Thực trạng không tuân thủ điều trị nghiên các chất dạng thuốc phiện và một số yếu tố liên quan - Pdf 43

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI

NGUYỄN THỊ THU HƯƠNG

THỰC TRẠNG KHÔNG TUÂN THỦ ĐIỀU TRỊ
NGHIỆN CÁC CHẤT DẠNG THUỐC PHIỆN
BẰNG METHADONE TẠI TỈNH TUYÊN QUANG
NĂM 2016 VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN

LUẬN VĂN THẠC SĨQUẢN LÝ BỆNH VIỆN

HÀ NỘI – 2017


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI

NGUYỄN THỊ THU HƯƠNG

THỰC TRẠNG KHÔNG TUÂN THỦ ĐIỀU TRỊ
NGHIỆN CÁC CHẤT DẠNG THUỐC PHIỆN
BẰNG METHADONE TẠI TỈNH TUYÊN QUANG
NĂM 2016 VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN
Chuyên ngành : Quản lý bệnh viện

khám bệnh đã tạo điều kiện giúp đỡ trong thời gian em đi học và tham gia
nghiên cứu.
Cuối cùng, con xin cảm ơn Bố Mẹ kính yêu, anh chị em trong gia đình,
bạn bè đã động viên, tạo mọi điều kiện giúp đỡ con trong quá trình học tập
và hoàn thiện luận văn.
Hà Nội, ngày 08 tháng 06 năm 2017
Học Viên
Nguyễn Thị Thu Hương


LỜI CAM ĐOAN
Kính gửi:
• Phòng Đào tạo Đại học trường Đại Học Y Hà Nội.
• Phòng Đào tạo, Nghiên cứu khoa học, Hợp tác quốc tế Viện Đào
tạo Y học dự phòng và Y tế công cộng.
• Hội đồng chấm khóa luận
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân Tôi. Các số
liệu, kết quả trong khóa luận này là trung thực và chưa ai công bố trong bất
kỳ công trình nào khác.
Nếu có sai sót tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm.
Tác giả

Nguyễn Thị Thu Hương


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
BKT
BN
CGN
CDTP

BIỂU ĐỒ


8

ĐẶT VẤN ĐỀ
Điều trị thay thế chất dạng thuốc phiện (CDTP) bằng Methadone là
một trong những phương pháp điều trị bằng thuốc cho những người lệ
thuộc CDTP, đặc biệt là bạch phiến (Heroin). Điều trị nghiện CDTP giúp
người bệnh phục hồi chức năng tâm lý, xã hội, lao động và tái hòa nhập
cộng đồng[1]. Nhiều nghiên cứu trên thế giới cũng như ở Việt Nam cho
thấy, điều trị thay thế nghiện CDTP bằng Methadone là một phương pháp
“tiêu chuẩn vàng” đối với người nghiện Heroin, giúp người nghiện dần từ
bỏ Heroin, phục hồi sức khỏe và các chức năng xã hội [2],[3], từ đó làm
giảm nguy cơ lây nhiễm HIV [4, 5].
Điều trị nghiện CDTP bằng Methadone bắt đầu được thí điểm tại Việt
Nam năm 2008 tại Hải Phòng và thành phố Hồ Chí Minh. Đến nay, dịch vụ
này đã nhanh chóng được mở rộng quy mô tại Việt Nam, giúp giảm tỷ lệ
người nghiện chích ma túy và tỷ lệ người nhiễm mới HIV. Tính tới tháng
3/2017, mô hình điều trị CDTP bằng Methadone đã được triển khai trên
toàn quốc (63/63 tỉnh thành phố), cung cấp dịch vụ cho hơn 51.300 người
nghiện ma túy, đạt 63,3% kế hoạch đề ra [6].
Tuân thủ điều trị thay thế CDTP bằng Methadone là yếu tố tiên quyết
đảm bảo cho sự thành công của chương trình, bởi thực tế cho thấy khi bệnh
nhân không tuân thủ điều trị, không đến uống thuốc hàng ngày sẽ có nguy
cơ tái sử dụng lại CDTP và tham gia vào các hoạt động phạm pháp [7]. Tỷ
lệ không tuân thủ điều trị và bỏ điều trị trong nhóm bệnh nhân điều trị
Methadone có sự khác nhau theo từng quốc gia và từng địa phương. Tại
Mỹ và Canada, tỷ lệ bệnh nhân không tuân thủ tương ứng là 17% và 15,5%
[9, 10]. Trong khi đó, tỷ lệ này ở một số nước Châu Âu như Pháp và Anh

2. Xác định một số yếu tố liên quan tới tình trạng không tuân thủ điều
trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng Methadone tại tỉnh Tuyên
Quang năm 2016.


10

Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Một số khái niệm
Chất ma túy: Theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật phòng,
chống ma túy số 16/2008/QH12 của Quốc hội ban hành ngành 03/06/2008,
“Chất ma túy là các chất gây nghiện, chất hướng thần được quy định trong
các danh mục do Chính phủ ban hành” [15].
Chất gây nghiện (CGN): là chất kích thích hoặc ức chế thần kinh, dễ
gây tình trạng nghiện đối với người sử dụng.
Chất dạng thuốc phiện: CDTP (opiats, opioid) là tên gọi chung cho
nhiều chất như thuốc phiện, Morphine, Heroin, Methadone, Buprenorphine,
Pethidine, Fentanyle là những CGN mạnh (gây khoái cảm mạnh), có biểu
hiện lâm sàng tương tự và tác động vào cùng điểm tiếp nhận tương tự ở não[1,
16].
Nghiện ma túy: Theo tổ chức Y tế Thế giới, nghiện ma tuý là tình trạng
lệ thuộc về mặt tâm thần hoặc thể chất hoặc cả hai, khi một người sử dụng ma
túy lặp đi lặp lại theo chu kỳ hoặc dùng kéo dài liên tục một thứ ma túy và
tình trạng lệ thuộc này làm thay đổi cách cư xử, bắt buộc đương sự luôn cảm
thấy sự bức bách phải dùng ma túy để có được những hiệu ứng về mặt tâm
thần của ma túy và thoát khỏi sự khó chịu, vật vã do thiếu ma túy [17, 18].
Methadone: Methadone là một CDTP tổng hợp, có tác dụng dược lý
tương tự như các CDTP khác, nhưng không gây nhiễm độc hệ thần kinh trung
ương và không gây khoái cảm ở liều điều trị, có thời gian bán hủy dài (trung

Trong khi đó, ở Châu Mỹ, các CGN chủ yếu là cần sa và Cocaine. Số lượng
người sử dụng ma túy đang có xu hướng ổn định và ở mức cao tại Hoa Kỳ.
Ước tính có khoảng 14,9% (năm 2011) số người từ 12 tuổi trở lên có sử dụng


12

những CDTP [22]. Ngược lại, số liệu của Canada lại cho thấy, tỷ lệ người từ
15 tuổi trở lên ở nước này sử dụng cần sa đã giảm từ 10,7% năm 2010 xuống
9,1% năm 2011 [19].
1.2.2. Tình hình Việt Nam
Nghiện ma túy tại Việt Nam vẫn đang diễn biến phức tạp với chiều
hướng ngày càng gia tăng. Nếu như năm 1994 có số người NCMT là 55.445
người, đến năm 1996 số người nghiện là 69.195 người, thì tính đến 30/12/
2013, cả nước có trên 180.000 người nghiện ma túy. Số người nghiện đang ở
cộng đồng chiếm tỷ lệ 64,5%; số người đang cai nghiện trong các cơ sở Chữa
bệnh, Giáo dục, Lao động xã hội là 22,4%; còn lại là số đang trong các trại
giam, trại tạm giam, nhà tạm giữ chiếm 13,1% [23, 24]. Heroin vẫn là CGN
được dùng chủ yếu chiếm ¾ số loại CGN được sử dụng thông dụng; ma túy
tổng hợp chỉ chiếm 1/10; còn lại là các loại như: thuốc phiện 7%; cần sa
1,7%; loại khác 6,3% [25].
1.3. Điều trị thay thế nghiện chất dạng thuốc phiện bằng Methadone
1.3.1. Đặc điểm hóa dược và tác động sinh lý của Methadone
1.3.1.1. Đặc điểm hóa dược của Methadone
Methadone là 1 loại thuốc á phiện tổng hợp (Synthetic opiate) có tác
dụng lâu hơn bạch phiến, làm giảm bớt cơn thèm và triệu chứng vã thuốc,
được sản xuất đầu tiên với mục đích làm thuốc giảm đau trong chiến tranh thế
giới thứ II. Methadone là một chất đồng vận với các chất dạng thuốc phiện
như Morphine, Heroin nhưng có thời gian bán hủy chậm hơn và do dó có tác
dụng kéo dài hơn đối với người bệnh [26].

dục bao cả gồm liệt dương, giữ nước và tăng cân [28]. Nghiên cứu của Brown
và cộng sự (2005) trên 92 người bệnh MMT cho thấy, 14% người bệnh có dấu
hiệu của rối loạn tình dục, đặc biệt có mối quan hệ tỷ lệ thuận với liều dùng
và mức độ rối loạn các cơ quan trong cơ thể [29]. Nghiên cứu của Rhodin và


14

cộng sự (2006) theo dõi 60 người bệnh MMT trong 8 năm ghi nhận các phản
ứng phụ bao gồm buồn nôn và rối loạn nhịp tim [30].
Khi điều trị ở liều ổn định, độ dung nạp tăng dần cho đến khi kỹ năng
nhận thức và khả năng chú ý không còn bị ảnh hưởng. Triệu chứng táo bón,
suy giảm tình dục, và đôi khi tăng tiết mồ hôi có thể vẫn tiếp tục gây khó chịu
cho người bệnh trong suốt quá trình MMT. Hầu hết người đã sử dụng Heroin
đều xuất hiện một số tác dụng ngoài ý muốn khi sử dụng Methadone.
1.3.2. Chương trình điều trị thay thế CDTP bằng Methadone tại Việt Nam
Trước năm 2008, cai nghiện tập trung là mô hình được áp dụng chủ yếu
tại Việt Nam. Tuy nhiên, bản chất nghiện là bệnh lý mạn tính nên cắt cơn đơn
thuần thường có tỷ lệ tái nghiện cao trên 90% [31]. Bên cạnh đó, hình thức cai
nghiện tự nguyện tại cộng đồng mặc dù cho thấy có hiệu quả nhưng chưa có
cơ chế đầu tư phù hợp nên khó nhân rộng [32]. Mô hình MMT hiện là mô
hình cai nghiện tại cộng đồng đang được quan tâm và chú trọng nhất.
Theo Khoản 1 Điều 7 Nghị định số 96/ 2012/ NĐ-CP, ở Việt Nam, chỉ
những bác sĩ được đào tạo cấp chứng chỉ mới có quyền kê đơn tại các cơ sở
điều trị được cấp phép của Sở Y tế địa phương. Cũng theo nghị định này, đối
tượng được đăng kí tham gia MMT phải đáp ứng được các tiêu chí sau [33]:


Là người nghiện CDTP.


Quy trình theo dõi quá trình điều trị được thực hiện như sau[28]:
a. Theo dõi lâm sàng
Các theo dõi lâm sàng cần thực hiện trong quá trình điều trị thay thế
bằng Methadone như:


Các hành vi nguy cơ cao tiếp diễn trong quá trình điều trị: tiếp tục sử dụng
CDTP và các chất gây nghiện khác.



Các dấu hiệu của hội chứng cai, dấu hiệu ngộ độc và quá liều.



Tiến triển của các bệnh cơ thể kèm theo: điều trị HIV/AIDS bằng thuốc ARV,
điều trị lao, điều trị nấm, điều trị viêm gan.



Các rối loạn tâm thần: chú ý vấn đề trầm cảm và tự sát.



Các tình trạng bệnh lý khác.



Mức độ phục hồi các chức năng lao động, tâm lý và xã hội.




Xem lại liều Methadone đang điều trị và điều chỉnh liều nếu cần thiết.



Tăng cường tư vấn và áp dụng các liệu pháp tâm lý thích hợp.



Trong giai đoạn điều trị duy trì, khi đã được chỉ định liều Methadone thích
hợp và áp dụng các biện pháp tư vấn mà người bệnh vẫn tiếp tục sử dụng
CDTP (kết quả xét nghiệm nước tiểu vẫn dương tính 3 lần liên tiếp trở lên),
cơ sở điều trị cần hội chẩn để xem xét việc có tiếp tục điều trị nữa hay
không.
1.3.4. Hiệu quả điều trị thay thế CDTP bằng Methadone trên thế giới
Điều trị thay thế nghiện các CDTP bằng thuốc Methadone đã được triển
khai ở rất nhiều nước trên thế giới cho những kết quả nhất định.
Tại Canada, Pam Francis và cộng sự tiến hành nghiên cứu đánh giá một
số kết quả điều trị Methadone cho kết quả có 80% bệnh nhân không sử dụng


17

ma túy hoặc rượu tại thời điểm đánh giá; 95,5% bệnh nhân tự nhận thấy hành
vi nguy cơ cao của bản thân giảm đáng kể từ lúc tham gia chương trình điều
trị Methadone, 84,1% bệnh nhân báo cáo rằng điều kiện nhà ở của họ đã được
cải thiện, 61,4% bệnh nhân báo cáo rằng tình trạng việc làm có sự cải thiện
đáng kể, 81,2% bệnh nhân báo cáo đã hỗ trợ, giúp đỡ gia đình nhiều hơn kể từ
khi tham gia điều trị Methadone. Ngoài ra có 84,1% bệnh nhân cho rằng hành

Nghiên cứu của Hoàng Đình Cảnh và các cộng sự trên 965 bệnh nhân
tại 2 thành phố Hồ Chí Minh và Hải Phòng năm 2011. Kết quả nghiên cứu
cho thấy, bệnh nhân giảm sử dụng ma túy (tỷ lệ dương tính với ma tuý khi xét
nghiệm nước tiểu giảm mạnh từ 98,2% trước khi điều trị xuống 15,5% sau 12
tháng và 12,4% sau 24 tháng; tỷ lệ TCMT giảm mạnh từ 92,7% xuống 7,5%
sau 12 tháng điều trị và 6,7% sau 24 tháng); tỷ lệ nhiễm HIV/AIDS giữ
nguyên ở mức 28,4%; có việc làm tăng lên thêm 9,0% - 11,9%, có vấn đề sức
khoẻ tâm thần giảm tương ứng là 36,9% và 34,8% (sử dụng thang do mức độ
trầm cảm Kessler). Đây là một trong những nghiên cứu tiên phong về chương
trình điều trị Methadone [42].
Nghiên cứu của Nghiêm Lê Phương Hoa nhằm bước đầu tìm hiểu hiệu
quả điều trị thay thế nghiện các CDTP bằng thuốc Methadone và những khó
khăn của bệnh nhân trong quá trình tiếp cận và điều trị trên 112 bệnh nhân.
Kết quả cho thấy tần suất sử dụng ma túy trong 2 tuần đầu dò liều giảm 2 lần
so với trước điều trị; 52,2% bệnh nhân thất nghiệp trước điều trị đã có việc
làm sau 3 tháng điều trị; 78,9% bệnh nhân có nguy cơ về sức khỏe tâm thần
trước điều trị đã không còn nguy cơ sau 3 tháng điều trị. Tìm hiểu một số khó
khăn của bệnh nhân cho thấy bệnh nhân ngại tiếp cận với cơ sở điều trị vì phải
thông qua công an, lo lắng vì sẽ bị ngừng điều trị nếu quay lại trại giam [22].
Phạm Thị Đào nghiên cứu trên 220 bệnh nhân điều trị MMT cho thấy,
tỷ lệ bệnh nhân sử dụng Heroin giảm còn 14,5% sau 9 tháng điều trị.Nghiên


19

cứu không phát hiện trường hợp nhiễm HIV mới, tỷ lệ thất nghiệp giảm từ
60% xuống còn 15,4% [43].
Nghiên cứu của Bùi Thị Nga, Nguyễn Anh Quang và Nguyễn Thanh
Long thực hiện vào năm 2012 trên 400 người TCMT, nhằm mô tả kết quả của
chương trình điều trị nghiện các CDTP bằng thuốc Methadone nhằm can thiệp

cứu của Zhou và cộng sự tại Trung Quốc sử dụng tiêu chuẩn “không điều trị 7
ngày liên tiếp” để đánh giá không tuân thủ [13].
Ngoài phương pháp ghi nhận số ngày không điều trị, một số tác giả sử
dụng phương pháp đánh giá dựa trên sự tự khai báo của bệnh nhân thông qua
thang đo trực quan (visual analogue scale - VAS). VAS là thang đo có khoảng
điểm từ 0 đến 100, trong đó 0 điểm là hoàn toàn không tuân thủ và 100 điểm
là hoàn toàn tuân thủ. Thang đo VAS đã được ứng dụng rộng rãi trong việc đo
lường tuân thủ điều trị trong một số nhóm đối tượng như bệnh nhân nhiễm
HIV [47, 48], bệnh nhân điều trị tim mạch [49] hay bệnh viêm ruột [50].
Thang đo VAS được đánh giá là một trong những công cụ tiện dụng, đơn
giản, không tốn kém, không tốn thời gian và có tính giá trị có thể chấp nhận
cho việc đánh giá tuân thủ điều trị [48]. Đối với các bệnh nhân đang điều trị
những bệnh cần tuân thủ điều trị tuyệt đối như HIV, ngưỡng VAS lớn hơn 95
được coi là tuân thủ tối ưu [48]. Đối với bệnh nhân điều trị Methadone, Zhou và
cộng sự, bên cạnh việc sử dụng tiêu chuẩn số ngày không đến điều trị, sử dụng
thang đo VAS để bệnh nhân tự đánh giá % mức độ tuân thủ, nếu bệnh nhân nhận
mức độ tuân thủ từ 90 điểm trở lên thì được coi là tuân thủ điều trị [13].
1.4.1.2. Việt Nam
Hướng dẫn điều trị thay thế nghiện các CDTP bằng Methadone (Ban
hành kèm theo Quyết định số 3140/QĐ-BYT ngày 30 tháng 8 năm 2010 của
Bộ trưởng Bộ Y tế) đưa ra nguyên tắc khi tham gia vào chương trình điều trị
MMT [51]:


Việc điều trị phải đúng chỉ định, đúng liều lượng, đúng quy trình để đảm bảo
an toàn và hiệu quả tối đa cho người bệnh.


21


1.4.2. Thực trạng không tuân thủ điều trị thay thế CDTP bằng Methadone
1.4.2.1. Trên thế giới
Tuân thủ điều trị thay thế CDTP bằng Methadone là yếu tố tiên quyết
đảm bảo cho sự thành công của chương trình, bởi thực tế cho thấy khi bệnh
nhân không tuân thủ điều trị, không đến uống thuốc hàng ngày sẽ có nguy cơ


22

tái sử dụng lại CDTP và tham gia vào các hoạt động phạm pháp [7]. Tỷ lệ
không tuân thủ điều trị và bỏ điều trị trong nhóm bệnh nhân điều trị
Methadone có sự khác nhau theo từng quốc gia và từng địa phương. Tỷ lệ bỏ
điều trị giảm dần theo thời gian và thấp hơn nhiều so với các quốc gia khác
trên thế giới [8]. Tại Mỹ và Canada, tỷ lệ bệnh nhân không tuân thủ tương
ứng là 17% và 15,5% [9, 10]. Trong khi đó, tỷ lệ này ở một số nước Châu Âu
như Pháp và Anh được ghi nhận tương ứng lên tới 65.2% và 42% [11, 12].Tại
Trung Quốc, tỷ lệ bệnh nhân không tuân thủ dao động từ 36,3% đến 88,2%
[13, 14].
Nghiên cứu của Shwartz Robert P và cộng sự tại Baltimore, Maryland
năm 2008 thực hiện trên 46 bệnh nhân. Kết quả sau một năm điều trị cho thấy,
có 18 bệnh nhân duy trì điều trị chiếm 39,1%, còn lại 28 bệnh nhân đã ra khỏi
chương trình chiếm 60,9% [54]. Nghiên cứu của Steven Alex và cộng sự năm
2008 tại Anh ở 3 cơ sở điều trị trên 2.624 bệnh nhân cho thấy có 16,7% số
bệnh nhân rời khỏi chương trình trước khi điều trị, 7,8% số người rời khỏi
chương trình trong vòng 30 ngày đầu [55].Nghiên cứu của Roux P., Lion C.
và cộng sự năm 2014 trên 145 đối tượng cho thấy có 35,2% số bệnh nhân vẫn
duy trì điều trị trong 12 tháng qua, 55,9% không tuân thủ chặt chẽ và có 9%
số người không tuân thủ điều trị [56].
Nghiên cứu của Cao X.B và cộng sự tiến hành trên 8 cơ sở MMT nằm
tại tỉnh Tứ Xuyên, Vân Nam, Quảng Tây, Quý Châu và Chiết Giang vào tháng

ngày. Thời gian dò liều trung bình của bệnh nhân là 47 ngày. Tỷ lệ bệnh nhân
bỏ điều trị được báo cáo là 5% [42]. Trong khi đó, kết quả triển khai thí điểm
điều trị nghiện các CDTP bằng thuốc Methadone tại Hà Nội Lê Nhân Tuấn
cho thấy: tỷ lệ bệnh nhân ngừng điều trị rất thấp (5%), tỷ lệ bệnh nhân bỏ 1
liều là 0,23%, bỏ trên 2 liều là 0,036% [59].
Nghiên cứu của Nguyễn Dương Châu Giang năm 2015 về tuân thủ điều
trị của bệnh nhân MMT tại Đà Nẵng trên toàn bộ 274 bệnh nhân đang điều trị
ở giai đoạn duy trì từ 3 tháng trở lêntại 2 cơ sở MMT số 1 và số 2 thành phố


24

Đà Nẵng. Kết quả cho thấy, tỷ lệ bệnh nhân tuân thủ điều trị là 73,4%. Lý do
không tuân thủ là: quên (32,9%), đi xa (13,4%), có sử dụng CGN khác
(5,2%), không có người hỗ trợ nhắc nhở (3,1%), lý do khác 6,3% (bị công an
bắt, thử ngưng thuốc để xin ra khỏi chương trình) [60].
1.4.3. Một số yếu tố liên quan tới không tuân thủ điều trị thay thế bằng
Methadone
MMT là một trong những phương pháp điều trị bằng thuốc cho những
người bị lệ thuộc các CDTP, đặc biệt là bạch phiến (Heroin). Người bệnh
tham gia chương trình điều trị thường được khuyên rằng thời gian điều trị tối
thiểu là 1 năm và có thể lâu hơn nữa. Rõ ràng, điều trị thay thế CDTP bằng
Methadone là một quá trình lâu dài và khó khăn (người bệnh phải tới cơ sở
MMT hằng ngày để nhận và uống thuốc) đòi hỏi người bệnh và gia đình phải
có quyết tâm cao để theo đuổi tới khi có kết quả. Bên cạnh những thành công
mà MMT mang lại, vẫn còn những tỷ lệ người bệnh không tuân thủ hoặc bỏ
dở chương trình vì những lý do chủ quan và khách quan.
Nghiên cứu tổng quan hệ thống do Lei Zhang và cộng sự tiến hành vào
năm 2013 nhằm đánh giá một cách hệ thống tỷ lệ bệnh nhân ra khỏi chương
trình và lý do bệnh nhân ra khỏi chương trình điều trị Methadone từ năm 2004

nguồn cung cấp nhiều, chi phí rẻ... khiến họ từ chối MMT mặc dù không thiếu
thuốc [63].
1.5. Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
1.5.1. Đặc điểm tỉnh Tuyên Quang
Tuyên Quang là một tỉnh miền núi phía bắc, có diện tích 5.860 km 2, dân
số 750.000 người với 22 dân tộc. Tỉnh có 7 đơn vị hành chính gồm 06 huyện
và 01 thành phố; 141 xã, phường, thị trấn; 2.095 thôn bản; tổ dân phố. Phía
Bắc giáp tỉnh Hà Giang, phía Đông Bắc giáp Cao Bằng, phía Đông giáp Bắc
Kạn và Thái Nguyên, phía Nam giáp Vĩnh Phúc, phía Tây-Nam giáp Phú Thọ,
phía Tây giáp Yên Bái.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status