BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
------------------------
HOÀNG KIM MỸ DUNG
ĐÁNH GIÁ TÀI NGUYÊN RỪNG NHẰM XÂY DỰNG KẾ HOẠCH
HÀNH ĐỘNG CHO REDD+ TẠI XÃ KHÁNH YÊN HẠ,
HUYỆN VĂN BÀN, TỈNH LÀO CAI
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
HÀ NỘI, 2015
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
------------------------
HOÀNG KIM MỸ DUNG
ĐÁNH GIÁ TÀI NGUYÊN RỪNG NHẰM XÂY DỰNG KẾ HOẠCH
HÀNH ĐỘNG CHO REDD+ TẠI XÃ KHÁNH YÊN HẠ,
HUYỆN VĂN BÀN, TỈNH LÀO CAI
giúp đỡ, quan tâm và tạo mọi điều kiện tốt nhất của khoa sau đại học và của
tập thể các thầy, cô giáo trong trường.
Trước hết tôi xin chân thành cảm ơn các thầy, cô khoa Lâm học, đặc
biệt trân trọng cảm ơn thầy giáo TS. Lê Xuân Trường đã hướng dẫnkhoa học,
truyền đạt góp ý và chỉnh sửa báo cáo khao học rất chi tiết trong cả quá trình
thực hiện để tôi hoàn thành bản luận văn này.
Tôi xin chân thành cảm ơn các cơ quan và cá nhân: UBND huyện Văn
Bàn, UBND xã Khánh Yên Hạ, Hạt kiểm lâm huyện Văn Bàn và các hộ gia
đình ở thôn Nản và thôn Sung đã cung cấp thông tin và tạo điều kiện giúp đỡ
tôi trong quá trình thực hiện đề tài.
Mặc dù tôi đa rất cố gắng để hoàn thành đề tài nhưng không tránh khỏi
những thiếu sót. Tôi rất mong nhận được những nhận xét, đánh giá và đóng
góp ý kiến của các thày cô giáo để đề tài được hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Ngày tháng 10 năm 2015
Tác giả
Hoàng Kim Mỹ Dung
iii
MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
LỜI CAM ĐOAN............................................................................................... i
LỜI CẢM ƠN ................................................................................................... ii
MỤC LỤC ........................................................................................................ iii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT ............................................................................ v
DANH MỤC CÁC BẢNG............................................................................... vi
3.2. Nguyên nhân dẫn đến mất và suy thoái rừng tại điểm nghiên cứu .......... 36
3.2.1. Tác nhân gây mất và suy thoát rừng ..................................................... 36
3.2.2. Công tác quản lý bảo vệ rừng tại điểm nghiên cứu .............................. 42
3.2.3. Các chính sách quản lý bảo vệ rừng tại điểm nghiên cứu .................... 43
3.2.4. Điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức trong giảm mất và suy thoái rừng ... 45
3.3. Các giải pháp phục hồi tài nguyên rừng điểm nghiên cứu ...................... 46
3.4. Đề xuất kế hoạch hành động cho REDD+ tại điểm nghiên cứu ............... 47
3.4.1. Mục đích, yêu cầu ................................................................................. 47
3.4.2. Kế hoạch hành động cho REDD+.......................................................... 48
KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ KHUYẾN NGHỊ ............................................... 53
TÀI LIỆU THAM KHẢO
v
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Nghĩa đầy đủ
Từ viết tắt
COP
Hội nghi thượng đỉnh các nước thành viên ( thuộc hiệp định
khung về biến đổi khí hậu)
CFC
Khí Clorofluorocacbonl là khí nhân tạo nguy hiểm nhất đối với
sức khoẻ con người và khí quyển trái đất
FAO
UNDP
Chương trình phát triển của liên hợp quốc
UNEP
Chương trình môi trường liên hợp quốc
UNFCCC
Hiệp đinh khung về biến đổi khí hậu của liên hợp quốc
TW
Trung ương
WMO
Tổ chức khí tượng thế giới
vi
DANH MỤC CÁC BẢNG
TT
Tên bảng
Trang
3.5
Trữ lượng cacbon cho từng loại rừng trồng trên 1ha
35
3.6
Những tác động của người dân tới rừng giàu
36
3.7
Mức độ tham gia quản lý rừng cộng đồng tại 2 thôn nghiên cứu
39
3.8
Những tác động của người dân tới rừng nghèo
40
3.9
Khối lượng củi được sử dụng trong một ngày của người dân
40
37
TT
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Hiện nay chúng ta đang sống trong một thế giới có nhiều biến đổi lớn:
khí hậu biến đổi, nhiệt độ trái đất đang nóng lên, băng tan, mực nước biển
đang dâng lên, dân số tăng nhanh…Biến đổi khí hậu là một trong những thách
thức lớn nhất với nhân loại trong thế kỉ 21. Nó đã và đang tác động nghiêm
trọng tới sản xuất, đời sống và môi trường trong phạm vi toàn thế giới. Trái
đất nóng lên, nước biển dâng cao, biến đổi khí hậu đến nay không còn là vấn
đề riêng của một nước nào mà đó là vấn đề chung, là trách nhiệm của toàn
cầu. Các quốc gia trên thế giới đang rất nỗ lực xây dựng và thực hiện các
hành động chiến lược nhằm thích ứng với sự nóng lên toàn cầu, ngăn ngừa và
hạn chế tác động của các hiện tượng khí hậu cực đoan do biến đổi khí hậu.
Ngày nay có rất nhiều nghiên cứu đưa ra các giải pháp nhằm giảm đáng kể
thiệt hại do những biến đổi này.
Khi chúng ta nghĩ về biến đổi khí hậu, chúng ta thường nghĩ về hiện
tượng băng tan, sông băng và nước biển dâng. Tuy nhiên, tác động của biến
đổi khí hậu đang ảnh hưởng sâu rộng, và cũng sẽ ảnh hưởng đến rừng và sinh
kế của người dân sống phụ thuộc vào rừng. Rừng là nạn nhân của biến đổi khí
hậu. Đồng thời, những tác động của họ vào rừng và quản lý bền vững của họ
sẽ giảm nhẹ biến đổi khí hậu. Theo báo điện tử VEN.vn “ Bởi theo các nhà
khoa học thì nguyên nhân chủ yếu của hiện tượng biến đổi khí hậu trong
những năm gần đây do con người đốt phá rừng, do vậy nhiệm vụ cấp bách
trước mắt tại các quốc gia là phải tăng cường chống phá rừng và giảm suy
thoái rừng để từ đó các nước có thể đề ra các biện pháp quản lý, bảo vệ và
3
Chương 1
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Cơ sở lý luận về REDD+
1.1.1. Biến đổi khí hậu
Khái niệm
Biến đổi khí hậu là sự thay đổi của hệ thống gồm khí quyển, thuỷ
quyển, sinh quyển, thạch quyển hiện tại và trong tương lai bởi các nguyên
nhân tự nhiên và nhân tạo trong một giai đoạn nhất định từ tính bằng thập kỷ
hay hàng triệu năm. Sự biển đổi có thế là thay đổi thời tiết bình quân hay thay
đổi sự phân bố các sự kiện thời tiết quanh một mức trung bình. Sự biến đổi
khí hậu có thế giới hạn trong một vùng nhất định hay có thể xuất hiện trên
toàn địa cầu.
Nguyên nhân và thực trạng của biến đổi khí hậu
Trong những năm gần đây, đặc biệt trong ngữ cảnh chính sách môi
trường, biến đổi khí hậu thường đề cập tới sự thay đổi khí hậu hiện nay, được
gọi chung bằng hiện tượng nóng lên toàn cầu. Nguyên nhân chính làm biến
đổi khí hậu trái đất là do sự gia tăng các hoạt động tạo ra các chất thải khí nhà
kính, các hoạt động khai thác quá mức các bể hấp thụ và bể chứa khí nhà kính
như sinh khối, rừng, các hệ sinh thái biển, ven bờ và đất liền khác.
Khí nhà kính là những khí có khả năng hấp thụ các bức xạ sóng dài
(hồng ngoại) được phản xạ từ bề mặt trái đất khi được chiếu sáng bằng ánh
sáng mặt trời, sau đó phân tán nhiệt lại cho trái đất, gây nên hiệu ứng nhà
kính.[1] Các khí nhà kính chủ yếu bao gồm: hơi nước, CO2, CH4, N2O, O3, các
khí CFC.
Hiệu ứng nhà kính, xuất phát từ effet de serre trong tiếng Pháp, do nhà
khoa học Jean Baptiste Joseph Fourier lần đầu tiên đặt tên vào năm 1824,
5
bình năm ở Việt Nam đã tăng lên 0,70C. Nhiệt độ trung bình năm của 4 thập
kỷ gần đây (1961 -2000) cao hơn trung bình năm của 3 thập kỷ trước đó
(1931- 1960). Nhiệt độ trung bình năm của thập kỷ 1991 - 2000 ở Hà Nội, Đà
Nẵng, thành phố Hồ Chí Minh đều cao hơn trung bình của thập kỷ 1931 1940 lần lượt là 0,8; 0,4 và 0,60C. Năm 2007, nhiệt độ trung bình năm ở cả 3
nơi trên đều cao hơn trung bình của thập kỷ 1931 - 1940 là 0,8 - 1,30C và cao
hơn thập kỷ 1991 - 2000: 0,4 - 0,0C.
- Lượng mưa. Trên từng địa điểm, xu thế biến đổi của lượng mưa trung
bình năm trong 9 thập kỷ vừa qua (1911- 2000) không rõ rệt theo các thời kỳ
và trên các vùng khác nhau: có giai đoạn tăng lên và có giai đoạn giảm xuống.
- Mực nước biển: Theo số liệu quan trắc trong khoảng 50 năm qua ở
các trạm Cửa Ông và Hòn Dấu, mực nước biển trung bình đã tăng lên khoảng
20 cm, phù hợp với xu thế chung của toàn cầu.
- Số đợt không khí lạnh: Ảnh hưởng tới Việt Nam giảm đi rõ rệt trong
hai thập kỷ gần đây (cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI). Năm 1994 và năm
2007 chỉ có 15-16 đợt không khí lạnh bằng 56% trung bình nhiều năm. 6/7
trường hợp có số đợt không khí lạnh trong mỗi tháng mùa đông (XI - III) thấp
dị thường (0-1 đợt) cũng rơi vào 2 thập kỷ gần đây (3/1990, 1/1993, 2/1994,
12/1994, 2/1997, 11/1997). Một biểu hiện dị thường gần đây nhất về khí hậu
trong bối cảnh BĐKH toàn cầu là đợt không khí lạnh gây rét đậm, rét hại kéo
dài 38 ngày trong tháng 1 và tháng 2 năm 2008 gây thiệt hại lớn cho sản xuất
nông nghiệp.
- Bão: Vào những năm gần đây, số cơn bão có cường độ mạnh nhiều
hơn, quỹ đạo bão dịch chuyển dần về các vĩ độ phía nam và mùa bão kết thúc
muộn hơn, nhiều cơn bão có quỹ đạo di chuyển dị thường hơn.
- Số ngày mưa phùn trung bình năm ở Hà Nội giảm dần trong thập kỷ
(1981 - 1990 ) và chỉ còn gần một nửa (15 ngày/năm) trong 10 năm gần đây.[4]
7
Trữ lượng các bon : là khối lượng của cacbon trong một bể chứa
cacbon [9].
Suy thoái rừng (forest degradation) : Theo UNEP rừng bị suy thoái là
những khu rừng thứ sinh, thông qua các hoạt động của con người, đã bị phá vỡ
cấu trúc, chức năng, tổ thành loài hoặc năng suất [6]. Theo định nghĩa của
IPCC, suy thoái rừng là các hoạt động trực tiếp của con người làm thiệt hại giá
trị của rừng (đặc biệt cacbon), được đặc trưng bởi giảm độ che phủ rừng [9].
Quản lý tốt tài nguyên rừng có vai trò quan trọng trong việc đối phó với
tình trạng biến đổi khí hâụ. Biến đổi khí hậu và rừng thực chất có mối liên
quan mật thiết với nhau. Những thay đổi khí hậu toàn cầu đang gây ra ảnh
hưởng đến các khu rừng, do nhiệt độ hàng năm của trái đất tăng cao hơn đã
làm thay đổi khí hậu toàn cầu đang gây ảnh hưởng đến các khu rừng, do nhiệt
độ hằng năm của trái đất tăng cao hơn đã làm thay đổi mô hình lượng mưa và
các hiện tượng thời tiết khắc nghiệt xảy ra với tần suất nhiều hơn. Tuy nhiên,
những cánh rừng, trực tiếp là cây xanh giúp thu giữ carbon và biến đổi chúng
nhờ quá trình quang hợp, giữ vai trò chủ yếu trong việc giảm khí nhà kính.
Các thảm thực vật đã thu giữ một lượng CO2 lớn hơn một nửa khối
lượng chất khí đó sinh ra từ sự đốt cháy các nhiên liệu hóa thạch trên thế giới.
và từ nguyên liệu carbon này hàng năm thảm thực vậ trên đất đã tạo ra được
150 tỷ tấn vật chất khô thực vật. Khám phá này càng khẳng định thêm vai trò
hệ sinh thái rừng trong việc làm giảm lượng CO2 trong khí quyển[8].
1.1.2.2. Thực trạng suy giảm tài nguyên rừng trên thế giới và ở Việt Nam
Trên thế giới
Theo số liêu của tổ chức Nông lương thế giới (FAO) : tổng diện tích
rừng trên thế giới hiện nay khoảng 4 tỉ ha, chiếm gần 30% diện tích đất toàn
cầu. Hàng năm trên thế giới bị mất đi khoảng 13 triệu ha rừng (trong đó có
rừng phòng hộ4.644,404 ha ( chiếm 37%), rừng sản xuất 6.677,105 ha (chiếm
47%), còn lại là ngoài quy hoạch rừng và đất lâm nghiệp 182,294 ha (chiếm
9
1%). Trong đó có 76% là rừng tự nhiên, 24% là rừng trồng, độ che phủ rừng
toàn quốc đạt 39,7%[1].
Việt Nam là một trong số ít quốc gia Châu Á có mức tịnh tiến diện tích
rừng, dó đó Việt Nam được đánh giá là đang ở giai đoạn thứ tư trong đường
cong diễn biến rừng, tức là diện tích rừng đang tăng. Xong số liệu cho thấy
phần lớn diện tích là rừng trồng thuần loài, còn rừng tự nhiên còn lại thì trong
tình trạng rừng nghèo hoặc đang quá trình tái sinh. Hơn thế nữa, xu thế chủ
đạo vẫn là phương thức phát triển và quản lý rừng manh mún và do vậy ngày
càng có nhiều diện tích rừng bị suy thoái [5].
1.1.3. Thế giới ứng phó với biến dổi khí hậu
Chính phủ nhiều nước đã bắt đầu hành động chống lại hiện tượng nóng
lên toàn cầu vào những năm 1980. Năm 1988, chương trình môi trường Liên
hợp quốc (UNEP) và tổ chức khí tượng thế giới (WMO) đã thành lập Ủy ban
liên chính phủ về biến đổi khí hậu (IPCC) nhằm cung cấp cho các nhà hoạch
định chính sách những thông tin khoa học tin cây có liên quan.
Năm 1990, IPCC xuất bản một báo cáo khẳng định rằng sự biến đổi khí
hậu là một mối đe dọa đối với toàn nhân loại và kêu gọi một hiệp ước quốc tế.
Đại hội đồng liên hợp quốc đáp ứng lời kêu gọi này bằng việc chính thức phát
động đàm phán công ước khung về sự biến đổi khí hậu. Kết quả là tháng
6/1992 Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu (UNFCCC)
đã ra đời. UNFCCC được ký kết tại hội nghị phát triển và môi trường Liên
hợp quốc (Hội nghị thượng đỉnh Trái đất) tại Rio de Janeiro, Brazil và có hiệu
lực từ tháng 3/1994. Mục tiêu cuối cùng của công ước là ổn định nồng độ các
khí nhà kính trong khí quyển ở mức an toàn. Để đạt được mục tiêu này, tất cả
hiện mục tiêu cắt giảm phát thải khí nhà kính tại các quốc gia đang phát triển
thông qua các chương trình như sản xuất sạch, trồng rừng, bảo vệ rừng....
Đây được coi là các cơ chế “linh hoạt” giúp các nước công nghiệp thực
hiện được cam kết với mức chi phí nhỏ hơn rất nhiều. Các nước công nghiệp
11
nhờ đó sẽ có điều kiện tiếp tục phát triển kinh tế, công nghiệp và… tiếp tục
phát thải.
Trong năm 1992, các chính phủ trên thế giới đã thống nhất nhận định
rằng nhiệt độ và thời tiết trên toàn cầu đã và đang thay đổi ở mức độ nhanh
chóng một cách bất thường. Trong khuôn khổ của Liên hiệp quốc, các chính
phủ đã quyết định gặp gỡ hàng năm để thảo luận tại sao hiện tượng này lại
diễn ra và cần phải làm gì. Đến năm 1997, hầu hết các nhà khoa học đều
khẳng định rằng nhiệt độ trên toàn cầu đang tăng lên nhanh chóng hơn nhiều
so với mức bình thường.
REDD (REDD -Reduced emission from Deforestation and Forest
Degradation in Developping Countries) là sáng kiến đã được đưa ra tại Hội
nghị lần thứ 11 (COP 11) các bên tham gia Công ước khung của Liên hợp
quốc về biến đổi khí hậu (UNFCCC) được tổ chức tại Montreal – Canada từ
năm 2005.
Đến hội nghị lần thứ 13 UNFCCC ( COP 13) diễn ra tại Bali Indonesia vào tháng 12 năm 2007, các bên thông qua kế hoạch hành động
Bali, trong đó bắt đầu đề xuất lộ trình xây dựng REDD và đưa REDD trở
thành một cơ chế chính thức thuộc hệ thống các biện pháp hạn chế biến đổi
khí hậu trong tương lai, đặc biệt là sau khi giai đoạn cam kết đầu tiên của
Nghị định thư Kyoto sẽ chính thức chấm dứt hiệu lực vào năm 2012. Cũng tại
COP 13, vấn đề nâng cao trữ lượng Cacbon bảo tồn quản lý rừng bền vững
REDD+ (dấu + nghĩa là mở rộng qui mô cơ chế REDD bổ sung thêm các nội
dung bảo tồn đa dạng sinh học, tăng cường dự trữ carbon từ rừng và quản lý
REDD sẽ được tối đa ở cả phạm vi dự án, quốc gia và toàn cầu khi chúng
được thiết kế thực hiện đúng đắn và hợp lý, đây cũng là mong muốn của các
nhà tài trợ cho REDD.
Chương trình REDD của Liên Hiệp Quốc ( UN-REDD) đã lựa chọn, hỗ
trợ, xây dựng và thực hiện thí điểm chiến lược quốc gia về REDD từ năm 2009
13
trong đó bao gồm các nước Bolivia, Campuchia, Cộng hòa dân chủ nhân dân
Công – gô, Indonesia, Panama, Papua New Guinea, Paraguay, Phillipin,
Salomon, Tauzania, Zambia và Việt Nam. Để thực hiện thành công REDD,
REDD+ các quốc gia đang phát triển có rừng phải thực hiện các chính sách để
giảm và thậm chí xóa bỏ tình trạng chặt rừng và suy thoái rừng đồng thời thực
hiện các chính sách làm tăng trữ lượng cacbon hiện có. Những quốc gia thực
hiện những chính sách này sẽ được “thưởng” tài chính từ chính phủ hoặc khu
vực kinh doanh của các nước phát triển, những nước cần bồi hoàn lượng phát
thải họ tạo ra, đồng thời các nước đang phát triển cũng được sự hỗ trợ và giúp
đỡ tích cực từ các nhà nghiên cứu, giới khoa học thế giới và đặc biệt là trung
tâm nghiên cứu lâm nghiệp quốc tế (CIFOR) là một trong những tổ chức quốc
tế có nhiều đóng góp lỗ lực nghiên cứu tích cực nhằm tăng cường hiểu biết về
REDD với mục đích cuối cùng góp phần cho chường trình REDD đạt hiệu quả.
Sự đền đáp và những triển vọng mới Cộng đồng quốc tế thừa nhận
ngày càng mạnh mẽ hơn về việc nếu như rừng được lồng ghép vào một giải
pháp chống biến đổi khí hậu toàn cầu thì các nước đang phát triển cần phải
được đền đáp cho những nỗ lực giảm thiểu mất rừng (khi rừng bị chặt trắng
để chuyển đổi sang các mục đích sử dụng đất khác) và suy thoái rừng (khi tài
nguyên rừng bị tổn hại). Xét cho cùng, đất có rừng rất quý giá – cung cấp gỗ
và tiềm năng chuyển đổi thành rừng trồng thương mại, hoặc làm nông nghiệp
để nuôi sống dân cư. Những sự đền đáp về mặt tài chính là cần thiết để đảm
Đây là công việc rất khó khăn. Không thể biết được một cách chắc chắn
điều gì sẽ xảy ra với rừng trong tương lai, và vì vậy dự báo không thể coi là
thực tế. Kịch bản tham khảo của mỗi quốc gia cần được các chuyên gia độc
lập kiểm chứng cẩn thận. Một số nước chắc chắn là sẽ có một tương lai khó
tiên đoán hơn là các nước khác, và mức độ rủi ro sẽ tác động tới tiềm năng
của một nước trong việc tạo nguồn thu nhập từ REDD.
Cơ chế REDD cũng tồn tại những kẽ hở mà qua đó nhiề