Đánh giá một số mô hình khoanh nuôi phục hồi rừng tự nhiên vùng đồi núi ven biển tỉnh phú yên - Pdf 43

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ NÔNG NGHIỆP &PTNT

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP VIỆT NAM
--------

TRẦN CAO NGUYÊN

ĐÁNH GIÁ MỘT SỐ MÔ HÌNH KHOANH NUÔI PHỤC HỒI
RỪNG TỰ NHIÊN VÙNG ĐỒI NÚI VEN BIỂN TỈNH PHÚ YÊN
Chuyên ngành: Lâm học
Mã số: 60.62.02.01

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. VÕ ĐẠI HẢI

Hà Nội, 2013


1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Theo đánh giá của Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc (UNDP) thì Việt
Nam nằm trong tốp 5 nước đứng đầu thế giới dễ bị tổn thương nhất đối với biế n đổi
khí hậu và khi mực nước biển tăng 1m ở Việt Nam sẽ mất 5% diện tích đất đai,
11% người mất nhà cửa, giảm 7% sản lượng nông nghiệp và 10% thu nhập quốc nội
GDP. Để ứng phó với biến đổi khí hậu, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã
xây dựng kế hoạch hành động thích ứng với biến đổi khí hậu của ngành Nông

nhất định, theo số liệu thống kê của Dự án cho thấy từ khi triển khai năm 2006 đến
năm 2012 tổng diện tích khoanh nuôi xúc tiến tái sinh đã đạt 1180,35 ha, tổng diện
tích khoanh nuôi xúc tiến tái sinh có trồng bổ sung đạt 505,34 ha. Hệ thống các biện
pháp kỹ thuật lâm sinh đã được áp dụng trong các mô hình và cơ cấu loài cây trồng
bổ sung trong các mô hình là các loài Sao đen, Dầu rái, Mây nếp, Lim xanh với các
mật độ trồng bổ sung là 500 cây/ha và 1000 cây/ha.
Tuy nhiên, hiệu quả phục hồi rừng bằng giải pháp khoanh nuôi phục hồi
rừng lại phụ thuộc vào rất nhiều những yếu tố khác nhau như: lập địa, hiện trạng
rừng đưa vào khoanh nuôi, biện pháp kỹ thuật lâm sinh đã áp dụng, thời gian
khoanh nuôi phục hồi rừng,… Việc đánh giá được hiện trạng và hiệu quả phục hổi
rừng của các mô hình là việc hết sức cấp thiết để góp phần làm cơ sở khoa học lựa
chọn các mô hình khoanh nuôi phục hồi rừng có hiệu quả hơn. Xuất phát từ những
nhu cầu thực tiễn đó, Đề tài: “Đánh giá một số mô hình khoanh nuôi phục hồi
rừng tự nhiên vùng đồi núi ven biển tỉnh Phú Yên” đặt ra là hết sức cần thiết. Đây
là một vấn đề cần thiết khách quan, có giá trị về mặt lý luận và thực tiễn trong công
cuộc bảo vệ, phát triển rừng tự nhiên vùng đồi núi ven biển tỉnh Phú Yên nói riêng
và vùng Nam Trung bộ nói chung.


3

Chương 1
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới.
Theo ITTO (2002), phục hồi rừng bằng khoanh nuôi là quá trình thúc đẩy diễn
thế đi lên của hệ sinh thái rừng, nâng cao mức độ đa dạng sinh học, điều chỉnh cấu
trúc, sản lượng của chúng thông qua việc bảo vệ không tác động hoặc sử dụng các
biện pháp kỹ thuật lâm sinh như: xúc tiến tái sinh; xúc tiến tái sinh kết hợp trồng bổ
sung, làm giàu rừng.
David Lam (2003) đã phân tích quan điểm về phục hồi rừng qua sơ đồ:

Theo quan điểm của các nhà nghiên cứu thì hiệu quả tái sinh rừng được xác
định bởi mật độ, tổ thành loài cây, cấu trúc tuổi, chất lượng cây con, đặc điểm phân
bố. Sự tương đồng hay khác biệt giữa tổ thành lớp cây tái sinh và tầng cây gỗ lớn đã
được nhiều nhà khoa học quan tâm (Mibbread, 1930; Richards, 1933; 1939;
Aubreville, 1938; Beard, 1946; Lebrun và Gilbert, 1954; Joné, 1955-1956; Schultz,
1960; Baur, 1964; Rollet, 1969 [48]). Do tính chất phức tạp về tổ thành loài cây,
trong đó chỉ có một số loài có giá trị nên trong thực tiễn, người ta chỉ khảo sát
những loài cây có ý nghĩa nhất định.
Quá trình tái sinh tự nhiên ở rừng nhiệt đới vô cùng phức tạp và còn ít được
nghiên cứu. Phần lớn tài liệu nghiên cứu về tái sinh tự nhiên của rừng mưa thường chỉ
tập trung vào một số loài cây có giá trị kinh tế dưới điều kiện rừng đã ít nhiều bị biến
đổi. Van steenis (1956) [50] đã nghiên cứu hai đặc điểm tái sinh phổ biến của rừng
mưa nhiệt đới là tái sinh phân tán liên tục của các loài cây chịu bóng và tái sinh vệt của
các loài cây ưa sáng.
Vấn đề tái sinh rừng nhiệt đới được thảo luận nhiều nhất là hiệu quả các cách
thức xử lý lâm sinh liên quan đến tái sinh của các loài cây mục đích ở các kiểu rừng.
Từ đó các nhà lâm sinh học đã xây dựng thành công nhiều phương thức chặt tái sinh.
Công trình của Bernard (1954, 1959); Wyatt Smith (1961, 1963) [51] với phương thức
rừng đều tuổi ở Mã Lai; Nicholson (1958) ở Bắc Borneo; Donis và Maudoux (1951,
1954) với công thức đồng nhất hoá tầng trên ở Zaia; Taylor (1954), Jones (1960) với
phương thức chặt dần tái sinh dưới tán ở Nijêria và Gana; Barnarji (1959) với phương
thức chặt dần nâng cao vòm lá ở Andamann. Nội dung chi tiết các bước và hiệu quả
của từng phương thức đối với tái sinh đã được Baur (1964) [2] tổng kết trong tác phẩm:
Cơ sở sinh thái học của kinh doanh rừng mưa.


5

Các công trình nghiên cứu về phân bố tái sinh tự nhiên rừng nhiệt đới đáng chú
ý là công trình nghiên cứu của Richards, P.W (1952), Bernard Rollet (1974), tổng kết

Katherin Wamer, (1991), [43] có những nghiên cứu các kỹ thuật bản địa về
canh tác nương rẫy ở các nước nhiệt đới. Trên cơ sở đó ông đã đề ra một số giải
pháp phục hồi và quản lý rừng ở một số nước nhiệt đới (dẫn theo Nguyễn Quốc
Dựng, 2005) [12].
Độ khép tán của quần thụ ảnh hưởng trực tiếp đến mật độ và sức sống của cây
con. Trong công trình nghiên cứu mối quan hệ qua lại giữa cây con và quần thụ,
V.G.Karpov (1969) đã chỉ ra đặc điểm phức tạp trong quan hệ cạnh tranh về dinh
dưỡng khoáng của đất, ánh sáng, độ ẩm và tính chất không thuần nhất của quan hệ qua
lại giữa các thực vật tuỳ thuộc đặc tính sinh vật học, tuổi và điều kiện sinh thái của
quần thể thực vật (dẫn theo Nguyễn Văn Thêm, 1992) [34].
Trong nghiên cứu tái sinh rừng người ta nhận thấy rằng tầng cỏ và cây bụi qua
thu nhận ánh sáng, độ ẩm và các nguyên tố dinh dưỡng khoáng của tầng đất mặt đã ảnh
hưởng xấu đến cây con tái sinh của các loài cây gỗ. Những quần thụ kín tán, đất khô và
nghèo dinh dưỡng khoáng do đó thảm cỏ và cây bụi sinh trưởng kém nên ảnh hưởng
của nó đến các cây gỗ tái sinh không đáng kể. Ngược lại, những lâm phần thưa, rừng
đã qua khai thác thì thảm cỏ có điều kiện phát sinh mạnh mẽ. Trong điều kiện này
chúng là nhân tố gây trở ngại rất lớn cho tái sinh rừng (Xannikov, 1967; Vipper, 1973)
(dẫn theo Nguyễn Văn Thêm, 1992) [34] .
Như vậy, các công trình nghiên cứu được đề cập ở trên đã phần nào làm sáng tỏ
việc đặc điểm tái sinh tự nhiên ở rừng nhiệt đới. Đó là cơ sở để xây dựng các phương
thức lâm sinh hợp lý.
Tái sinh tự nhiên của thảm thực vật sau nương rẫy được một số tác giả nghiên
cứu. Saldarriaga (1991) nghiên cứu tại rừng nhiệt đới ở Colombia và Venezuela nhận
xét: Sau khi bỏ hoá số lượng loài thực vật tăng dần từ ban đầu đến rừng thành thục.
Thành phần của các loài cây trưởng thành phụ thuộc vào tỷ lệ các loài nguyên thuỷ mà
nó được sống sót từ thời gian đầu của quá trình tái sinh, thời gian phục hồi khác nhau
phụ thuộc vào mức độ, tần số canh tác của khu vực đó (dẫn theo Phạm Hồng Ban,
2000) [1]. Kết quả nghiên cứu của các tác giả Lambert et al (1989), Warner (1991),
Rouw (1991) [45] đều cho thấy quá trình diễn thế sau nương rẫy như sau: đầu tiên đám


việc phục hồi rừng bằng giải pháp khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên là hoàn
toàn có triển vọng.


8

Với tác giả Vũ Tiến Hinh (1991), (2006) [19], [20] khi nghiên cứu về đặc
điểm của rừng tự nhiên đã đề cập đến đặc điểm tái sinh theo thời gian của cây rừng
và ý nghĩa của nó trong điều tra cũng như trong kinh doanh rừng. Từ kết quả đó tác
giả cũng đề xuất các loại biện pháp xúc tiến tái sinh tự nhiên và tác giả có đưa ra đề
nghị: do khó nhận biết tên cây của tầng tái sinh nên có thể sử dụng quan hệ giữa hệ
số tổ thành tầng tái sinh và tầng cây cao để xác định hệ số tổ thành tầng tái sinh.
Trần Đình Lý (1995) [25] đã nghiên cứu xác định diện tích và hệ thống biện
pháp kỹ thuật lâm sinh cho việc khoanh nuôi phục hồi rừng. Qua đó tác giả đã làm
sáng tỏ khái niệm khoanh nuôi phục hồi rừng, xác định đối tượng cụ thể, thời gian
và tiêu chuẩn rừng sau khoanh nuôi, nội dung công việc cần tiến hành trong quá
trình khoanh nuôi và tác giả đã xây dựng được bản quy phạm cho khoanh nuôi phục
hồi rừng.
Lâm Phúc Cố (1995) [10] khi nghiên cứu về mô hình phục hồi rừng sau
nương rẫy ở Lâm trường Púng Luông, Mù Căng Chải, Yên Bái, có kết luận là, phục
hồi rừng bằng khoanh nuôi có hiệu quả nhất trong việc tạo rừng phòng hộ đầu
nguồn sông Đà ở Púng Luông. Việc bổ sung một phần những cây mới có chất lượng
để tạo ra một lâm phần gồm những cây gỗ lớn chiếm ưu thế rút ngắn được thời gian
diễn thế, nâng cao giá trị rừng khoanh nuôi về phòng hộ đầu nguồn và kinh tế.
Phó Đức Đỉnh (1995) [14], khi nghiên cứu xúc tiến tái sinh tự nhiên rừng
Thông ba lá ở Lâm trường Đà Lạt – Lâm Đồng, đã tiến hành phân chia rừng Thông
ba lá tại khu vực nghiên cứu thành 5 loại hình xúc tiến tái sinh tự nhiên và xây dựng
các biện pháp kỹ thuật cho 5 loại hình này.
Trương Hồ Tố (1996) [38] khi nghiên cứu về cấu trúc của quần thể rừng
Thông ba lá ở Lâm Đồng, đã đề xuất là thường xuyên mở tán rừng chính để giải

hoặc cũng có thể một thảm thực vật trung gian xuất hiện một lớp cây con tái sinh lại
rừng cũ trong tương lai và sẽ thay thế thảm thực vật trung gian này, lúc bấy giờ
rừng cũ sẽ được phục hồi.
Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam 2002 [41] khi nghiên cứu về chọn loài
cây phục vụ trồng rừng và khoanh nuôi phục hồi rừng, đã đưa ra 31 loài cây bản địa
để phục vụ cho trồng mới rừng hoặc khoanh nuôi phục hồi rừng tự nhiên.
Phạm Ngọc Thường – 2003, [32], đề xuất một số giải pháp kĩ thuật lâm sinh
phục hồi rừng sau nương rẫy ở hai tỉnh Thái nguyên – Bắc cạn trên một số mô hình.


10

Mô hình khoanh nuôi tái sinh tự nhiên, mô hình này có thời gian phục hồi 7 – 8 năm
cho biết được mật độ cây tái sinh và số lượng cây tái sinh có triển vọng/ha. Nhưng
công trình này không đưa ra số liệu về kích thước cây tái sinh và không có mô hình
đối chứng nên chưa đánh giá được hiệu quả của khoanh nuôi tái sinh tự nhiên đến
mức nào?. Mô hình khoanh nuôi xúc tiến tái sinh trồng bổ sung cho biết cây trồng
bổ sung có tỷ lệ sống cao, sinh trưởng tốt nhưng lại không đề cập tới tình hình tái
sinh như thế nào thông qua biện pháp kỹ thuật lâm sinh do vậy nó vẫn chưa minh
chứng được hiệu quả của mô hình.
Những nghiên cứu về phục hồi rừng ở trong nước cũng đã được tiến hành
khá bài bản từ những nghiên cứu cơ bản cho đến những nghiên cứu ứng dụng theo
trào lưu phát triển KTLS trên thế giới nhưng có sự điều chỉnh áp dụng vào kết quả
của nó là những quy trình kỹ thuật đã được ban hành.
Phạm Ngọc Thường (2003) [35] khi nghiên cứu đặc điểm tái sinh của thảm
thực vật Vầu, Nứa sau nương rẫy tại Thái Nguyên và Bắc Kạn, kết quả đã cho thấy
sau 4 - 6 năm tiến hành các biện pháp khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên thì mật
độ Vầu tái sinh khoảng 5.120 cây/ha và Nứa tái sinh khoảng 7.300 cây/ha, rừng có
chất lượng cây tốt chiếm tỷ lệ cao từ 68 - 78%. Với kết quả nghiên cứu đã đạt được,
tác giả cho rằng với thảm thực vật tái sinh sau nương rẫy có nguồn gốc là rừng

trạng thái Ic với các khoảng thời gian > 8 năm; 5 – 8 năm và < 5 năm, v.v…
Theo Võ Đại Hải (2008) [16], (2009) [17] thì Vối thuốc và Vối thuốc răng cưa
có khả năng tái sinh tự nhiên rất mạnh ở các trạng thái rừng phục hồi sau nương rẫy
với hệ số tổ thành dao động từ 2,4 - 9,7, tỷ lệ cây tái sinh triển vọng từ 73 - 100%
(đối với Vối thuốc) và hệ số tổ thành từ 0,05 - 1,8, mật độ cây tái sinh từ 250 1.562 cây/ha (đối với Vối thuốc răng cưa). Vì vậy, tác giả khuyến nghị cần thực
hiện giải pháp khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên đối với các trạng thái rừng này
bằng các biện pháp lâm sinh như phát luỗng dây leo bụi rậm, chặt cây tái sinh phi
mục đích,… sẽ cho triển vọng phục hồi rừng cao.
Nguyễn Quang Dương, 2009 [13] đã tiến hành nghiên cứu xúc tiến tái sinh
Keo tai tượng tại các tỉnh miền núi phía bắc Việt Nam đã có kết luận. Hiện nay tại
khu vực nghiên cứu đã sử dụng 7 biện pháp kỹ thuật lâm sinh khác nhau trong việc
tạo rừng bằng xúc tiến tái sinh tự nhiên sau khai khác là:
- Chặt nhỏ cành, nhánh, rải đều trên toàn bộ diện tích sau khai thác rừng Keo


12

tai tượng rồi đốt toàn diện.
- Chặt nhỏ cành, nhánh sau khai thác rừng Keo tai tượng rồi xếp thành hàng
vào các vị trí hàng cây sẽ định trồng sau này rồi đốt.
- Chặt nhỏ cành, nhánh sau khai thác rồi xếp thành băng rộng tương đương 5
hàng cây, đốt theo băng.
- Xử lý thực bì toàn diện rồi đốt, sau đó trồng rừng phòng hộ theo dự án 661
(Cây bản địa và cây phù trợ Keo tai tượng), cây tái sinh Keo tai tượng được chọn
lọc giữ lại để nuôi dưỡng.
- Gieo hạt trên đất không có rừng Keo tai tượng khai thác, sau đó xử lý thực
bì toàn diện bằng phát đốt, tiến hành trồng cây nông nghiệp.
- Đào hố sắn dưới tán rừng, sau đó chặt nhỏ cành nhánh cho vào hố rồi đốt
- Xử lý thực bì và vật liệu sau khai thác rừng Keo tai tượng rồi đốt toàn diện,
trồng rừng cây bản địa, Keo tai tượng tái sinh giữ lại tạo thành rừng hỗn giao với

ban hành ngày 31 tháng 3 năm 1993, và Quy phạm phục hồi rừng bằng khoanh nuôi
xúc tiến tái sinh kết hợp trồng bổ sung (QPN 21 - 98) [5] ban hành ngày 04 tháng
11 năm 1998. Cụ thể như sau:
* Về đối tượng tác động:
+ Đất rừng sau chặt trắng, nương rẫy bỏ hóa, trảng cỏ cây bụi, bãi bồi có
thuận lợi về nguồn giống (nguồn hạt phát tán tự nhiên hoặc chồi gốc, chồi rễ), có
thể xúc tiến tái sinh tự nhiên thành công bằng những tác động đơn giản như khoanh
nuôi bảo vệ, phát luỗng dây leo bụi rậm,…
+ Rừng hỗn loài tự nhiên không đều tuổi sau khai thác chọn trong khoảng
thời gian từ 1/3-2/3 luân kỳ chặt chọn hoặc rừng hỗn loài tự nhiên không đều tuổi
sau khai thác chọn không đúng kỹ thuật nhưng số cây có giá trị nuôi dưỡng ở tầng
cây cao không đạt mật độ (N) quy định (rừng kinh doanh gỗ lớn N >= 150-200
cây/ha, kinh doanh gỗ nhỏ N > = 500 - 600 cây/ha) nhưng có triển vọng xúc tiến tái
sinh thành công thông qua các biện pháp kỹ thuật đơn giản.
+ Đất bị mất rừng do bị khai thác kiệt; nương rẫy bỏ hóa còn tính chất đất
rừng; trảng cỏ xen cây gỗ, tầng đất mặt > 30 cm thỏa mãn 1 trong 3 điều kiện sau:
Cây con tái sinh mục đích >=300 (cây/ha), cao trên 50cm.
Gốc mẹ có khả năng tái sinh chồi >150 (cây/ha).
Cây mẹ gieo giống tại chỗ >25 cây/ha, phân bố tương đối đều.


14

+ Rừng Tre nứa phục hồi sau khai thác, nương rẫy, có độ che phủ trên 20%
diện tích và phân bố đều.
+ Rừng phòng hộ ở khu vực xung yếu và rất xung yếu có độ che phủ trên
40% và có khả năng tự phục hồi.
* Về kết quả:
- Sau quá trình khoanh nuôi xúc tiến tái sinh để đánh giá quá trình đó thành
công hay không cần có những tiêu chí cụ thể cho từng loại rừng, từng đối tượng đưa

dụng”, đồng thời quy định rõ các loại rừng, trách nhiệm trong công quản lý bảo vệ
rừng. Quyết định 08 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn [29], ban hành
quy chế quản lý các loại rừng. Quy chế này vừa mới được đổi mới bằng quyết định
186/2006 của Chính phủ [30], về quy chế quản lý rừng.
Trần Văn Con và Cộng sự (2005) [9] đã tổng kết ở việt nam hiện nay có một
số biện pháp kỹ thuật áp dụng chính cho phục hồi rừng là:
 Khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên kết hợp trồng bổ sung
Đây là một giải pháp sử dụng triệt để khả năng diễn thế tái sinh tự nhiên để
phục hồi rừng thông qua các biện pháp khoán bảo vệ, biện pháp kỹ thuật lâm sinh
và trồng bổ sung khi cần thiết. Phạm vi áp dụng được cho cả ba loại rừng phòng hộ,
đặc dụng và sản xuất. Đặc biệt, đã xác định rõ địa bàn áp dụng là nơi đã có quy
hoạch sử dụng đất chính thức và đã có chủ thực sự.
 Kỹ thuật làm giàu rừng
Làm giàu rừng được hiểu là một giải pháp kỹ thuật lâm sinh nhằm cải thiện
tỷ lệ cây mục đích ở rừng nghèo mà không loại bỏ thảm rừng cũ và các cây non
mục đích có sẵn (Phạm xuân hoàn 2003). Mục đích của làm giàu rừng là tạo ra một
lâm phần mới với cây trồng làm giàu chiếm ưu thế được trồng hỗn giao với các loài
cây có giá trị kinh tế có sẵn trong thảm rừng cũ. Đối tượng của làm giàu rừng là
rừng nghèo kiệt thuộc trạng thái IIIA1, có cấu trúc bị phá vỡ hoàn toàn; số lượng
cây tái sinh mục đích không bảo đảm về số và chất lượng. Biện pháp kỹ thuật bao
gồm: làm giàu rừng theo rạch và làm giàu rừng theo đám.
 Cải tạo rừng
Cải tạo rừng là việc thay thế thảm thực vật gốc bằng một thảm thực vật hoàn
toàn mới có năng suất và chất lượng cao hơn thảm thực vật gốc. Cũng tương tự như
làm giàu rừng, cải tạo rừng có thể dựa vào thảm thực vật cũ để điều chỉnh ánh sáng


16

cho cây trồng và cũng có thể để lại các cây có giá trị kinh tế của thảm rừng cũ. Tuy

17

- Ở Viê ̣t Nam, vấn đề khoanh nuôi phục hồi rừng đang là một yêu cầu bức
thiết được đặt ra đối với đối tượng rừng tự nhiên là rừng thứ sinh nghèo kiệt và đây
cũng là chủ đề được rất nhiều các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu. Nhiều loài
cây đặc biệt là cây bản địa, nhiều mô hình và nhiều hệ thống các biện pháp kỹ thuật
đã được nghiên cứu, thử nghiệm, áp dụng ở nhiều vùng trong cả nước, từ đó đã đúc
rút được nhiều quy trình, hướng dẫn kỹ thuật trồng rừng cho nhiều loài cũng như ở
các địa phương khác nhau. Bên cạnh đó, nhiều văn bản pháp lý liên quan đến
khoanh nuôi phục hồi rừng cũng đã ra đời, tạo hành lang pháp lý quan trọng trong
việc xây dựng, triển khai các chương trình, kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng.
- Tuy nhiên, vùng đất đồi núi ven biển tỉnh Phú Yên là một vùng rất đặc thù,
đất đã bị thoái hóa lâu ngày, nghèo dinh dưỡng, thường xuyên chịu nhiều tác động
của gió bão,... Vì vậy, cần phải có những đánh giá cụ thể về kết quả của các mô
hình khoanh nuôi phục hồi rừng đã triển khai tại địa phương thuộc dự án KFW6
nhằm rút ra những cơ sở khoa học, những bài học kinh nghiệm thực tiễn nhằm nâng
cao hiệu quả, chất lượng của các mô hình nhằm áp dụng rộng rãi trong công cuộc
bảo vệ và phát triển rừng. Xuất phát từ những yêu cầu này, đề tài đặt ra là cần thiết.


18

Chương 2
MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Mục tiêu nghiên cứu.
2.1.1. Về lý luận
Đánh giá được hiện trạng và hiệu quả phục hồi rừng một số mô hình khoanh
nuôi phục hổi rừng tại vùng đồi núi ven biển tỉnh Phú Yên.
2.1.2. Về mặt thực tiễn.

* Về nội dung nghiên cứu:
- Với các mô hình khoanh nuôi xúc tiến tái sinh không trồng bổ sung chỉ tập
trung vào nghiên cứu sự thay đổi cấu trúc tầng cây cao và cây tái sinh.
- Với các mô hình khoanh nuôi xúc tiến tái sinh có trồng bổ sung: Tập trung
vào nghiên cứu, đánh giá về sinh trưởng, tỷ lệ sống và chất lượng cây trồng bổ sung.
- Về đề xuất một số biện pháp kỹ thuật và loài cây áp dụng: Đề tài chỉ đề
xuất định hướng một số giải pháp kỹ thuật lâm sinh và loài cây áp dụng trong
khoanh nuôi xúc tiến tái sinh, xúc tiến tái sinh có trồng bổ sung.
2.3. Nội dung nghiên cứu
- Khái quát chung về tình hình thực hiện khoanh nuôi phục hồi rừng tự nhiên
vùng đồi núi ven biển tỉnh Phú Yên.
- Đánh giá các mô hình khoanh nuôi xúc tiến tái sinh rừng tự nhiên vùng đồi
núi ven biển tỉnh Phú Yên.
- Đánh giá các mô hình khoanh nuôi xúc tiến tái sinh có trồng bổ xung rừng
tự nhiên vùng đồi núi ven biển tỉnh Phú Yên.
- Đề xuất một số giải pháp kỹ thuật lâm sinh và loài cây áp dụng trong
khoanh nuôi xúc tiến tái sinh, xúc tiến tái sinh có trồng bổ sung rừng tự nhiên vùng
đồi núi ven biển tỉnh Phú Yên.
2.4. Phương pháp nghiên cứu
2.4.1. Quan điểm nghiên cứu và phương pháp luận
- Mỗi biện pháp kỹ thuật áp dụng trong các mô hình khoanh nuôi xúc tiến tái
sinh là khác nhau sẽ dẫn đến kết quả phục hồi rừng khác nhau, do vậy cách tiếp cận
của Đề tài là đánh giá theo từng biện pháp kỹ thuật đã áp dụng.


20

- Vùng đồi núi ven biển tỉnh Phú Yên khá rộng, trải dài theo bờ biển khoảng
189 km và đi qua nhiều huyện của tỉnh Phú Yên nên các điều kiện tự nhiên, kinh tế
- xã hội sẽ khác nhau và điều này sẽ dẫn đến sự ảnh hưởng phục hồi rừng khác

Yên

Đánh giá các mô hình
khoanh nuôi xúc tiến tái
sinh rừng tự nhiên vùng
đồi núi ven biển tỉnh Phú
Yên

Đánh giá các mô hình
khoanh nuôi xúc tiến
tái sinh có trồng bổ
sung rừng tự nhiên
vùng đồi núi ven biển

Đề xuất một số giải pháp kỹ thuật lâm sinh và
loài cây áp dụng trong khoanh nuôi xúc tiến
tái sinh, xúc tiến tái sinh có trồng bổ sung rừng
tự nhiên vùng đồi núi ven biển tỉnh Phú Yên
Hình 2.1. Sơ đồ nghiên cứu tổng quát

tỉnh Phú Yên


22

2.4.2. Phương pháp nghiên cứu cụ thể.
2.4.2.1. Phương pháp kế thừa.
- Kế thừa các tài liệu, thông tin về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và tài
nguyên rừng của 3 địa điểm nghiên cứu là thị xã Sông Cầu, huyện Đồng Xuân và
huyện Tuy An.


- Tiến hành mô tả ÔTC: Vị trí, địa điểm, đặc điểm cây bụi thảm tươi (loài
cây, chiều cao), độ tàn che, độ che phủ, độ dốc,...
- Phương pháp thu thập số liệu trong ÔTC.
+ Tiến hành đo đếm và ghi chép các chỉ tiêu tầng cây cao về: Loài cây, Hvn,
D1.3, Dt, tình hình sinh trưởng, của tất cả các cây có D1.3 trên 6 cm có trong ÔTC.
Riêng đối với cây trồng bổ sung, thay vì đo đếm D1.3 Đề tài sẽ tiến hành đo đếm và
ghi chép D00.
+ Chiều cao vút ngọn (Hvn), chiều cao dưới cành (Hdc) được đo bằng thước
đo cao có độ chính xác đến 0,1m, đơn vị tính là m.
+ Xác định đường kính ngang ngực (D1.3) và đường kính gốc (D0) bằng
thước kẹp kính có độ chính xác tới 0,1 cm, đơn vị là cm. Đối với cây đa thân cần
tiến hành đo đếm các chỉ tiêu sinh trưởng cho tất cả các thân và có ghi chú rõ.
+ Điều tra chất lượng rừng: Điều tra chất lượng cây rừng dựa vào Hvn, D1,3,
độ thẳng thân, khả năng tỉa cành, để đánh giá chất lượng cây (tốt, xấu, trung bình).
Cây tốt là cây có Hvn, D1,3 hơn Hvn, D1,3 của những cây trung bình của ÔTC, không
sâu bệnh, tỉa thưa tự nhiên tốt, thân thẳng, độ thon thân cây đồng đều. Cây xấu là
những cây có các chỉ tiêu sinh trưởng Hvn, D1,3 nhỏ hơn cây trung bình.
Cấp sinh trưởng được phân ra 3 cấp như sau:
Cấp I: Cây sinh trưởng tốt, sức sống mạnh, không sâu bệnh.
Cấp II: Cây sinh trưởng bình thường.
Cấp III: Cây sinh trưởng chậm, sức sống kém, bị sâu bệnh làm ảnh
hưởng tới sinh trưởng của cây.
+ Phương pháp thu thập số liệu nghiên cứu về cây tái sinh:
Cây tái sinh là những cây còn non sống dưới tán rừng, từ giai đoạn
cây mạ cho đến khi chúng bắt đầu tham gia vào tán chính của rừng. Tuy nhiên Đề
tài chỉ thu thập số liệu của các cây tái sinh có chiều cao > 30cm và đường kính D 1.3
< 6cm. Cây tái sinh có chiề u cao lớn hơn 2m, sinh trưởng phát triể n tố t hoă ̣c trung
bình đươ ̣c đánh giá là cây tái sinh có triể n vo ̣ng.Các chỉ tiêu về cây tái sinh sẽ được


IV % 

N %  G%
2

(2-1)



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status