i
LỜI CAM ĐOAN
Luân văn này là kết quả nghiên cứu của tôi, các số liệu và các kết quả nghiên
cứu được trình bày trong luân văn này là trung thực và chưa được sử dụng trong bất
cứ Luận văn nào trước đây.
Kết quả nghiên cứu của tôi đều do sự hướng dẫn của giảng viên, các thông
tin trong luân văn đều được trích dẫn và chỉ rõ nguồn gốc. Bản luận văn này là kết
quả nỗ lực làm việc của cá nhân tôi (ngoài phần đã trích dẫn).
Tác giả luận văn
Cấn Văn Phan
ii
LỜI CẢM ƠN
Luận văn là kết quả của quá trình học tập, nghiên cứu ở nhà trường, kết hợp
với kinh nghiệm thực tiễn trong quá trình công tác, sự nỗ lực cố gắng của bản thân.
Đạt được kết quả này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến quý thầy, cô giáo
trường Đại học Lâm nghiệp Việt Nam đã nhiệt tình giúp đỡ, hỗ trợ cho tôi trong
suốt quá trình học tập. Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất đến Thầy
giáo Tiến sĩ Trần Hữu Dào – Trưởng Khoa QTKD Trường ĐHLN là người trực tiếp
hướng dẫn khoa học. Thầy đã dày công giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu
và hoàn thành luận văn.
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn đến Lãnh đạo Ủy ban nhân dân huyện Quốc
Oai, Lãnh đạo và chuyên viên các phòng thuộc huyện Quốc Oai: Lao động Thương binh và xã hội, Thống kê, Tài chính - Kế hoạch, Kinh tế và Hạ tầng, Dân
tộc, Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Nội vụ, Tài nguyên và Môi trường, Các
tổ chức Đoàn thể huyện Quốc Oai; Ngân hàng Chính sách xã hội huyện; UBND các
xã Đông Yên, Đại Thành, Thị Trấn Quốc Oai và nhân dân trả lời phiếu phỏng vấn
đã giúp đỡ, tạo điều kiện cho tôi nghiên cứu và hoàn thành luận văn này.
CNH
Công nghiệp hóa
CTCP
Công ty cổ phần
DN
Doanh nghiệp
DNTN
Doanh nghiệp tư nhân
DPPR
CT phân cấp giảm nghèo - Decentralised Programme for Poverty
Reduction
ĐVT
Đơn vị tính
GQVL
Giải quyết việc làm
HĐH
Lao động
THCS
Trung học cơ sở
THPT
Trung học phổ thong
TNHH
Trách nhiệm hữu hạn
TTCN
Tiểu thủ công nghiệp
SX
Sản xuất
SXKD
Sản xuất kinh doanh
UBND
Ủy ban nhân dân
1.3.3. Một số bài học rút ra từ nghiên cứu thực tiễn về giải quyết việc làm ở nông
thôn .....................................................................................................................27
1.3.4 Một số công trình liên quan đến giải quyết việc làm cho lao động nông
thôn .....................................................................................................................28
Chương 2 ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA HUYỆN QUỐC OAI VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU ..........................................................................................................30
2.1. Đặc điểm cơ bản của huyện Quốc Oai, TP Hà Nội ........................................30
2.1.1. Các đặc điểm tự nhiên ..............................................................................30
v
2.1.2. Các đặc điểm kinh tế - xã hội ...................................................................35
2.1.3. Thực trạng phát triển đô thị và các khu dân cư ........................................40
2.1.4. Thực trạng phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội ...................41
2.1.5.Thực trạng phát triển xã hội ......................................................................44
2.1.6. Thực trạng dân số, lao động, việc làm trên địa bàn huyện Quốc Oai ......45
2.2. Phương pháp nghiên cứu của đề tài ................................................................53
2.2.1. Chọn địa điểm nghiên cứu........................................................................53
2.2.2. Các phương pháp nghiên cứu ...................................................................53
2.2.3. Hệ thống chỉ tiêu sử dụng trong nghiên cứu đề tài ..................................54
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ......................................................................57
3.1. Thực trạng giải quyết việc làm ở huyện Quốc Oai .........................................57
3.1.1. Thực trạng giải quyết việc làm ở các doanh nghiệp.................................57
3.1.2.Thực trạng giải quyết việc làm thông qua triển khai các chương trình, dự án .59
3.1.3. Thực trạng giải quyết việc làm lao động nông thôn tại các địa điểm khảo
sát (GQVL ở các nông hộ) .................................................................................72
3.2. Một số nhân tố ảnh hưởng đến việc làm của lao động tại huyện Quốc Oai, TP
Hà Nội ....................................................................................................................80
3.2.1. Độ tuổi của lao động. ...............................................................................80
Giá trị sản xuất ngành nông lâm thủy sản huyện Quốc Oai
37
2.3
Giá trị sản xuất ngành công nghiệp giai đoạn 2010 – 2012
38
2.4
Giá trị kinh tế ngành dịch vụ giai đoạn 2010 – 2012
39
2.5
Dân số, lao động và việc làm của huyện Quốc Oai từ 2010 – 2012
39
2.6
Hiện trạng hạ tầng giao thông huyện Quốc Oai
41
2.7
49
2.14 Tổng hợp kết quả giải quyết việc làm huyện Quốc Oai qua các năm
50
2.15 Thu nhập bình quân ở huyện Quốc Oai
51
2.16 Lựa chọn vùng điều tra
53
3.1
Việc làm tại các cơ sở trên địa bàn huyện
57
3.2
Tổng hợp vay vốn quốc gia GQVL qua các năm
63
3.3
Tổng hợp hộ nghèo của huyện theo chuẩn giai đoạn 2006 – 1010
72
3.8
Tổng hợp phiếu điều tra số liệu thực tế
73
3.9
Trình độ văn hóa của lao động trong vùng khảo sát
74
3.10 Trình độ CMKT của lao động trong vùng khảo sát
75
3.11 Lĩnh vực sản xuất trong vùng điều tra
76
3.12 Thời gian làm việc của người lao động trong vùng điều tra
77
3.13 Nguyên nhân thiếu việc làm tại vùng khảo sát
78
TT
Tên hình
Trang
2.1
Tỷ lệ % tạo việc làm từ các doanh nghiệp
58
2.2
Cơ cấu độ tuổi lao động trong nhóm điều tra
73
2.3
So sánh trình độ văn hóa của lao động trong các xã điều tra
74
2.4
Lĩnh vực sản xuất trong vùng điều tra
76
cho lao động ở nông thôn như: Chương trình xoá đói giảm nghèo; Chương trình
134, 135; Chương trình vốn vay giải quyết việc làm; Chương trình giảm nghèo
nhanh và bền vững cho 62 huyện nghèo trên phạm vi cả nước; Chương trình đào tạo
nghề cho lao động khu vực nông thôn đến năm 2020, chương trình xây dựng nông
thôn mới… Tuy nhiên, với yêu cầu cao của phát triển kinh tế và quá trình hội nhập
đang đặt ra thì giải quyết việc làm cho lao động ở nông thôn còn nhiều bất cập,
không được như mong muốn: Số lượng vị trí việc làm chưa đáp ứng nhu cầu, còn
thiếu cân đối giữa các vùng, miền; còn nhiều hạn chế trong đào tạo nghề cho lao
động khu vực nông thôn, nhiều chính sách chưa đến tận người lao động,...
Vì vậy, giải quyết việc làm cho người lao động ở nông thôn trong quá trình
đô thị hóa là vấn đề nóng bỏng, cấp thiết cho từng ngành, địa phương và từng gia
đình. Tạo điều kiện cho người lao động có việc làm, một mặt nhằm phát huy tiềm
năng lao động, nguồn lực to lớn ở nước ta cho sự phát triển kinh tế - xã hội, mặt
khác là hướng cơ bản để xoá đói, giảm nghèo có hiệu quả, là cơ sở để cải thiện và
nâng cao đời sống cho nhân dân, góp phần quan trọng giữ vững an ninh chính trị và
2
trật tự an toàn xã hội, tạo động lực mạnh mẽ thực hiện sự nghiệp công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước.
Quốc Oai là huyện có diện tích đất nông nghiệp tương đối lớn, huyện có 94
làng, thôn thuộc 20 xã và 01 Thị trấn. Với vị trí gần trung tâm Hà Nội, có các tuyến
giao thông trọng yếu chạy qua là đường Hồ Chí Minh và Đại lộ Thăng Long, Quốc Oai
có nhiều tiềm năng để phát triển các ngành kinh tế, nhất là việc cung cấp lương thực,
thực phẩm và các dịch vụ cho nội thành. Khu vực nông nghiệp, nông thôn chiếm tỷ
trọng lớn với sản xuất nông nghiệp lúa nước là chủ yếu. Tỷ trọng dân số, lao động và
diện tích đất đai trong khu vực nông nghiệp nông thôn chiếm tỉ lệ cao, vì thế việc tìm
kiếm các giải pháp hữu hiệu để sử dụng có hiệu quả lực lượng lao động, chuyển dịch
cơ cấu lao động, giải quyết việc làm cho người lao động ở khu vực nông thôn trên địa
+ Các cơ quan quản lý về lao động việc làm trên địa bàn huyện.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về nội dung: Nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về việc
làm và thu nhập của người lao động trên địa bàn huyện Quốc Oai,TP Hà Nội.
- Phạm vi về không gian: Được thực hiện tại các xã trên địa bàn huyện Quốc
Oai,TP Hà Nội.
- Phạm vi về thời gian: Được nghiên cứu trong giai đoạn từ năm 2009 đến
năm 2012, có khảo sát thực trạng tại thời điểm đầu năm 2013.
4. Nội dung nghiên cứu
- Hệ thống hóa được cơ sở lý luận và thực tiễn về giải quyết việc làm cho lao
động khu vực nông thôn.
- Đánh giá được thực trạng công tác giải quyết việc làm cho lao động khu
vực nông thôn trên địa bàn huyện huyện Quốc Oai, TP Hà Nội .
- Làm rõ những nhân tố ảnh hưởng đến kết quả giải quyết việc làm cho lao
động khu vực nông thôn trên địa bàn huyện Quốc Oai, TP Hà Nội.
- Đề xuất các giải pháp tạo việc làm cho lao động khu vực nông thôn trên địa
bàn huyện Quốc Oai, TP Hà Nội.
4
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM
Ở NÔNG THÔN
1.1. Cơ sở lý luận về giải quyết việc làm ở nông thôn
1.1.1. Cơ sở lý luận cơ bản về nông thôn
1.1.1.1. Khái niệm, đặc điểm của nông thôn
* Khái niệm: Nông thôn là vùng khác với thành thị ở chỗ ở đó có cộng đồng
chủ yếu là nông dân sinh sống và làm việc, mật độ dân cư thấp, cơ cấu hạ tầng kém
phát triển hơn, trình độ tiếp cận thị trường và sản xuất hàng hóa thấp hơn [13].
- Nông thôn cũng là nơi có vị trí trọng yếu trong củng cố và giữ gìn an ninh
quốc phòng của đất nước.
- Nông thôn cũng là nơi lưu truyền gìn giữ các giá trị văn hóa của các dòng
họ, các dân tộc.
1.1.2. Cơ sở lý luận cơ bản về lao động
1.1.2.1. Khái niệm về lao động
Có nhiều cách tiếp cận khác nhau về khái niệm lao động, nhưng suy cho
cùng lao động là hoạt động đặc thù của con người, phân biệt con người với con vật,
xã hội loài người và xã hội loài vật. Bởi vì, khác với con vật, lao động của con
người là hoạt động có mục đích, có ý thức tác động vào thế giới tự nhiên nhằm cải
biến những vật tự nhiên thành sản phẩm phục vụ cho nhu cầu đời sống của con
người. Theo C.Mác “Lao động trước hết là một quá trình diễn ra giữa con người và
tự nhiên, một quá trình trong đó bằng hoạt động của chính mình, con người làm
trung gian, điều tiết và kiểm tra sự trao đổi chất giữa họ và tự nhiên” [2].
Ph.Ăng-ghen viết: “Khẳng định rằng lao động là nguồn gốc của mọi của cải.
Lao động đúng là như vậy, khi đi đôi với giới tự nhiên là cung cấp những vật liệu
cho lao động đem biến thành của cải. Nhưng lao động còn là một cái gì vô cùng lớn
lao hơn thế nữa, lao động là điều kiện cơ bản đầu tiên của toàn bộ đời sống loài
người, và như thế đến một mức mà trên một ý nghĩa nào đó, chúng ta phải nói: Lao
động đã sáng tạo ra bản thân loài người” [5].
6
1.1.2.2. Lực lượng lao động
Theo quan niệm của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) là bộ phận dân số
trong độ tuổi lao động theo thực tế đang có việc làm và những người thất nghiệp.
Theo giáo trình Kinh tế phát triển, trường Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội
(2005), ở nước ta hiện nay thường sử dụng khái niệm sau: “Lực lượng lao động là
bộ phận dân số đủ 15 tuổi trở lên có việc làm và những người thất nghiệp”. Lực
7
Hoặc:
W
=
T
Q
Trong đó:
W: Là số lượng sản phẩm được sản xuất ra trong một đơn vị thời gian hay là
năng suất lao động, thường được biểu diễn dưới dạng chỉ tiêu kép: Hiện vật,
thời gian hay giá trị thời gian.
Q: Là khối lượng sản phẩm sản xuất ra trong một thời gian nhất định.
T: Là tổng thời gian hao phí để sản xuất ra Q sản phẩm.
1.1.2.6. Lao động khu vực nông thôn
Lao động khu vực nông thôn là lực lượng dân số trong và ngoài độ tuổi lao
động, thuộc khu vực nông thôn, có khả năng lao động và có nhu cầu lao động.
Đặc điểm cơ bản của lao động khu vực nông thôn:
- Trình độ thể lực hạn chế do kinh tế kém phát triển, mức sống thấp. Điều
này ảnh hưởng đến năng suất lao động và phát triển kinh tế.
- Trình độ văn hóa, khoa học kỹ thuật cũng như trình độ tiếp cận thị trường
thấp. Đặc điểm này cũng ảnh hưởng đến khả năng tự tạo việc làm của lao động.
- Lao động khu vực nông thôn nước ta còn mang nặng tư tưởng và tâm lý
tiểu nông, sản xuất nhỏ, ngại thay đổi nên thường bảo thủ và thiếu năng động.
1.1.3. Cơ sở lý luận cơ bản về việc làm
1.1.3.1. Khái niệm về việc làm
Việc làm có nhiều khái niệm khác nhau, tuy nhiên vẫn có một quan điểm
nhập, không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm” [17].
Có thể phân loại việc làm thành 3 dạng [16]:
- Làm các công việc để nhận tiền công, tiền lương bằng tiền mặt hoặc bằng
hiện vật cho công việc đó, nói cách khác là các công việc làm thuê.
- Tự làm các công việc hoặc tổ chức làm để tạo ra thu nhập, lợi nhuận cho
bản thân, bao gồm hoạt động nông nghiệp trên đất do chính thành viên đó sở hữu,
quản lý hay có quyền sử dụng hoặc hoạt động kinh tế ngoài nông nghiệp do chính
9
thành viên đó làm chủ toàn bộ hoặc một phần. Nói cách khác là bỏ vốn kinh doanh.
- Làm các công việc cho hộ gia đình mình nhưng không được trả thù lao
dưới hình thức tiền công, tiền lương cho công việc đó, bao gồm sản xuất nông
nghiệp trên đất do chủ hộ hoặc một thành viên trong hộ sở hữu, quản lý hay có
quyền sử dụng hoặc hoạt động kinh tế ngoài nông nghiệp do chủ hộ hoặc một thành
viên trong hộ làm chủ hoặc quản lý.
Tóm lại, từ những khái niệm trên, trong điều kiện hiện nay có thể hiểu việc làm
như sau: Việc làm là hoạt động có ích, không bị pháp luật ngăn cấm, tạo thu nhập hoặc
lợi ích cho bản thân gia đình người lao động hoặc cho một cộng đồng nào đó.
1.1.3.2. Người có việc làm
Theo Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) thì: “Người có việc làm là những
người đang làm một việc gì đó được trả tiền công hoặc những người tham gia vào
các hoạt động mang tính chất tự thoả mãn lợi ích thay thế thu nhập của gia đình”.
Theo định nghĩa của Tổng cục Thống kê: “Người có việc làm là những người
đang làm việc trong thời gian quan sát và những người trước đó có việc làm nhưng
hiện đang nghỉ tạm thời vì các lý do như ốm đau, đình công, nghỉ hè, nghỉ lễ, trong
thời gian sắp xếp lại sản xuất, do thời tiết xấu, máy móc hư hỏng…”.
Theo Bộ Lao động - Thương Binh và Xã hội: “Người có việc làm là người
đủ 15 tuổi trở lên đang làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân mà trong tuần lễ
thậm chí nhiều thời gian hơn mức bình thường nhưng thu nhập thấp, nguyên nhân của
tình trạng này là do tay nghề hoặc kỹ năng của người lao động thấp không sử dụng hết
khả năng hiện có hoặc do điều kiện lao động tồi, tổ chức lao động kém. Thước đo khái
niệm thiếu việc làm vô hình là mức thu nhập thấp hơn mức lương tối thiểu.
1.1.3.4. Thất nghiệp
- Theo "Thực trạng lao động việc làm" của Bộ Lao động - Thương binh và
Xã hội: “Người thất nghiệp là những người thuộc lực lượng lao động có khả năng
lao động trong trong tuần lễ điều tra không có việc làm, có nhu cầu về việc làm
nhưng không tìm được việc làm” [25] .
- Theo khái niệm của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO): “Thất nghiệp (theo
nghĩa chung nhất) là tình trạng tồn tại khi một số người trong độ tuổi lao động
muốn có việc làm nhưng không thể tìm được việc làm ở mức tiền công nhất định.
Người thất nghiệp là người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động, không có
việc làm và đang có nhu cầu tìm việc làm” [18].
Như vậy, những người thất nghiệp tất yếu họ phải thuộc lực lượng lao động
hay dân số hoạt động kinh tế. Một người thất nghiệp phải có 3 điều kiện: Đang
mong muốn và tìm việc làm; Có khả năng làm việc; Hiện đang chưa có việc làm.
Với cách hiểu như thế, không phải bất kỳ ai có sức lao động nhưng chưa làm
việc đều được coi là thất nghiệp. Do đó một tiêu thức quan trọng để xem xét một
người được coi là thất nghiệp thì phải biết được người đó có muốn đi làm hay
11
không. Bởi lẽ, trên thực tế nhiều người có sức khoẻ, có nghề nghiệp song không có
nhu cầu làm việc, họ sống chủ yếu dựa vào “nguồn dự trữ” như kế thừa của bố mẹ,
nguồn tài trợ.
1.1.3.5. Tạo việc làm:
Tạo việc làm cho người lao động là đưa người lao động vào làm việc để tạo ra
trạng thái phù hợp giữa sức lao động và tư liệu sản xuất, tạo ra hàng hóa và dịch vụ
xem xét cả từ ba phía: Người lao động, người sử dụng lao động và Nhà nước.
GQVL theo nghĩa rộng là tổng thể những biện pháp, chính sách kinh tế - xã
hội của Nhà nước, cộng đồng và bản thân người lao động tác động đến mọi mặt của
đời sống xã hội để đảm bảo cho mọi người có khả năng lao động và được lao động.
GQVL theo nghĩa hẹp là các biện pháp, chính sách chủ yếu hướng vào đối
tượng thất nghiệp, chưa có việc làm hoặc thiếu việc làm nhằm tạo việc làm cho
người lao động, để giảm tỷ lệ thất nghiệp, thiếu việc làm.
Khái niệm GQVL rộng hơn khái niệm tạo việc làm. Trong phạm trù GQVL,
ngoài nội dung tạo việc làm (như đã đề cập ở trên), còn có nội dung môi giới việc
làm. Môi giới việc làm về thực chất là hoạt động nhằm giúp người lao động đang
tìm việc làm và chủ sử dụng lao động đang cần tuyển lao động dễ dàng gặp nhau,
qua đó giúp người lao động dễ dàng tìm được việc làm. Xuất khẩu lao động và
chuyên gia về thực chất cũng là một hoạt động môi giới việc làm.
1.1.3.7. Vai trò của việc làm đối với người lao động ở nông thôn
Khi giải quyết được việc làm cho lao động khu vực nông thôn sẽ:
- Có điều kiện nâng cao mức sống của người dân, đây là điều kiện phát triển
kinh tế, văn hóa, giáo dục, y tế ở nông thôn, là điều kiện quan trọng hình thành
nguồn nhân lực có chất lượng cao cung cấp cho nền kinh tế quốc dân.
- Nâng cao mức sống của cư dân nông thôn là điều kiện quan trọng để ổn
định xã hội, phát triển kinh tế nông thôn và xây dựng nông thôn mới.
- Ngăn chặn được dòng người di cư tự do từ nông thôn ra thành thị, ổn định
kinh tế xã hội ở cả nông thôn và thành thị.
1.1.3.8. Một số loại hình việc làm đặc trưng ở khu vực nông thôn
- Việc làm thuần nông: Việc làm thuần nông là những việc làm đặc trưng và
mang tính phổ biến của khu vực nông thôn. Ở nước ta, việc làm thuần nông bao
gồm trồng trọt và chăn nuôi. Trồng trọt và chăn nuôi là hai công việc chính, chiếm
13
14
GQVL vừa là nhiệm vụ bức xúc, vừa là chiến lược lâu dài. Vấn đề đặt ra là
phải bảo đảm cho môi trường nhân tạo hoà hợp với môi trường thiên nhiên, coi đây
là một mục tiêu chính quan trọng trong GQVL, đồng thời phải có giải pháp khắc
phục tác động với thiên tai, sự biến động khí hậu bất lợi và hậu quả chiến tranh còn
lại đối với môi trường sinh thái nước ta. Vấn đề này cần được xuyên suốt trong toàn
bộ chiến lược về việc làm thể hiện trong từng vùng, từng ngành, từng lĩnh vực, từng
cộng đồng dân cư để con người thực sự làm chủ được môi trường sống của mình
hoặc hạn chế được đến mức thấp nhất những tác động xấu của biến động môi
trường. Như vậy, bảo vệ và cải thiện môi trường không chỉ là mục tiêu trong GQVL
mà còn là điều kiện để phát triển bền vững.
1.1.5.2. Nhân tố về dân số
Dân số là nguồn nhân lực, là yếu tố quyết định đến sự phát triển kinh tế xã
hội của đất nước. Tăng trưởng dân số với tốc độ và quy mô hợp lý là nguồn cung
cấp nguồn nhân lực vô giá. Tuy nhiên, nếu dân số phát triển quá nhanh, quy mô
phát triển lớn, vượt quá khả năng đáp ứng và yêu cầu của xã hội, thì tăng trưởng
dân số không phải là yếu tố tích cực mà lại là gánh nặng cho nền kinh tế.
Mức sinh, mức chết, cơ cấu giới, tuổi của dân số đều ảnh hưởng đến quy mô
của lực lượng lao động. Nếu mức sinh cao dẫn đến gia tăng nhanh chóng số lượng
người trong độ tuổi lao động trong tương lai,...
Ngoài ra, vấn đề di dân và các dòng di dân, đặc biệt là di dân từ nông thôn ra
đô thị gây ra các áp lực kinh tế - xã hội và chính trị còn nguy hiểm hơn so với tỷ lệ
gia tăng dân số nhanh chóng. Quá trình đô thị hoá gây ra hậu quả trực tiếp đến vấn
đề việc làm, để có thể thu hút hết số lao động này, cần phải nhanh chóng tạo ra một
số lượng lớn chỗ làm việc. Một vấn đề khác là chất lượng của số lao động này về
học vấn, đào tạo, trình độ nghề nghiệp không đáp ứng được với yêu cầu công việc
trong khu đô thị. Do đó, tỷ lệ thất nghiệp, thiếu việc làm sẽ tăng lên.
1.1.5.3. Nhân tố về chính sách vĩ mô
Để GQVL cho người lao động, vấn đề quan trọng nhất là Nhà nước phải tạo
hướng phát triển, trước hết cung cấp cho xã hội một lực lượng lao động mới đủ về
số lượng, nâng cao chất lượng và phát huy hiệu quả để đảm bảo việc thực hiện
thắng lợi sự nghiệp CNH, HĐH đất nước.
16
- Về Khoa học công nghệ: Khoa học công nghệ đã làm biến đổi cơ cấu đội
ngũ lao động. Bên cạnh những ngành nghề truyền thống đã xuất hiện những ngành
nghề mới và cùng với nó là xu hướng tri thức hoá công nhân, chuyên môn hoá lao
động, giảm bớt lao động chân tay nặng nhọc.
Trong nền kinh tế phát triển, người lao động muốn thích ứng với các công
việc mà xã hội yêu cầu, trước hết họ phải là những người được trang bị một kiến
thức nhất định về khoa học công nghệ. Tuy nhiên, trong thực tế ở những nước sản
xuất kém phát triển thường có mâu thuẫn: Nếu công nghệ sản xuất tiên tiến với các
dây chuyền sản xuất tự động hoá, chuyên môn hoá cao thì trình độ người lao động
chưa bắt kịp dễ dẫn đến tình trạng một bộ phận người lao động bị gạt ra khỏi quá
trình SXKD.
1.1.5.5. Nhân tố quốc tế trong quá trình toàn cầu hoá, hội nhập kinh tế quốc tế
Toàn cầu hoá đặt ra những thách thức và những nguy cơ lớn đối với tình
trạng việc làm ở tất cả các nước trên thế giới. Số lượng việc làm ở khu vực này có
thể tăng lên nhưng lại giảm đi ở khu vực khác, một số loại việc làm sẽ mất đi nhưng
một số loại việc làm mới xuất hiện.
Những biến đổi về quy mô và cơ cấu việc làm như vậy sẽ gây không ít khó
khăn và những chi phí lớn của cá nhân gia đình và toàn xã hội do mất việc làm, phải
tìm chỗ làm việc mới, phải học tập những kiến thức và kỹ năng mới, phải di chuyển
từ nơi này đến nơi khác để tìm việc làm, phải thích nghi với những điều kiện sống
luôn thay đổi. Gây gánh nặng về đào tạo lại, trợ cấp xã hội, trợ cấp thất nghiệp do
Chính phủ phải gánh chịu.
Trong điều kiện thế giới ngày nay, để khai thác và sử dụng tốt các yếu tố bên
1.3.1. Trên thế giới
1.3.1.1. Kinh nghiệm của Trung Quốc
Trung Quốc là nước đông dân nhất thế giới, với gần 1,339 tỷ dân (năm 2011)
nhưng gần 70% dân số vẫn còn ở khu vực nông thôn, hàng năm có tới trên 10 triệu
lao động đến tuổi tham gia vào lực lượng lao động xã hội nên yêu cầu GQVL trở
nên gay gắt hơn.
Trước đòi hỏi bức bách đó, thực tế từ những năm 1978 Trung Quốc đã thực
hiện mở cửa cải cách nền kinh tế, thực hiện phương châm “Ly nông bất ly hương,