ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
TRẦN THU HẰNG
GIẢI PHÁP VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN
TẠI HUYỆN HÒA AN, TỈNH CAO BẰNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
THÁI NGUYÊN - 2016
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
TRẦN THU HẰNG
GIẢI PHÁP VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN
TẠI HUYỆN HÒA AN, TỈNH CAO BẰNG
Ngành: Phát triển nông thôn
Mã số ngành: 60.62.01.16
LUẬN VĂN THẠC SĨ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS DƯƠNG VĂN SƠN
THÁI NGUYÊN - 2016
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
Cuối cùng tôi xin bày tỏ sự biết ơn tới gia đình, đồng nghiệp, người tân
và bạn bè đã động viên, chia sẻ, giúp đỡ để tôi hoàn thiện luận văn này.
Trong quá trình nghiên cứu mặc dù đã cố gắng hết sức nhưng vì những
lý do chủ quan và khách quan cho nên khóa luận không tránh khỏi những
thiếu sót và hạn chế. Vì vậy tôi rât mong nhận được sự đóng góp ý kiến của
thầy cô và các bạn học viên để đề tài của tôi được hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn./.
Hòa An, ngày 11 tháng 9 năm 2016
Tác giả luận văn
Trần Thu Hằng
iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ................................................................................................. i
LỜI CẢM ƠN ..................................................................................................... ii
MỤC LỤC ......................................................................................................... iii
DANH MỤC CÁC BẢNG ................................................................................... v
DANH MỤC CÁC HÌNH ................................................................................... vi
MỞ ĐẦU............................................................................................................ 1
1. Tính cấp thiết của đề tài ................................................................................ 1
2. Mục tiêu nghiên cứu ...................................................................................... 2
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài ...................................................... 2
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU ................................................................ 3
1.1. Vấn đề việc làm trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa................... 3
1.1.1. Khái niệm về việc làm và giải quyết việc làm ..................................... 3
1.1.2. Lực lượng lao động và việc làm của người lao động ở nông thôn .... 12
động nông thôn trên địa bàn huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng .......................... 79
3.5.1. Phương hướng và chiến lược ............................................................. 79
3.5.2. Giải pháp nhằm giải quyết việc làm cho người lao động nông thôn
trên địa bàn huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng ................................................. 80
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ ................................................................... 86
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................... 88
PHỤ LỤC ........................................................................................................ 90
v
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1: Hiện trạng sử dụng đất của huyện qua các năm .......................... 46
Bảng 3.2: Tình hình dân cư huyện Hòa An từ năm 2013 - 2015 ................. 51
Bảng 3.3: Dân số trong độ tuổi lao động từ năm 2013 - 2015 ..................... 56
Bảng 3.4: Lao động có việc làm trong tuổi ở huyện Hòa An chia theo
nhóm tuổi ..................................................................................... 58
Bảng 3.5: Nhân khẩu và lao động của hộ nông thôn phân theo kinh tế hộ ..... 60
Bảng 3.6: Học vấn của chủ hộ phân theo dân tộc và phân loại kinh tế ....... 61
Bảng 3.7: Số chủ hộ nắm giữ trình độ chuyên môn phân theo kinh tế hộ ...... 63
Bảng 3.8: Số chủ hộ được đào tạo chuyên môn phân phân theo dân tộc..... 64
Bảng 3.9: Trình độ chuyên môn của thành viên gia đình phân theo
kinh tế hộ ............................................................................. 66
Bảng 3.10: Hoạt động nông nghiệp, phi nông nghiệp toàn bộ thời gian
và một phần thời gian phân theo kinh tế hộ................................. 67
Bảng 3.11: Hoạt động nông nghiệp, phi nông nghiệp toàn bộ thời gian
và một phần thời gian phân theo dân tộc ..................................... 69
Bảng 3.12: Số người tham gia các hoạt động phi nông nghiệp theo
kinh tế hộ ............................................................................... 70
Bảng 3.13: Số người tham gia các hoạt động phi nông nghiệp phân theo
dân tộc .......................................................................................... 71
dân tộc thiểu số, tình hình kinh tế - xã hội chưa thực sự phát triển, vấn đề lao
động nông thôn dư thừa đang còn là những bất cập cần được giúp đỡ và giải
quyết. Xã hội ngày càng phát triển mạnh nhưng ở Hòa An vẫn chưa có giải
pháp hữu hiệu để giải quyết vấn đề việc làm nông thôn, tại huyện lao động tự
làm và lao động trong hộ gia đình không hưởng tiền lương, tiền công còn
chiếm tỷ lệ lớn. Đây là những lao động “dễ bị tổn thương” hoặc có nguy cơ
thiếu việc làm thường xuyên. Chính sách việc làm cần phải lưu ý tới đổi
tượng này. Xuất phát từ tình hình thực tế, nhằm cho giúp cho sự phát triển
kinh tế - xã hội nông thôn tại huyện ngày càng hiệu quả, tôi tiến hành nghiên
cứu đề tài: “Giải pháp việc làm cho lao động nông thôn tại huyện Hòa An,
tỉnh Cao Bằng”.
2
2. Mục tiêu nghiên cứu
- Phân tích, đánh giá thực trạng về nguồn lực lao động và việc làm của
lao động nông thôn trên địa bàn huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng.
- Xác định những khó khăn, trở ngại, thách thức trong việc làm và giải
quyết việc làm cho người lao động nông thôn tại huyện Hòa An.
- Đề xuất giải pháp nhằm góp phần đào tạo, sử dụng lao động có hiệu
quả, tạo công ăn việc làm cho các hộ gia đình nông thôn trên địa bàn huyện
Hòa An, tỉnh Cao Bằng.
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
3.1. Ý nghĩa khoa học
Làm rõ vấn đề việc làm nói chung và việc làm của người lao động nông
thôn nói riêng trong quá trình xây dựng nông thôn mới tại huyện Hòa An, tỉnh
Cao Bằng.
3.1. Ý nghĩa thực tiễn
- Phân tích, đánh giá thực trạng việc làm và giải quyết việc làm cho
người lao động ở nông thôn huyện Hòa An từ năm 2013 - 2015.
môn của mình, kết hợp với tư liệu sản xuất, hoạt động trong một lĩnh vực nhất
định của cơ cấu kinh tế xã hội, chính là việc làm của anh ta. Người lao động
có việc làm là người giữ một vị trí trong cơ cấu chung đó. Vì vậy, việc làm
cũng chịu tác động của các qui luật kinh tế, xã hội.
i
LỜI CAM ĐOAN
Trong thời gian nghiên cứu, điều tra thu thập số liệu tại huyện Hòa An,
tỉnh Cao Bằng, tôi luôn chấp hành nghiêm túc nội quy, quy chế của cơ quan.
Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu Đề tài “Giải pháp
việc làm cho lao động nông thôn tại huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng” đều
được thu thập, điều tra, khảo sát thực tế trung thực, nghiên cứu đánh giá
đúng thực trạng của huyện Hòa An và chưa được sử dụng để bảo vệ Luận
văn của một học vị nào.
Tôi xin cảm ơn mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này và các
thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc.
Hòa An, ngày 11 tháng 9 năm 2016
Tác giả luận văn
Trần Thu Hằng
5
Như vậy, việc làm là một vần đề có ý nghĩa kinh tế xã hội và chính trị
quan trọng của một quốc gia. Hiện nay đảm bảo an toàn việc làm là một trong
những yếu tố cơ bản của sự phát triển bền vững. Thời kỳ đẩy mạnh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa và xu thế chủ động hội nhập kinh tế thế giới ở nước
ta hiện nay đang tạo ra những cơ hội và thách thức về lao động, việc làm cho
người lao động. Chính vì vậy nhận thức đúng đắn về việc làm là vấn đề quan
việc làm đầy đủ và thiếu việc làm.
Việc làm đầy đủ có thể hiểu là sự thỏa mãn nhu cầu về việc làm của
người lao động. Mọi người lao động có nhu cầu việc làm đều có thể tìm được
việc làm một cách nhanh chóng. Tuy nhiên mức độ đảm bảo việc làm cho
người lao động còn tùy thuộc vào trình độ kinh tế - xã hội và hoàn cảnh cụ thể
của mỗi nước. Ví dụ: ở Đan Mạch thời gian trung bình mà một người phải đổi
để được giới thiệu một việc làm mới là 14 tuần, ở Đức là 15 tuần (trích theo
Lê Văn Lợi, 2015) [16].
Đối với nước ta, đảm bảo việc làm đầy đủ cho người lao động đang là
một khó khăn và khả năng tạo mở việc làm của nền kinh tế chưa lớn. Chúng
ta tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa từ một nền kinh tế nông nghiệp lạc
hậu, nguồn lao động chưa đáp ứng được yêu cầu về trình độ kỹ thuật, tay
nghề của công nghiệp hóa. Chính vì vậy thiếu việc làm đầy đủ cả vô hình và
hữu hình là hiện tượng phổ biến trong xã hội.
Thiếu việc làm vô hình là sự phân bổ không hợp lý giữa sức lao động
và các yếu tố khác của sản xuất. Công việc chưa phát huy hết khả năng của
người lao động. Trong trường hợp này, người lao động vẫn có việc làm nhưng
anh ta phải làm những việc ở những nơi mà năng suất lao động thấp hơn mức
trung bình, thu nhập từ việc làm mang lại thấp hơn mức trung bình.
Thiếu việc làm hữu hình là tình trạng người lao động không có đủ khối
lượng việc làm trong ngày công lao động và phải đi tìm việc khác hay nhận
việc làm bổ sung. Tình trạng này diễn ra phổ biến ở nông thôn nhất là trong
những ngày tháng nông nhàn.
7
Như vậy, thiếu việc làm là tình trạng người lao động không có đủ việc
làm theo thời gian qui định trong tuần, trong tháng hoặc là làm những công
việc có thu nhập quá thấp không đảm bảo cuộc sống nên có nhu cầu làm việc
thêm để tăng thu nhập. Mục tiêu giải quyết việc làm là phải tạo ra việc làm
Loại thứ hai là thất nghiệp do cơ cấu ngành nghề. Đây là tình trạng
không phù hợp giữa ngành nghề chuyên môn và nghiệp vụ của dân cư lao
động với qui trình công nghệ sản xuất, với công cụ và phương tiện lao động
cũng như các phương pháp và đối tượng gia công, dẫn đến mức cầu đối với
một loại lao động nào đó tăng lên trong khi mức cầu đối với một loại lao
động khác giảm đi trong khi mức cung không được điều chỉnh nhanh chóng.
Các Mác đã nói: “Trong tất cả các lĩnh vực sự tăng lên của bộ phận khả biến
của tư bản do đó sự tăng thêm số công nhân đã có việc làm, bao giờ cũng
gắn liền với những biến động mạnh mẽ và với việc sản xuất ra số nhân khẩu
thừa tạm thời, không kể là việc này mang hình thức nổi bật là gạt bỏ những
công nhân đã có việc làm hay là mang hình thức ít rõ rệt hơn nhưng không
kém phần hiệu lực là thu nạp một cách khó khăn số nhân khẩu công nhân
phụ thêm vào những rãnh thoát thông thường của nó” (C.Mác,1984) [4]. Đó
là sự mất cân đối trong các nghề nghiệp hoặc trong những vùng do một số
lĩnh vực phát triển hơn so với một số lĩnh vực khác.
Thất nghiệp chu kỳ là thất nghiệp gắn với sự suy giảm theo từng thời
kỳ của nền kinh tế. Thông thường khi nền kinh tế tăng trưởng sẽ thu hút nhiều
lao động nhưng khi nền kinh tế suy yếu, khủng hoảng thì đội quân thất nghiệp
sẽ tăng lên và tăng với qui mô lớn hơn trước. Tuy nhiên điều đó còn phụ
thuộc vào sự đóng góp của các nguồn lực vào tăng trưởng kinh tế.
Người thất nghiệp là người trong độ tuổi lao động, có sức lao động
chưa có việc làm, đang có nhu cầu làm việc nhưng chưa tìm được việc làm.
9
Vấn đề thất nghiệp không chỉ là mối quan tâm của các thành viên
trong xã hội mà còn là mối quan tâm của mọi chính phủ. Tỷ lệ thất
nghiệp là một trong các chỉ tiêu đánh giá tình trạng của một nền kinh tế.
Tuy nhiên trong nền kinh tế thị trường, thất nghiệp là một hiện tượng
khách quan. Người ta chỉ có thể giảm tỷ lệ thất nghiệp tới mức thất
thời kỳ đầu chuyển sang kinh tế thị trường: Coi trọng cả phát triển sản xuất và
dịch vụ. Kết hợp giải quyết việc làm tại chỗ với phân bố lại lao động theo
vùng lãnh thổ, xây dựng các khu kinh tế mới, hình thành các cụm kinh tế - kỹ
thuật, dịch vụ nhỏ ở nông thôn, ở các thị trấn, thị tứ đồng thời mở rộng xuất
khẩu lao động, đa dạng hóa việc làm có thu nhập để thu hút lao động (Đảng
Cộng sản Việt Nam, 1991)[7].
Đặc biệt Đảng ta đã chỉ rõ tầm quan trọng của vấn đề giải quyết việc
làm, coi đó là “Trách nhiệm của mọi ngành, mọi cấp, mọi đơn vị thuộc mọi
thành phần kinh tế, của từng gia đình, từng người” (Đảng Cộng sản Việt
Nam, 1991) [7]. Quan điểm trên của Đảng đã góp phần xã hội hóa vấn đề giải
quyết việc làm cho người lao động thực hiện quyền lao động và quyền có việc
làm của người lao động theo qui định của hiến pháp năm 1992.
Nghị quyết số 120/HĐBT ngày 11/4/1992 của Hội đồng Bộ trưởng
(nay là Chính phủ) về chủ trương, phương hướng và biện pháp giải quyết việc
làm đã thể chế hóa những quan điểm đổi mới cơ bản đó của Đảng về việc làm
trong cơ chế thị trường như: Đa dạng hóa việc làm và đa dạng hóa thu nhập,
giải phòng sức lao động trên cơ sở tự do hóa trong lao động; Thực hiện các
chương trình quốc gia về việc làm và lập quĩ quốc gia về giải quyết việc làm.
Đặc biệt từ ngày 1/1/1995, Bộ luật lao động đầu tiên của nước ta bắt đầu có
hiệu lực, quan điểm, chủ trương, chính sách và cơ chế vê vấn đề việc làm của
Đảng được thể chế hóa một cách có hệ thống, đồng bộ tạo ra hành lang pháp
lý để phát triển việc làm trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN.
Tại đại hội toàn quốc lần thứ VIII của Đảng (1996) Vấn đề việc làm
trong cơ chế thị trường đã được nhận thức rõ hơn và phát triển lên như một
tầm cao mới. Đại hội xác định: “Nhà nước đầu tư tạo thêm chỗ làm việc và
tạo điều kiện cho mọi người tự mình và giúp đỡ người khác tạo việc
11
làm(Đảng Cộng sản Việt Nam, 1996)[8]. Lần đầu tiên, những phác thảo quan
sự phát triển đất nước.
Rõ ràng là Văn kiện Đại Hội đại biểu toàn quốc lần thứ X nhấn mạnh:
ưu tiên dành vốn đầu tư của Nhà nước và huy động vốn của toàn xã hội để
giải quyết việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp. Khuyến khích người lao động tự
tạo việc làm, phát triển nhanh các loại hình doanh nghiệp để thu hút nhiều lao
động. Chú trọng đào tạo nghề, tạo việc làm cho nông dân, nhất là những nơi
đất nông nghiệp bị chuyển đổi do đô thị hoá và công nghiệp hoá. Phát triển
các dịch vụ phục vụ đời sống của người lao động ở các khu công nghiệp. Tiếp
tục thực hiện chương trình xuất khẩu lao động, tăng tỷ lệ lao động xuất khẩu
đã qua đào tạo, quản lý chặt chẽ và bảo vệ quyền lợi chính đáng của người lao
động, nhất là lao động nông thôn (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2001)[9].
1.1.2. Lực lượng lao động và việc làm của người lao động ở nông thôn
1.1.2.1. Đặc điểm cơ bản của lực lượng lao động ở nông thôn
Lực lượng lao động ở nông thôn là một bộ phận của lực lượng lao động
cả nước sinh sống và làm việc tại khu vực nông thôn. Cũng như lực lượng lao
động chung của cả nước, lực lượng lao động ở nông thôn (hay còn gọi là dân
số hoạt động kinh tế) ở nông thôn là bộ phận dân số có độ tuổi từ 15 tuổi trở
lên có việc làm hay không có việc làm và đang tìm kiếm việc làm.
Lực lượng lao động ở nông thôn của nước ta có những đặc điểm sau:
Một là, lực lượng lao động ở nông thôn nước ta hiện nay đang chiếm tỷ
trọng lớn trong lực lượng lao động cả nước và tăng với qui mô lớn so với lực
lượng lao động ở thành thị. Lực lượng lao động hiện nay ở nước ta phần lớn
là ở nông thôn và hàng năm khu vực này lại được tiếp nhận một lực lượng lao
động trẻ, có sức khỏe và trình độ văn hóa, rất dễ dàng trong việc tiếp thu ứng
dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, kinh doanh, góp phần phát triển kinh tế
khu vực nông thôn, là nguồn lực to lớn cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện
đại hóa nông nghiệp nông thôn. Tuy nhiên lực lượng lao động ở nông thôn gia
ii
hợp với sự phát triển nhưng còn nhiều hạn chế yếu kém. Nông thôn là nơi
sinh sống và làm việc của đại đa số dân cư Việt nam. Trải qua hàng ngàn năm
lịch sử, nông thôn Việt nam đã tạo nên những truyền thống, bản sắc văn hóa
quí báu làm nên những phẩm chất tốt đẹp của con người nơi đây. Đó là tinh
thần đoàn kết tương thân tương ái, lòng yêu nước, trung thành với Đảng với
cách mạng, sự cần cù sáng tạo trong lao động sản xuất,... đó là những lợi thế
to lớn của lực lượng lao động trong phát triển kinh tế, xã hội ở nông thôn và
tham gia phân công lao động quốc tế. Tuy nhiên bên cạnh đó lực lượng lao
động nông thôn còn có nhiều điểm hạn chế, đó là:
- Lực lượng lao động ở nông thôn có sự phân bố không đều giữa các
vùng các ngành. Do ngành nông nghiệp của chúng ta chủ yếu thiên về trồng
trọt nên phần lớn lực lượng lao động tập trung ở những nơi có điều kiện tự
nhiên thuận lợi cho việc cấy trồng làm cho vùng đồng bằng đất chật người
đông thiếu việc làm trong khi đó vùng rừng núi có diện tích đất đai rộng lớn
nhưng dân cư thưa thớt, không đủ lao động để phát triển nghề rừng.
- Lực lượng lao động ở nông thôn thường hạn chế về sức khỏe, thể lực.
Do sản xuất nông nghiệp phụ thuộc nhiều vào tự nhiên có năng suất thấp bấp
bênh nên thu nhập của người lao động thấp hơn thu nhập của người lao động
ở thành thị. Hơn nữa, do hạn chế nhiều mặt về thông tin, thiếu hiểu biết về
chế độ dinh dưỡng cho cuộc sống cho nên người lao động ở nông thôn không
có điều kiện để nâng cao chất lượng cuộc sống. Cho nên thể lực, tầm vóc và
tuổi thọ trung bình của người lao động ở nông thôn thường thấp hơn người
lao động ở thành thị. Khu vực nông thôn cũng chưa được tạo điều kiện để
nâng cao các yếu tố khác của chất lượng nguồn lao động như văn hóa, chuyên
môn nghiệp vụ cũng như nhận thức về công ăn việc làm, tinh thần ý thức
trách nhiệm để có việc làm và làm việc có năng suất chất lượng hiệu quả. Hạn
15
chế này của lực lượng lao động ở nông thôn hiện nay đang được khắc phục
1.1.2.2. Việc làm của người lao động ở nông thôn
Nông thôn là nơi sinh sống của một bộ phận dân cư chủ yếu làm việc
trong lĩnh vực nông nghiệp. Có nhiều loại việc làm diễn ra ở nông thôn, phản
ánh tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế xã hội ở nông thôn. Nhưng việc
làm của người lao động ở nông thôn lại gắn với đặc điểm của lực lượng lao
động ở đây, với điều kiện tự nhiên nơi họ sinh sống.
Việc làm của người lao động ở nông thôn là những hoạt động lao động
trong tất cả các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế xã
hội của một bộ phận lực lượng lao động sinh sống ở nông thôn để mang lại
thu nhập mà không bị pháp luật ngăn cấm.
Việc làm của người lao động ở nông thôn gắn liền với môi trường, điều
kiện sinh sống và làm việc của người lao động. Và chính môi trường điều
kiện đó đã ảnh hưởng đến việc làm của họ, thậm chí quyết định việc làm của
họ. Người lao động ở nông thôn thường làm việc trong những ngành nông,
lâm, thủy sản - những loại việc làm có thể khai thác tài nguyên tự nhiên chính
nơi họ sinh sống. Ví dụ người sống ở rừng núi hay làm nghề rừng, người sống
ở vùng duyên hải hay làm nghề biển,... Việc làm của họ phần nhiều phụ thuộc
vào điều kiện tự nhiên và sức lao động của chính mình. Trong điều kiện nền
kinh tế nông nghiệp lạc hậu việc làm của người lao động ở nông thôn càng
mang tính thủ công, nặng nhọc và có thu nhập thấp. Khi kinh tế nông thôn
vẫn chủ yếu là nông nghiệp, ở đó ẩn chứa nhiều nguy cơ thiếu việc làm hữu
hình. Vì vậy, đa dạng hóa ngành nghề, mở nhiều loại hình việc làm, phát triển
kinh tế, xã hội ở nông thôn là phương hướng chủ yếu giải quyết việc làm cho
người lao động ở nông thôn.
1.1.2.3. Các loại việc làm của người lao động ở nông thôn
Các loại việc làm của người dân là tiêu chuẩn cơ bản để phân biệt thành
thị với nông thôn. Nếu như ở thành thị, dân cư tập trung làm việc trong các
17