng: Các quy ước
về quản lý bảo vệ rừng; kiến thức, kinh nghiệm trồng trọt; kinh nghiệm chăn nuôi,
kinh nghiệm khai thác sử dụng lâm sản. Kiến thức/phong tục bản địa đã mất, hoặc
không còn phổ biến. Đặc điểm văn hoá và vấn đề quản lý bảo vệ rừng và những vận
dụng kiến thức bản địa trong quản lý bảo vệ rừng.
Hàn Tuyết Mai (2007) đã tiến hành nghiên cứu “Kiến thức bản địa trong
quản lý và sử dụng thực vật lâm sản ngoài gỗ của cộng đồng người Vân Kiều ở thôn
Là Tó, xã Húc Nghì, huyện Đa Krông, tỉnh Quảng Trị”; nghiên cứu đã hệ thống
kiến thức của người Vân Kiều trong sử dụng và quản lý tài nguyên rừng dưới các
dạng kiến thức về thông tin, về kỹ thuật/công nghệ, tín ngưỡng, phong tục tập quán.
Tác giả cũng đã đề xuất các giải pháp về nông lâm kết hợp, khôi phục nghề thủ
công để nâng cao sinh kế và bảo tồn kiến thức bản địa ở khu vực nghiên cứu.
Đỗ Tiến Thuần và các tác giả khác (2008), Kiến thức .bản địa trong quản lý
bền vững tài nguyên đất của cộng đồng dân tộc Ê-Đê sinh sống tại huyện Ea Kar,
tỉnh Đăk Lăk [34]. Cũng đã tư liệu hóa tri thức bản địa của cộng đồng dân tộc Êđê
trong sử dụng đất và đề xuất một số giải pháp nhằm vận dụng nguồn tri thức này
cho công tác quản lý bền vững tài nguyên đất tại khu vực nghiên cứu.
Ngoài ra có một số nghiên cứu khác như: nghiên cứu kiến thức và kỹ thuật
bản địa về sử dụng đất, quản lý lâm sản ngoài gỗ và rừng bởi cộng đồng người Tày
và Dao quanh vườn Quốc Gia Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn do Viện kinh tế sinh thái thực