điều tra, nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát sinh và gây hại của bệnh bạc lá lúa (xanthomonas oryzae) vụ mùa 2014 tại tỉnh thái bình - Pdf 30


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM


NGUYỄN THỊ NGA
ĐIỀU TRA, NGHIÊN CỨU CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG
ĐẾN SỰ PHÁT SINH VÀ GÂY HẠI CỦA BỆNH BẠC LÁ LÚA
(Xanthomonas oryzae) VỤ MÙA 2014 TẠI TỈNH THÁI BÌNH CHUYÊN NGÀNH: BẢO VỆ THỰC VẬT
MÃ SỐ: 60.62.01.12

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. ĐỖ TẤN DŨNG HÀ NỘI - 2015
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page i


Giống cây trồng thuộc Tổng công ty Giống cây trồng Thái Bình đã điều kiện
giúp đỡ tôi trong suốt quá trình điều tra và thu thập mẫu bệnh hại trên
đồng ruộng.
Cảm ơn các bạn, các anh, các chị và người thân đã động viên, chia sẻ
giúp đỡ tôi vượt qua khó khăn để hoàn thành tốt luận văn này.
Hà Nội, ngày tháng năm 2015
Tác giả luận văn Nguyễn Thị Nga

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page iii

MỤC LỤCLời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục bảng v
Danh mục hình vii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài
1
2 Mục đích và yêu cầu của đề tài
2
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Những nghiên cứu ngoài nước
3

2.3 Nội dung nghiên cứu
20
2.4 Phương pháp nghiên cứu
21
2.4.1 Phương pháp điều tra bệnh bạc lá ngoài đồng ruộng
21
2.4.2 Phương pháp bố trí thí nghiệm
22
2.4.3 Phương pháp điều tra bệnh bạc lá lúa
26
2.5 Các chỉ tiêu theo dõi
26
2.6 Phương pháp tính toán, xử lý số liệu
27
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CÚU VÀ THẢO LUẬN 28
3.1 Kết quả điều tra cơ cấu giống lúa, tình hình sử dụng phân bón, thuốc
bảo vệ thực vật trên địa bàn tỉnh Thái Bình vụ Mùa năm 2014
28
3.1.1 Cơ cấu giống lúa vụ mùa 2014 tại Thái Bình
28
3.1.2 Thời vụ gieo cấy vụ mùa 2014 tại Thái Bình
29
3.1.3 Hiện trạng sử dụng phân bón ở Thái Bình
29
3.1.4 Tình hình gây hại của bệnh bạc lá ở Thái Bình vụ mùa 2014
31
3.1.5 Hiện trạng sử dụng thuốc Bảo vệ thực vật phòng trừ bệnh bạc
lá lúa ở Thái Bình
32
3.2 Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của giống lúa, phân bón, thuốc

mùa 2014 ở Thái Bình 31
3.5. Hiện trạng sử dụng thuốc bảo vệ thực vật phòng trừ bệnh bạc lá
lúa ở vụ mùa 2014 tại Thái Bình 33
3.6. Ảnh hưởng của giống đến sự phát sinh phát triển của bệnh bạc lá
trên địa bàn tỉnh Thái Bình vụ mùa 2014 34
3.7. Ảnh hưởng của bệnh bạc lá đến năng suất một số giống lúa gieo
cấy trên địa bàn tỉnh Thái Bình vụ mùa 2014 38
3.8. Ảnh hưởng của liều lượng đạm đến sự phát sinh phát triển của
bệnh bạc lá trên giống Bắc thơm số 7 vụ mùa năm 2014 tại
Thái Bình 39
3.9. Ảnh hưởng của liều lượng đạm đến năng suất lúa giống Bắc
Thơm số 7 tại Thái Bình vụ mùa 2014 41
3.10. Ảnh hưởng của liều lượng phân lân đến sự phát sinh và phát
triển của bệnh bạc lá vụ Mùa 2014 tại Thái Bình 41
3.11. Ảnh hưởng của liều lượng phân lân đến năng suất giống Bắc
thơm số 7 tại Thái bình vụ mùa 2014 44
3.12. Ảnh hưởng của liều lượng phân lân đến sự phát sinh và phát
triển của bệnh bạc lá vụ mùa 2014 44
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page vi

3.13. Ảnh hưởng của liều lượng phân lân đến Năng suất lúa của
giống lúa Bắc thơm số 7 tại Thái Bình 46
3.14. Ảnh hưởng của liều lượng phân lân đến sự phát sinh phát triển của
bệnh bạc lá của giống lúa Bắc thơm số 7 vụ mùa 2014 tại Thái
Bình 48
3.15. Ảnh hưởng của liều lượng phân lân đến Năng suất lúa giống
Bắc thơm số 7 tại Thái Bình vụ mùa 2014 50
3.16. Ảnh hưởng của liều lượng phân kali đến sự phát sinh và gây hại
của bệnh bạc lá trên giống Bắc thơm số 7 vụ mùa 2014 tại

lúa tại vụ mùa 2014
37
3.3. Ảnh hưởng của liều lượng đạm đến sự phát sinh và gây hại của
bệnh bạc lá (tỷ lệ bệnh %)
40
3.4. Ảnh hưởng của liều lượng đạm đến sự phát sinh và gây hại của
bệnh bạc lá (chỉ số bệnh %)
40
3.5. Ảnh hưởng của liều lượng phân lân đến tỷ lệ bệnh bạc lá lúa của
một số giống lúa ở vụ Mùa 2014 tại Thái Bình
43
3.6. Ảnh hưởng của liều lượng phân lân đến chỉ số bệnh bạc lá lúa của
một số giống lúa ở vụ mùa 2014 tại Thái Bình
43
3.7. Ảnh hưởng của liều lượng phân lân sử dụng đến tỷ lệ bệnh bạc lá
lúa ở vụ mùa 2014 tại Thái Bình
46
3.8. Ảnh hưởng của liều lượng phân lân đế mức độ phát sinh và phát
triển của bệnh bạc lá trên giống Bắc thơm số 7 tại Thái bình
vụ mùa 2014
49
3.9. Chỉ số bệnh bạc lá lúa với liều lượng bón phân lân khác nhau trên
giống lúa Bắc Thơm số 7 ở vụ mùa 2014 tại Thái Bình
49
3.10. Tỷ lệ bệnh bạc lá lúa với liều lượng bón phân kali khác nhau
đến trên giống lúa Bắc thơm số 7 vụ mùa 2014 tại Thái Bình
52
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page viii


61% trong tổng diện tích trồng trọt cả nước. Có đến 80% dân số cả nước là
nông dân làm nghề trồng lúa. Những năm gần đây sản xuất lúa gạo nước ta có
bước tiến quan trọng không chỉ đáp ứng đủ tiêu dùng trong nước và đảm bảo
an ninh lương thực, đồng thời trở thành nước xuất khẩu gạo đứng thứ hai thế
giới. Thái Bình là một tỉnh nông nghiệp có tổng diện tích đất sản xuất lúa
hàng năm đứng thứ 2 ở vùng đồng bằng sông Hồng với diện tích khoảng
168,3 nghìn ha. Sản lượng lúa hàng năm đạt 1105,2 nghìn tấn góp phần không
nhỏ trong việc đảm bảo an ninh lương thực, ổn định và nâng cao đời sống xã
hội cho nhân dân. Việc áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào thực hiện
thâm canh tăng vụ đưa các giống mới có thời gian sinh trưởng ngắn ngày vào
sản suất đã góp phần nâng cao năng suất và sản lượng, nhưng cũng tạo điều
kiện thuận lợi cho nhiều loại dịch hại tồn tại và phát sinh gây hại.
Trong số các loại dịch hại, bệnh bạc lá do loài vi khuẩn X. oryzae gây
ra là một trong bệnh gây hại nghiêm trọng đối với sản xuất lúa của nhiều quốc
gia vùng nhiệt đới (Mew, 1987). Bệnh gây hại trên các giống lúa lai và lúa
thuần, đối với các giống lúa thuần, các giống nhập nội từ Trung Quốc, bệnh
bạc lá gây hại khá nghiêm trọng. Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông
thôn năm 2007 diện tích lúa mùa nhiễm bệnh bạc lá là 350.000ha, vụ mùa
năm 2008 là 420.000ha, nhiều diện tích cấy các giống lúa lai bị mất trắng
(dẫn theo Lê Thanh Long, 2012). Mức độ phát sinh và gây hại vụ mùa nặng
hơn vụ xuân. Mức độ gây hại của bệnh nặng hay nhẹ còn phụ thuộc vào nhiều
yếu tố đất đai, phân bón, giống. Vì vậy, để sản xuất lúa đem lại hiệu của kinh
tế thì ngoài việc áp dụng các kỹ thuật thâm canh cải tiến, công tác điều tra,
phát hiện sớm bệnh luôn được coi trọng. Quá trình điều tra bệnh thực chất
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 2

chính là phát hiện bệnh sớm và từ đó có biện pháp phòng trừ bệnh bạc lá lúa
do vi khuẩn Xanthomonas oryaze (X. oryzae) gây hại như biện pháp canh tác,
biện pháp sử dụng giống kháng, biện pháp sinh học.

1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Những nghiên cứu ngoài nước
1.1.1. Lịch sử nghiên cứu phân bố và tác hại của bệnh bạc lá lúa
Bệnh bạc lá là một trong những đối tượng gây hại chủ yếu trên cây lúa
nước có phạm vi phân bố ở Châu Á, Châu Đại Dương, Châu Phi, Bắc Mỹ và
vùng Caribe (Niño-Liu et al., 2006; Gonzalez et al., 2007; IRRI, 2010; Wonni
et al., 2011). Bệnh xuất hiện gây hại ở hầu hết các quốc gia sản xuất lúa nước
có khí hậu nhiệt đới, á nhiệt đới từ 23
0
vĩ độ Bắc đến 23
0
vĩ độ Nam (Ezuka
và Kahu, 2000). Theo Ou (1972) bệnh bạc lá được nông dân vùng Fukuoka-
Nhật Bản phát hiện lần đầu tiên năm 1884. Trong những năm 1908-1910,
bệnh chủ yếu xuất hiện ở miền Nam, đến năm 1926 bệnh lan sang miền Bắc
đến năm 1960 bệnh hầu như gây hại khắp nước Nhật, ngoại trừ Hokkado. Ban
đầu bệnh được cho là do đất chua vì có giọt sương đọng lại trên lá lúa bị bệnh
vì đất có tính chất chua, đất bị nhiễm độc bởi các kim loại, do đất hầu trũng
có chứa nhiều khí độc tuy nhiên các biện pháp bón vôi khử chua đều không
đem lại hiệu quả thực tế, bệnh bạc lá không bị dập tắt mà còn lan rộng hơn.
Đến năm 1922 lần đầu tiên Yshiyama phân lập, xác định được vi khuẩn gây
bệnh bạc lá lúa đặt tên Pseudomomnas oryzae.
Những nghiên cứu ở Ấn Độ cho biết bệnh bạc lá cũng được phát hiện
vào năm 1940 (Rainia et al., 1981) với tên địa phương là Purarh có nghĩa là
trắng lá hay khô lá. Ở vùng Gurdaspus, thuộc bang Punjab, người ta cho rằng
triệu chứng bệnh do nguyên nhân sinh lý. Còn theo Mizukami (1961) và
Srivastava et al. (1967) thì bệnh bạc lá vi khuẩn ở Ấn Độ được Srivastavan
thông báo lần đầu tiên vào năm 1959 và Bhapka vào năm 1960. Những đến
năm 1965, ở Ấn Độ người ta mới xác định được đúng nguyên nhân gây bệnh

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 5

Rajarajeshwari và Muralidharan, 2006) cũng xác định mức độ thiệt năng suất
lúa trung bình do bệnh bạc lá từ 46.000-105.000 tấn.
Ở Nhật Bản trên các ruộng nhiễm nặng, năng suất thất thu từ 7-13%
năm trong giai đoạn từ 1956-1975. Tổng thiệt hại năng suất tính từ 25.000-
45.000 tấn (Exconde et al., 1973). Ở Philippine và Indonesia bệnh cũng rất
nghiêm trọng. Theo Kaul và Sharma (1987) chất lượng hạt lúa sẽ giảm mạnh sau
khi chịu ảnh hưởng của bệnh. Ngoài ra bệnh còn làm giảm số bông/m
2
và tăng
số lượng hạt nép.
Nhiều nghiên cứu cho thấy thiệt hại do bệnh bạc lá lúa gây ra phụ thuộc
vào điều kiện khí hậu, giống, giai đoạn nhiễm bệnh, mức độ nhiễm bệnh
Gnanamanickam et al., 1999). Hằng năm thiệt hại về năng suất lúa khoảng
20-30%, nhưng nếu bệnh nghiêm trọng có thể mất tới 50% năng suất
(Ou, 1985).
1.1.2. Triệu chứng bệnh, tác nhân gây bệnh và phương pháp chẩn đoán,
giám định bệnh bạc lá lúa
Bệnh bạc lá do vi khuẩn X. oryzae gây ra 3 loại triệu chứng điển là: Bạc
lá, vàng nhợt và héo xanh (Goto, 1969). Trong đó triệu chứng Kresek gây hại
lúa nặng hơn triệu chứng bạc lá. Lá của cây toàn bộ chuyển sang màu vàng
nhạt và héo giai đoạn đầu đẻ nhánh. Bệnh bùng phát dễ dẫn đến thiệt hại nặng
hoặc mất trắng hoàn toàn.
Triệu chứng Kresek được tìm thấy Indonexia sau khi cấy lúa bị nhiễm
bệnh, các lá bị bệnh có màu xanh xám nhạt và bắt đầu cuộn lại theo thân
chính của lá. Khi toàn bộ lá bị cuộn laị và héo, bệnh sẽ lan dần ở phần bẹ lá,
gốc lá. Vi khuẩn sẽ truyền theo mạch gỗ đến đỉnh sinh trưởng của cây non và
nhiễm bệnh cho các lá khác dẫn đến cậy non bị chết toàn bộ (Goto, 1969).

tiêu thụ nitrat, không sản sinh ammoniac, sản sinh khí H
2
S nhẹ. Vi khuẩn
không sản sinh Indol, men của nó không làm đông sữa, làm đỏ sữa quỳ,
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 7

không sản sinh khí và acid từ đường sacchrose (Ou, 1972). Nguồn cacbon tốt
nhất là đường glucose, galactose, suctose và nguồn đạm tốt nhất là glutamid
acid và aspartic acid, methionine, cysteine và asparagine.
Theo Quimio (1989), môi trường nuôi cấy thường dùng là môi trường
Wakimotos nhiệt độ tối thích là 26-30
0
C và pH là 6-6,5. Vi khuẩn không sống
lâu trong môi trường nước cất vôi trùng, nhưng sống khá bền trong đệm
phosphate với pH 7 và trong nước có pha peptone. Vi khuẩn tiết độc tố
phenylacetic acid trong môi trường nuôi cấy và trong lá bệnh, vi khuẩn còn
tổng hợp phân hóa phân giải protein và cellulose. Vi khuẩn rất rễ kháng với
Streptomycin, trong khi đối với các kháng sinh khác thì kháng ít hơn.
Vi khuẩn xâm nhập vào cây lúa qua các lỗ thủy khổng, qua các vết nứt
do sinh trưởng gây ra như rễ mới mọc, gốc bẹ lá và các vết thương gây ra do
con người đi lại, côn trùng, thời tiết. Vi khuẩn vào cây lúa qua vết thương trên
lá phổ biến và thuận lợi, vết thương mới vi khuẩn xâm nhập dễ hơn vết
thương cũ
Ở một số nước nhiệt đới, do thói quen xén đầu lá mạ khi cấy vô tình đã
tạo điều kiện thuận lợi cho vi khuẩn xâm nhập vào bên trong và gây hại.
Ngoài con đường xâm nhập qua lá, vi khuẩn còn có thể xâm nhập vào hệ
thống mạch nhựa ở rễ qua phân rễ bị đứt trong quá trình nhổ mạ. Khi vi khuẩn
xâm nhập qua rễ, cây lúa thường biểu hiện triệu chứng Kresek, làm lá và toàn
bộ cây bị héo rũ (Goodman, 1982).

1.1.3. Ảnh hưởng của điều kiện ngoại cảnh đến sự phát sinh phát triển của
bệnh bạc lá lúa
Sự phát sinh phát triển của bệnh có liên quan đến khí hậu, thời tiết.
Tổng lượng mưa, ngập lụt, gió mạnh và mức nước tưới trong ruộng, nhiệt độ
cao trong thời gian sinh trưởng của cây lúa làm tăng mức độ bệnh.
Nhiệt độ cho bệnh phát bệnh bạc lá vi khuẩn phát triển trong khoảng
25-30
0
C, song có những nghiên cứu lại cho rằng nhiệt độ tối thích trong
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 9

khoảng 24,3
0
C đến 34
0
C (Devadath, 1985) bệnh phát triển thành dịch trong
khoảng nhiệt độ 22-31
0
C tối thích 27-30
0
C. Sự khác biệt về khoảng nhiệt độ
giữa các nghiên cứu này có thể do yếu tố địa lý hay sự thích ứng địa lý khác
nhau của các chủng nòi vi khuẩn.
Trong thí nghiệm lây bệnh nhân tạo, bệnh phát triển mạnh ở nhiệt độ
25-28
0
C mạnh hơn 17-21
0
C. Ngoài nhiệt độ, ẩm độ cũng có ảnh hưởng lớn

cây trồng, làm tăng độ ẩm trong ruộng lúa, vì vậy lây lan nhanh.
Reddy et al. (1979) nghiên cứu ngoài đồng ruộng vơi hai giống lúa để
so sánh các cấp độ khác nhau của ứng dụng Nitơ ảnh hưởng đến năng suất và
mức độ bệnh bạc lá trong ba mùa. Kết quả cho thấy, mức độ Nitơ cao
>100kg/ha giống lúa mẫn cảm IET 2895 tăng bệnh và giảm năng suất. Giống lúa
kháng bệnh bạc lá IET 4141 bị ảnh hưởng và mức độ Nitơ và mức độ nghiêm
trọng giữa BLB và mức độ Nitơ được mô tả tốt nhất bởi hàm tuyến tính bậc hai
tương ứng. Mức tối ưu (để lấy được năng suất tối đa với các hiệu ứng bệnh tối
thiểu) là 76kg/ha đối với giống cây trồng dễ nhiễm IET 2895. Chiến lược ngừng
bón Nitơ cho lúa khi BLB nghiêm trọng được thảo luận liên quan đến việc tối ưu
cấp Nitơ.
Theo Horino (1982), ảnh hưởng của phân đạm tới bệnh còn phụ thuộc
vào số lượng phân đạm và thời kì, phương pháp bón đạm cho lúa, bón đạm
với số lượng nhiều, cây lúa xanh tốt quá, thân lá mềm yếu, hàm lượng đạm tự
do tích lũy khá cao đều làm cho lúa bị bệnh nặng hơn nhiều so với bón đạm ít,
tuy nhiên bón đạm nhiều hay ít còn phụ thuộc vào giống. Ngoài ra với cùng
một lượng đạm nhưng cách bón thời kì bón khác nhau cũng có ảnh hưởng
khá rõ tới mức độ bị bệnh. Bón đạm cân đối với lân và kali thì bệnh nhẹ hơn
nhiều so với bón đạm đơn thuần, tuy nhiên bón đạm vô cơ quá cao với lượng
quá cao 100N/ha hoặc 120N/ha trở lên đối với các giống lúa nhiễm Thì dù
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 11

có bón thêm lân và kali về sau thường chỉ có ý nghĩa hạn chế rõ rệt trong điều
kiên bón đạm vừa phải. Vì vậy bón đạm cân đối với kali ngay từ ban đầu có ý
nghĩa quan trọng trong việc phòng ngừa bệnh và hạn chế tác hại của bệnh.
1.1.5. Ảnh hưởng của giống đến sự phát sinh phát triển của bệnh bạc lá lúa
Những nghiên cứu về giống lúa kháng bệnh bạc lá ở Viện nghiên cứu lúa
quốc tế (IRRI) và Nhật Bản từ những năm 1960 cho đến 1998 đã được xác định
được 23 gen đơn kháng các nòi Race vi khuẩn X. oryzae gây bệnh bạc lá lúa các

trừ của vi khuẩn Bdellovibrio bacteriovorus bằng cách lây nhiễm nhân tạo
dung dịch có chứa vi khuẩn X. oryzae theo tỉ lệ tương ứng khác nhau (1:1,9: 1
và 99: 1). Kết quả cho thấy: cả chiều dài vết bệnh và triệu chứng bệnh đều
giảm tương ứng với tỉ lệ bệnh vi khuẩn tăng B. bacteriovorus lên trong dung
dịch lây nhiễm.
Biện pháp hóa học: Sử dụng thuốc hóa nên phun sớm trước khi vi
khuẩn sinh sôi nhất là sau trận mưa đối với những giống nhiễm bệnh, biện
pháp hóa học có hiệu quả cao nhưng lại gây độc hại với môi trường xung
quanh, tới nông sản thậm chí cả sức khỏe con người và tiêu tốn về kinh tế.
Những nghiên cứu ở Nhật bản đã chỉ ra rằng : dùng Boocdo và các hợp chất
chứa đồng để phun đã phần nào hạn chế được tác hại của bệnh, nhưng đồng
thời gây độc cho lúa (Devadath, 1985).
Khan et al. (2012) tiến hành thí nghiệm khả năng kiểm soát vi khuẩn
X. oryzae trong ống nghiệm với 6 chất kháng sinh gồm có Benzylpenicillin,
Ampicillin, Kanammycin, Streptomycin, Chloramphencol, Sinobioni với cá
nhiều lượng 31.2 và 62.5,125 và 500 µg/ml. Kết quả cho thấy tất cả 6 chất
kháng sinh đều kiểm soát tốt bệnh bạc lá trong phòng thí nghiệm, trong đó
Benzylpencilline, Ampicillin, Kanammycin có hiệu quả cao nhất trong phòng
thí nghiệm.
1.2. Tình hình nghiên cứu trong nước
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 13

Bệnh bạc lá phát hiện ở Việt Nam sau năm 1954, trên các giống lúa địa
phương cao cây, nhưng mức độ gây hại không nghiêm trọng. Khi phong trào
thâm canh lúa phát triển đặc biệt là việc gieo trồng các giống lúa địa phương
năng suất cao, chịu phân tốt, kết hợp với sử dụng nhiều phân bón hóa học là
nguyên nhân chính dẫn đến bệnh bạc lá phát triển lan tràn trong cả vụ xuân và
vụ mùa. Theo Viện khoa Kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam đã khẳng định
giống lúa Trân Châu lùn bị bệnh 100%, vụ mùa năm 1969 đặt năng suất 17,7

Tiếp theo là các nghiên cứu về thành phần nhóm chủng vi khuẩn bạc lá
của tác giả Bùi Trọng Thủy (2004), Bùi Trọng Thủy và Phan Hữu Tôn
(2004), dựa trên 11 dòng chỉ thị mang các gen kháng Xa1, Xa2, Xa3, Xa4,
xa5, Xa7, Xa10, Xa11, Xa12, Xa14, Xa21, các tác giả đã nhóm các chủng bạc
lá phân lập trong giai đoạn 2001-2005 thành 12 chủng. Trong giai đoạn 2007-
2008, tác giả Bùi Trọng Thủy và cộng sự đã phát hiện thêm 3 chủng vi khuẩn
bạc lá mới ở Nam Định, Bắc Ninh và Hà Nội, nâng tổng số các chủng vi
khuẩn bạc lá lên con số 15. Theo kết quả nghiên cứu của Cục Bảo vệ thực vật
về sự đa dạng di truyền một số chủng vi khuẩn gây bệnh ở miền Bắc bằng cặp
mồi XOR đặc hiệu cho thấy 47 chủng phân lập vi khuẩn bạc lá được chia
thành 13 nhóm chủng (dẫn theo Lê Thanh Long, 2012). Khác hẳn với các tác
giả khác phân nhóm vi khuẩn bạc lá trên cơ sở phản ứng kháng nhiễm các
dòng chị thị (tester – các dòng NIL mang các gen kháng khác nhau) đối với
các chủng vi khuẩn, tác giả Nguyễn Văn Viết và Đặng Thị Phương Lan
(2008) đã sử dụng kỹ thuật mới - đó là kỹ thuật nghiên cứu đa dạng di truyền
trên cơ sở đa hình 2 gen 16S- và 13S- rDNA đặc thù cho vi khuẩn bạc lá. Các
dữ liệu về đồng dạng di truyền của 60 chủng vi khuẩn bạc lá phân lập ở Miền
Bắc Việt Nam được xử lý trên chương trình NTSYS cho thấy các chủng bạc
lá được phân thành 13 nhóm, trong đó nhóm 2 và 3 có tần xuất lớn nhất-
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 15

chiếm 14,89%. Điều đó chứng tỏ thành phần các chủng sinh thái ở Miền Bắc
Việt Nam rất phong phú và đa dạng.
Bệnh có thể phát sinh, phát triển ở tất cả các vùng trồng lúa trong cả 2
vụ lúa. Vụ Chiêm bệnh thường phát sinh gây hại vào tháng 3-4 và phát triển
mạnh hơn vào tháng 5-6 khi lúa chiêm xuân trỗ và chín. Tuy nhiên bệnh
thường phát sinh gây hại vào vụ Mùa. Bệnh có thể phát sinh sớm với các trà
lúa sớm. Đối với các giống lúa mẫn cảm thường bị nhiễm bệnh rất sớm và
nặng. Các trà lúa cấy trỗ muộn vào tháng 10 thường bị bệnh nhẹ hơn nên tác

khuẩn gây hại cũng tăng dần khi cho chúng tiếp xúc gây bệnh nhiều lần trên
giống kháng.
Giống nào có lá ngắn, hẹp, mộc thẳng thì kháng bệnh hơn những lá
mộc xòe, làm tăng ẩm độ và tăng cơ hội lây lan bởi các lá tiếp xúc nhau. Số
lượng thùy khổng của từng giống cùng có vai trò quan trọng việc kháng bệnh
bạc lá tạo ra các tổ hợp lai như Việt lai 24 (103s/IRBB21) Việt lai 24 so với
đối chứng là Bồi tạp sơn thanh, thời gian sinh trưởng ngắn hơn từ 7-10 ngày,
năng suất chấp nhận, thuộc nhóm cây lùn, đặc biệt mang gen kháng bệnh bạc
lá Xa21 (Vũ Hồng Quang và cs., 2011).
Về tính kháng các gen kháng bệnh bạc lá, những nghiên cứu ở Việt
Nam trước kia đã cho thây rằng tổ hợp 2-3 gen trong số các gen xa5, Xa7,
Xa21 có thể chống chịu được hầu hết các chủng bạc lá ở đồng bằng Bắc Bộ,
Trong nghiên cứu về khả năng kháng bệnh bạc lá của các giồng chỉ thị
(Tester) chứa đa gen khán với một số chủng vi khuẩn X. oryzae pv, oryzae
gây bệnh bạc lá lúa phổ biến ở miền bắc Việt Nam, tác giả Bùi Trọng Thủy và
Phan Hữu Tôn (2004) cũng cho thấy tổ hơp các dòng NILs mang gen xa5 và
Xa7 kháng tốt với 7 chủng vi khuẩn sử dụng trong phòng thí nghiệm.
Đạm là nhân tố có ảnh hưởng rõ rệt tới sự phát sinh phát triển của bệnh.
Đạm vô vơ dễ làm cho cây lúa nhiễm bệnh nặng hơn đạm hữu cơ. Bón qua

Trích đoạn thời kỳ cao điểm gây hại của bệnh trên đồng ruộng (giai đoạn Thuốc hóa học chỉ có tác dụng phòng bệnh là chính, do vậy cần khuyến cáo nông dân phun thuốc khi bệnh mới xuất hiện, đồng thờ i nên phun
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status