i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết quả
trình bày trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ
công trình nào khác.
Tôi xin cam đoan rằng các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ
nguồn gốc.
Hà nội, ngày 10 tháng 10 năm 2015
Tác giả
Phương Đoàn
ii
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập và thực hiện luận văn tốt nghiệp, tác giả đã nhận đã
nhận được sự chỉ bảo và giúp đỡ rất nhiệt tình của Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo,
Khoa Lâm học, Khoa Sau Đại học, cùng các thầy, cô giáo trong trường Đại học
Lâm Nghiệp
Qua đây tôi xin bày tỏ lòng tri ân sâu sắc đến PGS.TS. Phạm Xuân Hoàn,
người đã hết lòng giúp đỡ và hướng dẫn tận tình để tác giả hoàn thành luận văn
tốt nghiệp.
Đặc biệt xin chân thành cảm ơn Ban Giám đốc và các anh chị đang công tác
tại Vườn Quốc gia Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc; UBND xã Minh Quang, huyện Tam
Đảo, đã tạo điều kiện về thời gian và giúp đỡ tác giả cả về vật chất và tinh thần
trong quá trình thực hiện luận văn.
Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Ông Vũ Văn Quyết, Trưởng phòng
QLKH, Ban Quản lý VQG Tam Đảo, Ông Trần Văn Hồng, Trạm trưởng trạm Kiểm
lâm xã Minh Quang, huyện Tam Đảo, đã giúp đỡ trong quá trình đi điều tra, nghiên
1.3.2. Tại Việt Nam .................................................................................. 19
1.3.3. Các nghiên kiến thức bản địa liên quan đến rừng .......................... 20
1.4. Tầm quan trọng của kiến thức bản địa ................................................. 22
1.5. Thực trạng nghiên cứu và vận dụng kiến thức bản địa ở Việt Nam..... 25
CHƯƠNG 2. MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU................................................................... 27
2.1. Mục tiêu nghiên cứu ............................................................................. 27
2.1.1. Mu ̣c tiêu tổ ng quát.......................................................................... 27
2.1.2. Mu ̣c tiêu cu ̣ thể ............................................................................... 27
2.2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ........................................................ 27
2.2.1. Đối tượng nghiên cứu..................................................................... 27
iii
2.2.2. Phạm vi nghiên cứu ........................................................................ 27
2.3. Nội dung nghiên cứu ............................................................................ 27
2.3.1. Một số đặc trưng cơ bản của người Sán Dìu ở Tam Đảo. ............. 27
2.3.2. Hệ thống kiến thức bản địa người Sán Dìu trong sử dụng và bảo vệ
rừng đầu nguồn. ........................................................................................ 27
2.3.3. Kiến thức bản địa của người Sán Dìu trong khai thác và sử dụng
rừng (gỗ và lâm sản ngoài gỗ). ................................................................. 27
2.3.4. Hệ thống kiến thức bản địa trong bảo tồn các giá trị văn hóa truyền
thống. ........................................................................................................ 27
2.3.5. Một số đề xuất nhằm phát huy vai trò của KTBĐ trong quản lý
rừng........................................................................................................... 27
2.4. Phương pháp nghiên cứu ...................................................................... 27
2.4.1. Phương pháp điều tra xã hội học, thu thập số liệu ......................... 27
2.4.2. Phương pháp quan sát, đánh giá.................................................... 29
2.4.3. Phương pháp chuyên gia ................................................................ 29
thống ............................................................................................................ 67
4.4.1. Bảo tồn trang phục ......................................................................... 67
4.4.2. Bảo tồn tiếng nói, chữ viết ............................................................. 70
4.4.4. Bảo tồn dụng cụ lao động, sản xuất, trang phục truyền thống ....... 72
4.4.5. Bảo tồn nghề thuốc dân gian .......................................................... 73
4.4.6. Bảo tồn các phương tiện vận chuyển truyền thống ........................ 73
4.5. Đề xuất một số giải pháp bảo tồn kiến thức bản địa của đồng bào Sán
Dìu tại VQG Tam Đảo. ................................................................................ 74
4.5.1. Giải pháp lôi cuốn người dân vào hoạt động QLBVR................... 74
4.5.2. Giải pháp gìn giữ và phát triển kiến thức bản địa của cộng đồng . 76
KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ KIẾN NGHỊ....................................................... 79
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ BIỂU
v
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Viết tắt
Viết đầy đủ
VQG
Vườn Quốc gia
QLBVR
Quản lý bảo vệ rừng
Câu lạc bộ
vi
DANH MỤC CÁC BẢNG
TT
Tên bảng
Trang
1.1
So sánh kiến thức bản địa và kiến thức hàn lâm
10
3.1
Số liệu khí tượng của các trạm khí tượng trong khu vực Tam Đảo
34
3.2
Tổng lượng nước chảy của mùa lũ và mùa kiệt
36
55
4.5
Các kiểu rừng chính ở Tam Đảo
57
4.6
Hệ thực vật ở VQG Tam Đảo
58
4.7
Phân chia hệ thực vật Tam Đảo dựa vào giá trị kinh tế
58
4.8
Danh sách cây thuốc quý trong VQG Tam Đảo
64
vii
DANH MỤC CÁC HÌNH
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Rừng được xem là lá phổi xanh của thế giới giúp điều hòa khí hậu, cân bằng
sinh thái cho môi trường.Rừng là tài nguyên quý báu của quốc gia, là bộ phận quan
trọng của môi trường sinh thái, có giá trị to lớn về kinh tế - xã hội. Do vậy tài
nguyên rừng cần được quản lý, bảo vệ và phát triển bền vững và đây cũng là xu thế
phát triển lâm nghiệp của thế giới hiện nay.
Tuy nhiên, thực tế vẫn còn những tồn tại, đặc biệt diện tích rừng tuy có tăng
nhưng chất lượng và tính đa dạng sinh học của rừng tự nhiên vẫn tiếp tục bị suy giảm,
ở một số nơi diện tích rừng tiếp tục bị tàn phá. Trong bối cảnh như vâ ̣y, quản lý rừng
bền vững là định hướng chiến lược quan trọng nhằm phát huy tối đa tiềm năng của
ngành góp phần đóng góp vào nền kinh tế quốc dân; cải thiện đời sống người dân
vùng rừng núi; bảo tồn đa dạng sinh học và hệ sinh thái rừng.
Vùng dân tộc và miền núi phía Bắc Việt Nam gồm 15 tỉnh với diện tích 11
triệu ha chiếm 1/3 diện tích tự nhiên của cả nước, là địa bàn sinh sống của nhiều dân
tộc ít người với gầ n 12,3 triê ̣u người, chiếm 14,27% dân số cả nước và bằng 18%
dân số của vùng dân tộc và miền núi. Đây là vùng có vị trí chiến lược đặc biệt quan
trọng về kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, môi trường sinh thái của cả nước; có
tiềm năng, lợi thế về nông, lâm nghiệp, thuỷ điện, khoáng sản, du lịch và kinh tế
cửa khẩu, nhưng cũng là vùng khó khăn nhất, vùng sâu, vùng xa, biên giới, địa hình
hiểm trở, chia cắt phức tạp, dân cư phân tán, tỷ lệ đói nghèo cao nhất cả nước, sản
xuất chưa phát triển, trình độ dân trí thấp, tiềm ẩn nhiều nguy cơ mất ổn định an
ninh, chính trị của đất nước.
Trong giai đoạn hiện nay vấn đề đặt ra để quản lý và phát triển rừng luôn cần
phải kết hợp giữa truyền thống và hiện đại, kết hợp giữa kiến thức bản địa của đồng
bào DTTS và kiến thức khoa học kỹ thuật. Kiến thức bản địa đã và đang góp phần
quan trọng trong việc ổn định đời sống cộng đồng, do đó cần thiết phải nghiên cứu
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Khái niệm kiến thức bản địa
1.1.1. Trên thế giới
Kiến thức bản địa (hay tri thức bản địa) (Indigenuos Knowledge) được coi
trọng và đặc biệt nghiên cứu vào thập kỷ 80 trở đi. Cho tới nay, khái niệm kiến thức
bản địa hay kiến thức truyền thống vẫn được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau,
tùy thuộc vào các lĩnh vực chuyên môn hay theo các mục đích sử dụng. Mặc dù sử
dụng các tên gọi khác nhau nhưng đối tượng kiến thức bản địa được nghiên cứu
luôn là một hệ thống các kiến thức đặc hữu của cộng đồng người địa phương liên
quan đến cái cách cộng đồng này quan hệ với môi trường tự nhiên xung quanh.
Nói đến tri thức bản địa, đầu tiên, cần thiết phải xác định khái niệm về dân
tộc bản địa. Trên thực tế, đây là khái niệm được hiểu theo nhiều nghĩa và mang tính
tương đối. Công ước 169 của Tổ chức Lao động Thế giới (ILO) định nghĩa về
người dân và bộ tộc bản địa là “những người có các điều kiện xã hội, văn hóa và
kinh tế phân biệt họ với các bộ phận khác của một cộng đồng quốc gia, và địa vị của
họ được quy định toàn bộ hoặc một phần bởi phong tục hay truyền thống, hoặc bởi
những luật lệ đặc biệt hay quy định của riêng họ”.
Năm 1978, Tổ chức Sở hữu trí tuệ (SHTT) Liên hợp quốc (WIPO), đã tiến
hành nghiên cứu và lần đầu tiên đưa ra khái niệm “tri thức truyền thống”. Ban đầu,
khái niệm này chỉ giới hạn ở một loại tri thức (được coi là truyền thống) là “các
hình thức thể hiện văn hóa dân gian” (Expressions of Folklore). Vào năm 1982,
“các quy định mẫu dành cho luật quốc gia về bảo hộ các hình thức thể hiện văn hóa
dân gian chống lại việc khai thác trái phép và những hành vi xâm phạm khác” đã
được WIPO phối hợp với UNESCO soạn thảo và công bố, trong đó có định nghĩa
về “các hình thức thể hiện văn hóa dân gian”. Đến nay thuật ngữ “tri thức truyền
thống” không chỉ giới hạn ở “các hình thức thể hiện văn hóa dân gian” mà còn bao
gồm các đối tượng khác như tri thức bản địa, kiến thức cổ truyền, kinh nghiệm dân
bệnh, nhiên liệu, vật liệu xây dựng và các sản phẩm khác. Tương thích với điều đó,
5
kiến thức và quan niệm của người dân về môi trường và mối quan hệ của họ với
môi trường trở thành những thành tố quan trọng hình thành nên bản sắc văn hóa”
[46].
Song song với thuật ngữ kiến thức bản địa (IK) có thuật ngữ “tri thức chính
thống” (formal knowledge) dùng để chỉ những hệ thống kiến thức phát triển phần
lớn dựa trên nền tảng hệ thống giáo dục phương Tây, đó là những kiến thức chuẩn
vì nó được xác nhận trong những văn kiện, những nguyên tắc, luật lệ, những quy
định và cơ sở hạ tầng kỹ thuật. Trong khi đó kiến thức bản địa được truyền miệng từ
thế hệ này qua thế hệ khác rất hiếm khi được chép lại cẩn thận.
Như vậy đặc trưng cơ bản nhất của kiến thức bản địa là tính đặc hữu, nó là
hệ thống kiến thức của các dân tộc bản địa hay của cộng đồng tại một khu vực cụ
thể, được tồn tại và phát triển trong những hoàn cảnh nhất định ở vùng địa lý nhất
định (R. Chambers, M.Warren,1992).
Cũng theo M. Warren định nghĩa: “tri thức bản địa là những hệ thống tri
thức và thực nghiệm được phát triển qua nhiều thế hệ trong một lĩnh vực cụ thể tới
một nền văn hóa chuyên biệt” (dẫn theo Hoàng Xuân Tý và Lê Trọng Cúc, 1998)
[35].
Xác định về thời gian và không gian thì tri thức bản địa là hệ thống kiến thức
tồn tại và phát triển trong những hoàn cảnh nhất định ở vùng địa lý xác định với sự
đóng góp của các thành viên trong cộng đồng (G.Louise, 1993). Như vậy ở đây có
ba yếu tố góp phần hình thành nên kiến thức bản địa đó là môi trường địa lý xác
định, trong thời điểm không gian nhất định và là của một cộng đồng tại một khu vực
cụ thể đóng góp nên. Hay nói một cách khác, kiến bản địa hình thành trong điều
kiện không gian thời gian nhất định với sự đóng góp của một cộng đồng tại khu vực
cụ thể. Kiến thức bản địa luôn được kế thừa và phát triển, bản chất của nó là một
nền tảng cơ bản cho việc thiết lập các quyết định liên quan đến địa phương trên mọi
lĩnh vực của cuộc sống đương đại bao gồm quản lý các nguồn tài nguyên thiên
nhiên, dinh dưỡng, thức ăn, y tế, giáo dục và trong các hoạt động xã hội và cộng
1
Kinh nghiệm nghiên cứu phát triển miền núi: Một số nét khái quát từ châu Á, Báo cáo tại Hội thảo khoa
học “Sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường vùng Bình - Trị - Thiên, Huế, 25 đến 29-31996
7
đồng. Tri thức bản địa còn có cung cấp các chiến lược nhằm giải quyết các vấn đề
đặt ra cho cộng đồng dân cư địa phương (World Bank, 1998)
Định nghĩa kiến thức bản địa theo quan điểm kiến thức kỹ thuật bản địa là
Hệ thống kiến thức bản địa là bao gồm tổ hợp kiến thức, kỹ năng, công nghệ hiện
tồn tại và phát triển trong một phạm vi nhất định mang tính đặc hữu của một dân
tộc, cộng đồng địa phương trong vùng địa lý nhất định. Hệ thống kiến thức bản địa
của một dân tộc được trao truyền trong cộng đồng trải qua thử thách thời gian và
vẫn duy trì phát triển (CEFIKS). Như vậy trong cách tiếp cận này, kiến thức bản địa
được xem xét trên cơ sở hệ thống kiến thức kỹ thuật bản địa bao gồm tổ hợp kiến
thức, kỹ năng, công nghệ hiện tồn tại. Các tổ hợp này được xem là bản địa khi nó
tồn tại, phát triển trong một phạm vi nhất định và nó mang tính đặc hữu của một dân
tộc, cộng đồng địa phương trong vùng địa lý nhất định. Trên quan điểm hệ thống,
kiến thức bản địa luôn nhấn mạnh đến tính tổng thể, tất cả các thành phần trong hệ
thống đều có mối quan hệ ràng buộc lẫn nhau. Do đó các vấn đề nghiên cứu của đề
tài được đặt trong một chỉnh thể thống nhất có mối quan hệ lẫn nhau phản ánh được
các đặc trưng và giá trị của nó.
Như vậy, kiến thức bản địa là kiến thức được hình thành trong quá trình lịch
sử lâu dài, qua kinh nghiệm ứng xử của con người với môi trường và xã hội; được
lưu truyền từ đời này qua đời khác, qua trí nhớ, qua thực tiễn sản xuất và thực hành
toàn bộ văn hóa tộc người, mà chỉ là bộ phận có ích cho sự phát triển kinh tế - xã
hội của tộc người hiện nay, khi nó bổ sung cho tri thức hiện đại”
Kiến thức bản địa còn được gọi là kiến thức truyền thống hay kiến thức địa
phương. Nó tồn tại và phát triển trong những hoàn cảnh nhất định ở một vùng địa lý
xác định với sự đóng góp của mọi thành viên trong cộng đồng (Theo Hoàng Xuân
Tý, 1998).
Lê Trọng Cúc (2002) cho rằng: “Tri thức địa phương hay còn gọi là tri thức
bản địa là hệ thống tri thức của các cộng đồng dân cư bản địa ở các quy mô lãnh thổ
khác nhau. Tri thức địa phương được hình thành trong qúa trình lịch sử lâu đời, qua
kinh nghiệm ứng xử với môi trường xã hội, được định hình dưới nhiều dạng thức
khác nhau, được truyền từ đời này sang đời khác qua trí nhớ, qua thực tiễn sản xuất
và thực hành xã hội. Nó hướng đến việc hướng dẫn và điều hòa các quan hệ xã hội,
quan hệ giữa con người và thiên nhiên” [215].
9
Ngô Đức Thịnh (2004) định nghĩa “Tri thức bản địa là toàn bộ những hiểu
biết của con người về tự nhiên, xã hội và bản thân, hình thành và tích luỹ trong qúa
trình lịch sử lâu dài của cộng đồng, thông qua trải nghiệm trong qúa trình sản xuất,
quan hệ xã hội và thích ứng môi trường. Nó tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau
và truyền từ đời này sang đời khác bằng trí nhớ và thực hành xã hội. Tri thức bản
địa gồm các lĩnh vực sau: Tri thức về tự nhiên và môi trường (kể cả vũ trụ); tri thức
về bản thân con người (cơ thể học, dưỡng sinh, trị bệnh); tri thức về sản xuất, khai
thác và sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên; tri thức về ứng xử xã hội và
quản lý cộng đồng; tri thức về sáng tạo nghệ thuật” (Ngô Đức Thịnh, 2004).
Trần Công Khánh và Trần Văn Ơn cho rằng: “ Tri thức bản địa là hệ thống
tri thức, bao gồm rất nhiều lĩnh vực liên quan đến sản xuất, phong tục, tập quán, tín
ngưỡng, sức khỏe, tổ chức cộng đồng, của một tộc người hoặc một cộng đồng tại
một khu vực địa lý cụ thể. Nó được hình thành trong quá trình sống và lao động của
Schonberger đã lập bảng so sánh kiến thức bản địa với kiến thức hàn lâm
(Academic knowledge) vốn dĩ của giới khoa học tồn tại ở các viện nghiên cứu,
trường đại học.
Bảng 1.1. So sánh kiến thức bản địa và kiến thức hàn lâm
Kiến thức bản địa
Kiến thức hàn lâm
Truyền miệng
Truyền bằng văn bản
Học qua quan sát và thực hành
Học qua lý thuyết được ứng dụng
Tiếp cận tổng thể hay hệ thống
Tiếp cận đơn lẻ bộ phận
Kiểu suy nghĩa trực giác
Lý luận phân tích và quy nạp
Chủ yếu định tính
Chủ yếu định lượng
Dữ liệu do người lao động làm ra (có Dữ liệu thu thập bởi các nhà chuyên
tính đại chúng)
phương thuốc truyền thống); sử dụng và quản lý tài nguyên thiên nhiên … nên việc
nghiên cứu kiến thức bản địa phải xem xét trong mối liên quan tổng thể trong cộng
đồng, các vấn đề đều có mối liên quan.
- Tính tiếp biến và tích hợp, luôn vận động thích ứng với hoàn cảnh môi
trường là đặc tính quan trọng của kiến thức bản địa. Chính đặc tính này khiến cho
kiến thức bản địa luôn tồn tại và phát triển trong mọi hoàn cảnh.
- Tính đồng quy cũng là một đặc tính của kiến thức bản địa, hầu hết đó là sự
đồng quy về kỹ thuật bản địa, do đó đôi khi rất khó xác định một kỹ thuật hoặc một
phương pháp là bản địa; nó được nhập từ bên ngoài, hay đó là một sự kết hợp giữa
các yếu tố địa phương và kiến thức được đưa đến địa phương đó.
Kiến thức bản địa được hình thành trong hoạt động sống, thường xuyên được
kiểm nghiệm qua quá trình sử dụng, luôn có sự chọn lọc trong quá trình vận động
của cuộc sống để ngày càng thích nghi với môi trường của các cộng đồng người.
Nhìn chung kiến thức bản địa có một số đặc điểm sau:
- Đặc thù cho mỗi khu vực, mỗi cộng đồng nhất định.
- Dựa trên những kinh nghiệm được tích lũy, kế thừa từ đời này qua đời khác
qua những kênh thông tin thầm lặng.
12
- Có quá trình nghiệm sinh (vận động thử nghiệm, tích luỹ và hoàn thiện theo
thời gian trong hoạt động sống của con người). Phù hợp với môi trường, văn hóa
từng vùng, từng cộng đồng, tộc người.
- Vận động và thay đổi phù hợp với những điều kiện mới, cơ cấu xã hội mới.
- Kiến thức bản địa được giữ trong ký ức và trong hoạt động sản xuất của
người dân và được trao lại cho thế hệ sau bằng phương pháp giáo dục truyền nghề
dân gian.
Kiến thức bản địa được chia sẻ và truyền bá thông qua ngôn ngữ nói, bằng
các ví dụ cụ thể và thông qua luật tục, tập quán, văn hoá của cộng đồng. Các hình
hệ. Những thất bại của các thử nghiệm này ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của
những người đang thực hành nó trong khi những thành công của các thử nghiệm
này có thể được coi là công cụ đo lường tốt cho lý thuyết thích nghi của Darwin.
- Tri thức bản địa có xu hướng là loại kiến thức mang tính thực tiễn và giả
thuyết – kinh nghiệm hơn là mang tính lý thuyết theo nghĩa chính xác nhất. Ở một
mức độ nào đó thì tính truyền miệng, phi văn bản, cũng như sự gắn kết của nó trong
các hoạt động thực tiễn hàng ngày và những hồi ức chứa đựng nó gây trở ngại cho
những kiểu tổ chức cần thiết cho sự phát triển của loại tri thức mang tính lý thuyết
suông.
- Truyền thống là “một nhân tố hay thay đổi và làm biến đổi không hồi kết”
khi được gắn với tri thức. Tri thức bản địa vì thế liên tục thay đổi, được tạo ra và tái
tạo, được khám phá và bị mất đi mặc dù dường như nó thường được thể hiện như
trong một trạng thái tĩnh.
- Tri thức bản địa được chia sẻ ở một mức độ lớn hơn rất nhiều so với các loại
tri thức khác, bao gồm cả tri thức khoa học. Đấy chính là lý do vì sao đôi khi nó còn
được gọi là “tri thức của dân”, một cách gọi bắt nguồn từ chính thế hệ của nó trong
đời sống sản xuất hàng ngày. Tuy nhiên, sự phân bố của tri thức bản địa vẫn mang
tính phân đoạn, phân biệt về mặt xã hội. Nó thường được phân biệt đối xứng trong
khuôn khổ một khu vực dân cư, ví dụ như theo giới hoặc tuổi hoặc được phân bố
trong ký ức của từng cá nhân riêng biệt. Cũng có thể là có các chuyên gia thông qua
các kinh nghiệm của họ, hoặc các nghi lễ hoặc quyền lực về mặt chính trị.
- Mặc dù tri thức bản địa có thể tập trung vào các cá nhân và có thể được đạt
đến bằng mức độ gắn kết với các nghi lễ hoặc các cấu trúc biểu tượng khác nhưng
sự phân bố của nó luôn gián đoạn. Nó không tồn tại trong một thể tổng thể mà ở
14
từng nơi và với từng cá nhân. Thực ra mà nói, tri thức bản địa không hẳn là được
chuyển giao từ cá nhân đến cá nhân mà trong từng thực hành và trong từng giao tiếp
của luật tục, người già và các thủ lĩnh, dòng họ và gia đình).
- Các tri thức trong đời sống tinh thần (tín ngưỡng, lịch pháp, y - dược thuật,
các chuẩn mực trong ứng xử và giao tiếp xã hội, các loại hình văn học, nghệ
thuật dân gian).
Sự phân loại theo phương pháp dân tộc học không mâu thuẫn với cách phân
loại của các ngành khoa học khác. Nó có một ưu điểm là mang tính bao quát toàn
diện hơn hẳn so với các ngành khoa học chuyên sâu. Tuy nhiên, trong bối cảnh của
một nền khoa học liên - đa ngành, sự kết hợp giữa công tác nghiên cứu cơ bản về
dân tộc học với các ngành khoa học chuyên sâu là hết sức cần thiết.
1.3. Tình hình nghiên cứu kiến thức bản địa
1.3.1. Trên thế giới
Trước khi kiến thức bản địa đạt được vị trí trung tâm của các mối quan tâm
như hiện nay nó cũng đã phải trải qua nhiều giai đoạn, được ủng hộ hoặc bị bác bỏ,
được bao hàm hoặc được lề hoá ra khỏi các chương trình phát triển tại nhiều nơi
trên thế giới. Nhưng thăng trầm đã và đang xảy ra đối với kiến thức bản địa luôn
được đặt trong mối tương quan với hệ thống kiến thức khoa học của phương Tây và
những tiêu chí được dùng để làm công việc phân biệt giữa hai loại hệ thống kiến
thức này chính là vai trò và sự trao đổi của hai hệ thống kiến thức này trong các
chương trình phát triển trên toàn thế giới
Bối cảnh thế giới giai đoạn sau chiến tranh thế giới thứ II, khái niệm “phát
triển” theo từng giai đoạn biến đổi của nền kinh tế thế giới được bồi đắp dần lên với
các nghĩa mới bổ sung. Bắt đầu từ giai đoạn phát triển tập trung chủ yếu vào việc
khôi phục nền kinh tế thế giới sau cuộc chiến, tiếp theo sau giai đoạn này là sự tăng
trưởng đồng đều trên mọi lĩnh vực của cuộc sống nhằm đáp ứng các nhu cầu cơ bản
của con người và dần nâng cao chất lượng cuộc sống cho loài người. Chủ nghĩa
phát triển đến giai đoạn này như là một đại chủ nghĩa, siêu lý thuyết phủ bóng lên
16
trong cái chuỗi đó.
2
17
phải là những người đóng góp, những người đóng vai trò chủ đạo trong phát triển
của chính họ. James D. Wolfensohn, Chủ tịch của Ngân hàng thế giới cho rằng: “Tri
thức bản địa là một phần không thể thiếu trong văn hoá và lịch sử của một cộng
đồng địa phương. Chúng ta cần thiết phải học hỏi từ các cộng đồng địa phương để
có thể thúc đẩy quá trình phát triển” (Gorjestani, 2000:1). Chương trình này được
tiến hành tập trung tại các nước châu Phi nhằm mục đích giảm tỉ lệ đói nghèo và
hướng tới các mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ do Ngân hàng Thế giới đề ra.
John Briggs và Joanne Sharp cho rằng: Thực tế mà nói thì Ngân hàng Thế
giới vẫn đang nhìn nhận kiến thức bản địa dưới con mắt suy xét của người tin rằng,
khoa học chính thống phương Tây có quyền thế trong việc quyết định các kiến thức
khác kiến thức phương Tây có thể được sử dụng hay không sử dụng. Đây là một sự
trao đổi đơn tuyến. Kiến thức bản địa và tộc người bản địa được trao quyền để nói
và tham gia, nhưng với điều kiện được sự kiểm chứng và xác nhận của các nhà khoa
học phương Tây. Kiến thức bản địa sẽ được sử dụng chỉ khi nào nó được chứng
minh một cách rõ ràng là phù hợp với mục tiêu phát triển của các chương trình của
Ngân hàng thế giới. Như vậy thì có hay không có sự thừa nhận khách quan và chân
thực về vai trò thực sự của kiến thức bản địa trong cách đánh giá của Ngân hàng thế
giới hướng tới mục tiêu của sự phát triển bền vững.
Trong giai đoạn thống trị của chủ nghĩa phát triển, hệ thống khoa học kỹ
thuật phương Tây được coi là kim chỉ nam, là phương tiện duy nhất có thể giúp các
nước thứ ba đạt tới sự phát triển. Kiến thức khoa học phương Tây được coi là siêu
việt và cần được truyền bá trên toàn cầu. Tuy nhiên, sự thất bại của chủ nghĩa này ở
nhiều trường hợp đã khiến nhiều người nghi ngờ về quyền năng của hệ kiến thức
này như nó đã từng được thừa nhận trong giai đoạn hoàng kim.