ĐIỀU TRA NGHIÊN CỨU KIẾN THỨC BẢN ĐỊA VỀ QUẢN LÝ, PHÁT TRIỂN TÀI NGUYÊN
RỪNG CỦA MỘT SỐ CỘNG ĐỒNG THÔN BẢN MIỀN NÚI PHÍA BẮC VIỆT NAM
Đỗ Đình Sâm, chủ biên, Đặng Kim Khánh, An Văn Bảy
Tháng 11 - 2002
1. ĐẶT VẤN ĐỀ VÀ GIỚI HẠN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Đặt vấn đề:
Rừng cộng đồng và quản lý cộng đồng các loại rừng được nhiều nước trong khu vực Châu
á quan tâm. ở nước ta vấn đề này đã được chú ý nghiên cứu và tiến hành thực hiện tại một
số vùng núi và trong một số dự án quốc tế. Rừng cộng đồng và quản lý cộng đồng các lọai
rừng mở ra triển vọng tốt đẹp trong việc bảo vệ, quản lý và phát triển rừng. Điều đó xuất
phát từ tính cộng đồng cao của các dân tộc thiểu số miền núi, từ những tục lệ, hương ước
và các kinh nghiệm truyền thống được đúc kết lâu đời rút ra từ thực tiễn của đồng bào các
dân tộc thiểu số.
Trong những năm gần đây việc nghiên cứu, đúc kết kiến thức bản địa đã được quan tâm
chú ý trong nhiều lĩnh vực kinh tế, xã hội, văn hoá, y tế Kiến thức bản địa (Indigenous
knowledge) còn được gọi là kiến thức truyền thống (traditional knowledge) hay kiến thức địa
phương (local knowledge) (Theo Hoàng Xuân Tý, 1998). Nó tồn tại và phát triển trong
những hoàn cảnh nhất định ở một vùng địa lý xác định với sự đóng góp của mọi thành viên
trong cộng đồng. Nghiên cứu, đánh giá kiến thức bản địa của đồng bào vùng cao trong
nông nghiệp và quản lý tài nguyên thiên nhiên đã được TS. Hoàng Xuân Tý và các cộng tác
viên thực hiện trong khuôn khổ dự án “Đánh giá kiến thức bản địa của đồng bào dân tộc
trong nông nghiệp và quản lý tài nguyên thiên nhiên ở Việt Nam” do Trung tâm nghiên cứu
phát triển quốc tế Canada (IDRC) và quỹ FORD ( Foundation) tài trợ (1997-1999). Kết quả
nghiên cứu đã được xuất bản thành ấn phẩm do nhà xuất bản Nông nghiệp in ấn (Hà Nội
1998).
Trong chương trình nghiên cứu về nông nghiệp du canh được tài trợ bởi Viện quốc tế về
Môi trường và Phát triển Anh (IIED), Tổ chức hợp tác lâm nghiệp hải ngoại Nhật Bản
(JOFCA) cũng đã nghiên cứu những kiến thức bản địa về canh tác nương rãy, nông lâm kết
hợp, các quy định về làm rãy, chọn rừng (Do Đỗ Đình Sâm và các cộng tác , 1994-1998).
Trong chương trình Thái học Việt Nam do Trung tâm nghiên cứu Việt Nam và giao lưu văn
hoá thuộc Đại học quốc gia Hà Nội thực hiện năm 1989 và kết quả nghiên cứu đã được xuất
RRA, phỏng vấn các đối tượng có kinh nghiệm trong thôn bản: già làng, trưởng bản, phụ
nữ. Phỏng vấn được tiến hành trên cơ sở phiếu điều tra đơn giản nêu một số câu hỏi chính
đáp ứng mục tiêu, nội dung của đề tài.
-Quan sát, đánh giá mô hình trên thực tiễn.
3. KẾT QUẢ THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
3.1 Tập hợp tài liệu nghiên cứu:
Các tư liệu nghiên cứu đã được xuất bản liên quan tới kiến thức bản địa về quản lý, bảo vệ
và sử dụng rừng như đã nêu trên của các tác giả Hoàng Xuân Tý (chủ biên), An Văn Bảy,
Cầm Tú Lan (Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam), Cầm Trọng (chủ biên), Vương Xuân
Bình, Ngô Đức Thịnh (Viện dân tộc học). Các kiến thức bản địa được nghiên cứu tập trung
vào các chủ đề sau:
3.1.1 Quản lý, bảo vệ rừng, rãy:
Các dân tộc thiểu số như M’Nông, Thái, Tày-Nùng có những đặc điểm khác nhau trong
những quy ước, tục lệ về bảo vệ, quản, lý rừng –rẫy, tài nguyên rừng đều có những đặc
trưng giống nhau:
uan hệ cộng đồng: Được thể hiện rất rõ ở cộng đồng dân tộc thiểu số thông qua nhiều quy
ước, tập tục truyền miệng và tất cả thành viên của cộng đồng đều tự nguyện thực hiện một
cách có ý thức. Chính đó là một trong những cơ sở quan trọng quản lý lâm nghiệp cộng
đồng-hoặc hình thành rừng cộng đồng (rừng thôn, bản). Người M’nông (Đắc Lắc) đã có
những cam kết cộng đồng như sau:
Lục lạc đã buộc đuôi nhím.
Dây mây đã buộc mồm cọp.
Đã khắc cán xà gạt sáu nấc.
Đã khắc cán cào bảy nấc.
Dây lạt đã thắt với nhau.
Dây giao kết đã thắt với nhau.
Đã giao kết bằng chiêng to.
Đã giao kết bằng Rluy to (Theo Ngô Đức Thịnh- Dẫn: Hoàng Xuân Tý, 1998).
Nếu ai phá vỡ lời giao kết thì sẽ bị phạt và quy định rõ:
Ai phá vỡ lời cam kết
tục do Ngô Đức Thịnh sưu tầm có những đoạn sau:
Rừng bị cháy mọi người đều buồn
Cháy qua suối kỳ đà chết sạch
Cháy bãi cỏ kỳ nhông chết thui
Rừng đâu phải tự nhiên mà có
Đất đâu phải tự nhiên mà có
hoặc Bắt con cá phải chừa con mẹ
Chặt cây tre phải chừa cây con.
Một số quan niệm về sở hữu rừng cũng được thể hiện
Khu rừng sâu đâu phải của nai
Khu rừng đó là của tổ tiên
Khu rừng đó là của con cháu
Khu rừng đó là của ông bà
Khu rừng đó là của chúng ta (Sưu tầm Ngô Đức Thịnh 1998)
hoặc Rừng là của chung.
Đất là của chung.
• Dân tộc Thái:
Dân tộc Thái ở Thanh Hoá từ xưa cũng có quy định các rừng cấm là những khu rừng
phòng hộ nằm ở khu vực đầu nguồn và cũng nhằm đáp ứng nhu cầu tự cung tự cấp cho
các gia đình trong bản về gỗ, củi. Các rừng đó có các dấu hiệu đặt trước cửa rừng cấm gọi
là ta leo. Ngoài ra cũng có những khu rừng cấm hái măng. Một vụ măng người ta chỉ quy
định toàn bản tập trung hái một, hai lần (theo Vũ Trường Giang trong ấn phẩm “Văn hoá và
lịch sử người Thái ở Việt Nam, Hà Nội, 1998). Tất cả các quy ước rừng cấm đều được
người dân trong bản thực hiện một cách tự giác, có ý thức cộng đồng.
3.1.2 Sử dụng và phát triển tài nguyên rừng:
Các kiến thức bản địa tập trung vào sử dụng các lâm sản ngòai gỗ, cây thuốc:
Kinh nghiệm khai thác, sử dụng và gây trồng cây thuốc đã được đề cập nhiều trong
nhiên cứu về y dược cổ truyền, đặc biệt của GS. Đỗ Tất Lợi. Kiến thức bản địa trong sử
dụng lâm sản ngoài gỗ được nghiên cứu và đề cập tới nhiều là việc gây trồng, phát triển
cây Quế (Cinamomum cassia) của đồng bào Dao (Yên Bái, Quảng Ninh), Cơ Ho
Bản Ban
Chiềng Sinh
164/25 hộ
*Rừng phòng hộ: 7,5ha
*Núi đá vôi: 129ha (có rừng và không có
rừng)
Bản Thẳm Chiềng Sinh 360/58 hộ Rừng phòng hộ đầu nguồn: 50ha
Bản Gio Chiềng Sinh 257/48 hộ Rừng phòng hộ: 34 ha
Rừng sản xuất: 10-15 ha (1 đồi nhỏ)
Bản Chiềng Di Mộc Châu 1000/200 hộ Rừng núi đá vôi: 100 ha (sản xuất và
phòng hộ)
tóm tắt ở bảng sau:
Rừng chủ yếu là rừng tự nhiên, đã khai thác nhiều lần nhằm cung cấp gỗ cho nhu
cầu xã hội. Hiện trạng là rừng nghèo, phần lớn thuộc đối tượng rừng phòng hộ đầu nguồn.
Rừng trên núi đá vôi cũng đã khai thác chọn nhưng do điều kiện khó khăn nên trạng thái
rừng còn khá hơn. Rừng phòng hộ đã giao cho xã trực tiếp bảo vệ, sử dụng dưới hình thức
là các rừng thôn bản. Rừng của các bản xã Chiềng Sinh đó là các rừng cộng đồng truyền
thống của bản. Các bản xung quanh thị xã Mộc Châu hạt Kiểm lâm đang tiến hành giao
rừng cho từng hộ quản lý, sử dụng (rừng sản xuất). Ngòai rừng phòng hộ, rừng sản xuất
(diện tích nhỏ) ở các bản dân tộc Dao còn có rừng thiêng, nơi toàn bản tập trung cúng, lễ
vào dịp đầu xuân hoặc cầu xin những điều tốt lành khi bản gặp những điều rủi ro, bất hạnh
(dịch bệnh về người và gia súc ). Diện tích rừng thiêng không lớn, trung bình 200-300m2
ở mỗi bản. Ngoài rừng thiêng còn có rừng ma là nơi chôn cất người chết. Diện tích rừng tuỳ
số lượng người trong thôn bản hoặc có thể vài bản cạnh nhau cùng chung diện tích rừng
ma. Diện tích chừng 2-3 ha. Về mặt tổ chức, quản lý rừng từ năm 1960 hình thành hợp tác
xã chịu trách nhiệm quản lý rừng, sau giải thể hợp tác xã rừng lại giao về bản quản lý
(1990).
Xã Loóng Luông-Mộc
Châu
600/120 hộ
Đặc điểm chung đối với đồng bào H’Mông là vẫn tiếp tục làm nương rãy nên hiện nay các
bản đã quy định nơi được phép làm rãy và phân cho các hộ một số diện tích nhất định. Ví
dụ bản Pa Dông giao cho mỗi hộ 3 ha làm nương cố định. Ngoài ra đồng bào thường gây
trồng Y dĩ, dong riềng đề bán. Vì vậy nhìn chung rừng do thôn bản quản lý được bảo vệ tốt.
ở Mộc Châu hạt Kiểm lâm đang tiến hành giao rừng sản xuất cho hộ gia đình như bản Hua
Tạt diện tích 376 ha rừng núi đá vôi sẽ giao cho các hộ gia đình quản lý.
Rừng phòng hộ ở các bản người H’Mông do Hạt kiểm lâm là chủ rừng nay đã giao cho bản
quản lý.
3.3.3 Các bản dân tộc Dao:
Điều tra kiến thức bản địa về quản lý, bảo vệ, sử dụng rừng của đồng bào Dao được tiến
hành ở tỉnh Quảng Ninh tại các xã Quảng Sơn, Quảng Lâm và Quảng An. Đặc điểm chung
về nhân khẩu và diện tích rừng được trình bày ở bảng sau:
XãNhân khẩu
Diện tích đất lâm nghiệp
Quảng Son
3144
Đất lâm nghiệp: 9000 ha
Rừng tự nhiên: 4000 ha
Quảng Lâm
chặt cây to, khồng làm rãy. Rẫy phải xa bản khoảng 3-4km.
Đó là ý thức của đồng bào bảo vệ rừng để giữ nước cho thôn bản. Đồng bào Thái
còn có kinh nghiệm đào các ao chứa nước có kích thước khác nhau dưới chân núi rừng
đầu nguồn để hạn chế nước xói mạnh vào mùa mưa và tích nước cho mùa khô và có thể
nuôi cá.
Với rừng đầu nguồn và rừng quanh bản người Thái trước kia có tục lệ trồng tre
truyền lại cho con cháu và là sở hữu của người trồng như đồng bào Dao, Cơ ho đã trồng
Quế. Đồng bào chọn tre (gọi là mạy hốc) giống như Luồng để trồng vì Tre dễ sử dụng, mau
cho sản phẩm và dễ lan rộng thành các bụi Tre lớn. Về mặt phòng hộ, giữ đất thì Tre cũng
là loài cây có tác dụng bảo vệ đất tốt.
Một điều đáng quan tâm là các qui ước hồi xưa không nhiều, đơn giản, nhưng toàn
bản đều có ý thức tự nguyện thực hiện. Điều đó xuất phát từ tính cộng đồng của thôn bản,
tôn trọng già làng vì ý kiến già làng dường như là ý kiến chỉ đạo và già làng do người dân
trong thôn bản lựa chọn và tôn trọng. Ngoài ra trước kia quy định phạt do “quan bản” điều
hành (do Pháp bổ nhiệm được sự đồng ý của dân) cũng rất nghiêm khắc. Ví dụ khi xâm
phạm vào rừng, không thực hiện quy ước thì phải phạt 10 chai rượu, 6kg gạo và 1 yến ta
(khoảng 6kg) thịt lợn để làm cỗ cho bản ăn và người bị phạt không được ăn. Về tiền mặt
nếu chặt 1 cây phạt 700 đồng bạc trắng và hoa xoè. ở Mộc Châu phỏng vấn bản dân tộc
Thái trưởng bản cho biết trước kia nếu vi phạm quy ước của bản thì người vi phạm phải tự
dùng mõ báo với dân làng sai phạm của mình để sửa chữa.
Có thể nói chính đặc tính cộng đồng chặt chẽ của đồng bào dân tộc ít người, tôn vinh già
làng và những quy ước phạt nhất định từ trước đã tạo cho mỗi người dân trong bản ý thức
tự nguyện tôn trọng quy ước của thôn bản về bảo vệ rừng.
3.4.2 Quản lý rừng lấy gỗ, tre nứa:
Qua phỏng vấn các bản đồng bào Thái, Dao, H’Mông đều xác định là trước kia do còn ít
người, rừng nhiều nên việc chặt gỗ làm nhà, sử dụng cho các mục đích khác trong gia đình
đều tự do, không có quy ước trừ rừng đầu nguồn, rừng cạnh bản, rừng thiêng, rừng ma.
Đối với sử dụng gỗ đồng bào Thái, H’Mông ở Sơn la cũng có kinh nghiệm trước kia lấy gỗ
làm nhà chủ yếu ở núi đá vôi vì các loại cây gỗ trên núi đá vôi đều là gỗ quý và tốt (Nghiến,
Trai, Đinh ). Rừng núi đá vôi thuộc các bản ở Sơn la nhìn chung còn giữ được khá vì rừng
là các loài Si, Đa. Rừng ma không cấm nghiêm ngặt, có thể chặt gỗ sử dụng theo dòng họ
hoặc dùng công cộng, lấy lâm sản ngoài gỗ. Trước kia ít người vào rừng ma ví có phần sợ
hãi.
Đối với người H’Mông thì nghĩa địa thường chọn nơi có cây thưa, nhỏ, rừng non và
không có cây to vì kiêng kỵ rễ cây sẽ đâm vào quan tài người chết. Như vậy về bản chất
người H’Mông không có quan niệm rừng ma như dân tộc Thái mà đó chỉ là nghĩa trang đơn
thuần.
3.4.5 Các kinh nghiệm truyền thống về sử dụng lâm sản, bảo vệ và phát triển vốn rừng:
3.4.5.1 Kinh nghiệm sử dụng cây thuốc:
Điều tra, phỏng vấn người có kinh nghiệm sử dụng cây thuốc từ rừng của đồng bào
Dao ở Sơn La, Quảng Ninh, đồng bào H’Mông ở Sơn La trong đó có cả phụ nữ. Một số
người hiện đang lấy thuốc sử dụng trong bản và bán trên thị trường. Kinh nghiệm lấy cây
thuốc và sử dụng cây thuốc đều được truỳên đạt lại từ bố, mẹ con đi theo để nhận biết cây
là rất quan trọng.
Các loại thuốc chữa bệnh rất đa dạng nhưng thông thường là các loại thuốc chữa xương
(bó), rắn cắn, đau bụng, dị ứng, cảm gió một số bệnh phụ nữ đặc biệt phụ nữ sau khi đẻ
sớm có thể lên nương (sau 7 ngày). Đó là những bệnh rất thông thường hay xảy ra ở miền
núi xa xôi như gãy xương, thấp khớp, rắn cắn và đáp ứng nhu cầu lao động của phụ nữ sau
khi sinh phải lên nương sớm. Những người biết nhiều loại thuốc hơn hiện vẫn thu thập để
bán, chữa các bệnh như sỏi thận, bàng quang, dạ dày, viêm gan Các cây thuốc lấy từ
rừng chủ yếu là lá, vỏ cây, một số rễ.
• Một số kinh nghiệm lấy thuốc:
Qua trao đổi với người già trực tiếp đi lấy thuốc cho biết: Lấy thuốc tốt nhất vào buổi sáng,
giờ mão, giờ thìn tức khoảng 7-10 giờ sáng hoặc có thể buổi chiều 2-4 giờ. Cố gắng chọn
các hướng núi hoặc đồi đối diện với mặt trời nghĩa là hướng dương. Thường lấy lá 1 tay.
Những điều nêu trên có cơ sở khoa học là dựa vào sự tích luỹ các chất trong cơ thể thực
vật cao vào buổi sáng, ở sườn dương và tránh quá trình hô hấp mạnh khi cường độ ánh
sáng tăng mạnh vào buổi chiều. Đồng bào Dao ở Quảng Ninh lại cho biết lấy thuốc qua giờ
ngọ và hướng quy định như sau:
+ Ngày 1,2 : không lấy thuốc hướng Đông.
-Để tưới nước cho gốc tre bên cạnh gốc trồng , người trồng dựng 1 ống tre tưới
nước có 3-4 dóng, đáy mỗi dóng chọc các lỗ nhỏ để thấm nước nhỏ giọt. Đổ nước đầy vào
dóng đầu để nước thấm dần xuống. Khoảng 5 ngày đổ nước 1 lần. ở Sơn La vào mùa khô
khắc nghiệt vì bị ảnh hưởng gió Lào nên cần tưới nước cho tre trồng.
3.4.5.4 Kinh nghiệm phát triển rừng Quế của đồng bào Dao ở Quảng Ninh:
Đồng bào Dao ở Quảng Ninh có kinh nghiệm trồng Quế từ lâu đời. Xuất phát đầu
tiên là trồng Quế vào nương lúa hay ngô vì cây Quế có giá trị kinh tế. Đồng bào đã biết
trồng xen cây Quế với cây lương thực để che bóng vì đã hiểu nhu cầu ánh sáng của cây
Quế con. Trồng Quế bằng rễ trần, chọc lỗ vì nương mới phát, đất còn xốp và tốt. Vườn
ươm nhỏ làm cạnh nương để sử dụng hết cây con trong vườn và bảo vệ cây con được tốt
vì cự ly chuyển cây con rất gần. Kinh nghiệm trồng Quế theo hướng nông lâm kết hợp luân
canh cây trồng đã được phát triển: trồng ngô vào tháng 11 âm lịch, trồng Quế vào tháng 12
tới tháng 1. Như vậy Quế trồng dưới tán ngô che bóng tốt giai đoạn đầu. Khi thu hoạch ngô
vào tháng 5-6 thì gieo lúa nương.
Quế trước kia trồng rất dày (5000 cây/ha), bóc vỏ dần những cây to (sau 10 năm)
để cây nhỏ có điều kiện phát triển, thường bóc 2-3 đợt hết 1 nương Quế. Quế khai thác 2
vụ. Vụ chính vào tháng 3 âm lịch, Quế dễ bóc, ít hao vì lượng nước ít, vụ phụ vào tháng 8
âm lịch, Quế bị hao nhiều ví chứa nhiều nước.
Đất trồng Quế phải chọn đất tốt thường đồng bào dựa vào trạng thái rừng: rừng lá
có màu xanh đậm thì đất còn tốt, rừng tre thì cây to, lá xanh Không nên trồng Quế dưới
thực bì tế guột (Dicranopteris linearis) vì đất đã bị thoái hoá. ở các bản, xã đã điều tra đồng
bào Dao hiện không còn làm rãy, phát triển canh tác lúa nước, trồng Quế trên đồi, mỗi gia
đình đã được giao đất khoảng 6-8 ha để trồng rừng và trồng Quế. Giá vỏ Quế bán trung
bình 9000-10000đ/kg khô, có năm tới 12000đ/kg khô. Gần đây (khoảng 10 năm) đồng bào
đã phát triển trồng Hồi 5 cánh (Hồi Bình Liêu) xen Quế và bắt đầu có thu hoạch. Giá 1 kg
hoa Hồi còn cao hơn vỏ Quế, trung bình 20000đ/kg và có thể còn tới 50000-60000đ/kg. Mỗi
gia đình thường có 3-4 nương Quế với các độ tuổi khác nhau để có thể khai thác dần, liên
tục. Sử dụng đất tổng hợp, đa dạng và theo hệ thống nông lâm kết hợp là những kinh
nghiệm tốt của đồng bào Dao ở đây: Trên cao > 300m đó là rừng được bảo vệ với chức
năng phòng hộ là chủ yếu. Đai thấp <300m phục hồi rừng tự nhiên và trồng Quế, trồng Quế
Dong Sơn La giao diện tích làm rãy cố định).
Mặc dù các kiểu quản lý rừng khác nhau, chủ rừng khác nhau nhưng các quy ước của đồng
bào Dao, Thái, H’Mông để bảo vệ rừng đều có những điểm chung:
-Xác định hình phạt:
Ví dụ nếu chặt 1 cây gỗ có đường kính 20cm phạt tiền cho hợp tác xã là 20000đ với
1cm đường kính (1960 bản Bán Sơn La) phạt 500đ nếu chặt 1 cây tre hay vầu. Có bản quy
định (bản Thắm-Sơn La); chặt 1 cây gỗ 10cm phạt 10000đ và chặt tre phạt gấp 10 lần giá trị
cây tre: Giá trị cây 500đ sẽ phạt 5000đ. Bản Giỏ (Sơn La) quy định chung: chặt gỗ, tre phạt
gấp 5 lần giá trị cây.
Người H’Mông cũng có quy định: không được khai thác gỗ trái phép. Không được
buôn bán gỗ. Nếu chặt gỗ đường kính khoảng 20cm phạt 30000đ, đường kính 10cm phạt
25000đ (xã Pa Đông-Mai Châu-Sơn La) hoặc có bản Lóng Luông (Mộc Châu) bản quy định
chặt cây gỗ đường kính 40-50cm phạt 40000-50000đ, cây to hơn: phạt 100000đ.
-Phòng chống cháy, tiết kiệm sử dụng tre, gỗ:
Bản Thái ở Chiềng (Mộc Châu) quy định khi có cháy huy động cả bản đi dập lửa,
tạo đường băng cản lửa rộng 4m đề phòng đồng bào H’Mông đốt cỏ tranh làm rãy lan rộng
sang.
Bản còn quy định bỏ tập quán dùng tre, nứa, gỗ rào xung quanh ruộng đã hạn chế
một số lượng lớn tre, gỗ khai thác vì trung bình một gia đình cần tới 200 cọc để làm rào.
Năm 1998: 90% hộ không tiến hành rào ruộng. Ngoài ra khi khai thác gỗ phải do trưởng bản
quyết định, kể cả nơi chặt gỗ, tránh kéo lết dài ảnh hưởng cây tái sinh (quy định 1957-
1958).
-Quy định sử dụng gỗ, tre, măng, củi
Nhu cầu sử dụng gỗ, tre, củi, lấy măng là nhu cầu chính đáng của đồng bào. Vì
vậy trong các quy định của bản đều đề cập tới vấn đề này tuỳ theo diện tích và trữ lượng
rừng hiện có:
· Cần gỗ, tre sửa nhà, làm nhà được phép vào rừng chặt gỗ có giới hạn cho phép.
Chặt đúng chủng loại. Ví dụ: bản Thắm (Chiềng Sinh, Sơn La) có quy định: 1 nhân khẩu
được cung cấp 5-10 cây tre và 11 cây gỗ đường kính 10cm cho 1 hộ gia đình. Nếu cần
nhiều gỗ có thể làm đơn xin mua gỗ ở các bản khác còn rừng. Trong 1 bản có thể xin gỗ
(Quế, Hồi, Tre, Hông, một số dược liệu ), giao đất giao rừng cho họ sử dụng lâu dài (làm
nương, phát triển đặc sản rừng ) và sử dụng đất đa dạng kể cả đất nông nghiệp. Đó là cơ
sở rất quan trọng để việc quản lý , bảo vệ rừng cộng đồng và cộng đồng tham gia bảo vệ
rừng có hiệu quả.
5. KẾT LUẬN
1. Đã tiến hành điều tra, khảo sát và đánh giá kinh nghiệm bản địa của đồng bào Thái,
H’Mông ở Sơn La, đồng bào Dao ở Quảng Ninh trong bảo vệ, quản lý và phát triển rừng
trên các đối tượng rừng đầu nguồn, rừng thiêng, rừng ma, rừng lấy gỗ và lâm sản ngoài gỗ,
phỏng vấn 22 người bao gồm lãnh đạo xã, trưởng bản, già làng, phụ nữ
2. Quy ước truyền thống của đồng bào về bảo vệ rừng giữ nước, rừng thiêng, rừng ma,
rừng chung quanh bản được xem xét, đánh giá thể hiện rõ tính cộng đồng của đồng
bào, ý thức tôn trọng già làng, thực hiện quy ước xưa một cách tự nguyên.
3. Kinh nghiệm cụ thể của đồng bào trong việc gây trồng tre (mạy hốc), sử dụng và bảo
vệ một số cây lâm sản có giá trị, sử dụng và phát triển cây thuốc, phát triển Quế, Hồi đã
được đề cập tới.
4. Phát triển kinh nghiệm truyền thống của đồng bào để bảo vệ rừng cộng đồng hoặc
cộng động tham gia bảo vệ rừng thông qua các quy ước được dân bản bàn bạc, nhất
trí, bao gồm các hình thức xử phạt, các quy ước hưởng lợi, hạn chế sử dụng lãng phí
tài nguyên rừng.
5. Bài học kinh nghiệm phát huy kinh nghiệm truyền thống của đồg bào trong bảo vệ
rừng cộng đồng và cộng đồng tham gia bảo vệ rừng là:
- Dựa trên sự đồng tình của cộng đồng.
- Đảm bảo nhu cầu về lâm sản của người dân.
- Kết hợp bảo vệ rừng cộng đồng với phát triển tài nguyên rừng, sử dụng đất đai đa
dạng, bền vững.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Đỗ Đình Sâm: Nông nghiệp du canh ở Việt Nam. London 1994.
2. Cầm Trọng (chủ biên) : Văn hoá và lịch sử người Thái ở Việt Nam, Hà Nội 1998
3. Hoàng Xuân Tý (chủ biên): Kiến thức bản địa của đồng bào vùng cao trong nông
nghiệp và quản lý tài nguyên thiên nhiên. Hà Nội 1998