Dạy học đọc hiểu văn bản “Vợ nhặt” ở trường Trung học Phổ thông theo quan điểm tích hợp - Pdf 44

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
**************

NGUYỄN HUYỀN TRANG

DẠY HỌC ĐỌC HIỂU VĂN BẢN
“ VỢ NHẶT” Ở TRƯỜNG
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
THEO QUAN ĐIỂM TÍCH HỢP
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Ngữ văn

Người hướng dẫn khoa học

ThS. VŨ NGỌC DOANH

HÀ NỘI – 2017


LỜI CẢM ƠN
Tác giả xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành sâu sắc nhất tới ThS. Vũ Ngọc Doanh,
người đã luôn quan tâm, động viên và tận tình hướng dẫn tác giả trong quá trình
thực hiện khóa luận này.
Tác giả cũng xin được gửi lời cảm ơn đến các thầy cô giáo trong Tổ Phương pháp
dạy học Ngữ văn cùng tất cả các thầy cô trong khoa Ngữ văn đã tạo điều kiện thuận
lợi cho tác giả trong quá trình học tập và nghiên cứu.
Do năng lực nghiên cứu có hạn, khóa luận chắc chắn không tránh khỏi những
thiếu sót. Rất mong sự chỉ bảo, góp ý của các thầy cô giáo và các bạn đồng nghiệp.
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 10 tháng 4 năm 2017

TS

Tiến sĩ

ThS

Thạc sĩ

GS

Giáo sư


MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU .........................................................................................................1
1. Lí do chọn đề tài ......................................................................................................1
2. Lịch sử vấn đề .........................................................................................................2
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu .........................................................................4
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ...........................................................................5
5. Phương pháp nghiên cứu.........................................................................................5
6. Đóng góp của khóa luận ..........................................................................................5
7. Bố cục ......................................................................................................................6
PHẦN NỘI DUNG .....................................................................................................7
Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ DẠY HỌC THEO QUAN ĐIỂM TÍCH HỢP Ở
TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG....................................................................7
1.1. Cơ sở lí luận trong dạy học tích hợp ....................................................................7
1.1.1. Khái niệm tích hợp ............................................................................................7
1.1.2. Mục tiêu của dạy học tích hợp ..........................................................................8
1.1.3. Đặc điểm cơ bản của dạy học tích hợp .............................................................9
1.1.4. Quan điểm tích hợp trong dạy học Ngữ văn ..................................................12

và áp dụng vào đổi mới chương trình và sách giáo khoa Trung học Phổ thông.
Chương trình Trung học Phổ thông, môn Ngữ văn, năm 2002 do Bộ Giáo dục và
Đào tạo dự thảo đã ghi rõ: “Lấy quan điểm tích hợp làm nguyên tắc chỉ đạo để tổ
chức nội dung chương trình, biên soạn sách giáo khoa và lựa chọn các phương pháp
giảng dạy.” [2;27] “Nguyên tắc tích hợp phải được quán triệt trong toàn bộ môn
học, từ Đọc văn, Tiếng Việt đến Làm văn; quán triệt trong mọi khâu của quá trình
dạy học; quán triệt trong mọi yếu tố của hoạt động học tập; tích hợp trong chương
trình; tích hợp trong sách giáo khoa; tích hợp trong phương pháp dạy học của giáo
viên và tích hợp trong hoạt động học tập của học sinh; tích hợp trong các sách đọc
thêm, tham khảo.” [2;40].
Như vậy, ở nước ta hiện nay, bài toán đang đặt ra trong lĩnh vực lí luận và
phương pháp dạy học bộ môn là phải tiếp cận, nghiên cứu và vận dụng dạy học tích
hợp vào dạy học Ngữ văn ở Trung học Phổ thông nhằm hình thành và phát triển
năng lực cho học sinh một cách có hiệu quả hơn, góp phần thực hiện tốt mục tiêu
giáo dục và đào tạo của bộ môn.
Môn Ngữ văn là một trong những môn học được xây dựng theo tư tưởng sư
phạm tích hợp một cách khá rõ. Môn Ngữ văn trong nhà trường Trung học Phổ
thông là một môn học trung tâm và chiếm nhiều thời lượng nhất. Môn Ngữ văn

1


không chỉ giúp học sinh sử dụng tốt ngôn ngữ vận dụng làm các kiểu bài mà còn có
vai trò quan trọng trong việc hình thành những phẩm chất quan trọng của con người
góp phần thực hiện nhiệm vụ của hệ thống giáo dục quốc dân.
Trong môn Ngữ văn đọc văn có một vị trí đặc biệt. Phân môn này không chỉ
hình thành cho học sinh kĩ năng đọc hiểu mà còn trang bị cho học sinh những kiến
thức sâu rộng về từ ngữ, ngữ pháp, những tri thức về lịch sử, địa lí, văn hóa. Qua
những văn bản văn học giúp các em cảm nhận được cái hay cái đẹp của văn
chương, góp phần nâng cao năng lực cảm thụ cho học sinh.

chia giữa các thành phần kết hợp. Tính toàn vẹn dựa trên sự thống nhất nội tại các
thành phần liên kết, chứ không phải sự sắp đặt các thành phần bên cạnh nhau.
Không thể gọi là tích hợp nếu các tri thức, kĩ năng chỉ được thụ đắc, tác động một
cách riêng rẽ, không có sự liên kết, phối hợp với nhau trong lĩnh hội nội dung hay
giải quyết một vấn đề, tình huống.
Trong lí luận dạy học, tích hợp được hiểu là sự kết hợp một cách hữu cơ, có
hệ thống, ở những mức độ khác nhau, các kiến thức, kĩ năng thuộc các môn học
khác nhau hoặc các hợp phần của bộ môn thành một nội dung thống nhất, dựa trên
cơ sở các mối liên hệ về lí luận và thực tiễn được đề cập đến trong các môn học
hoặc các hợp phần của bộ môn đó.
Bàn về phương pháp dạy học theo quan điểm tích hợp có rất nhiều tác giả,
nhà cải cách giáo dục đề cập đến vấn đề này như:
Trong cuốn “ Phương pháp dạy học Ngữ văn ở Trung học Cơ sở theo hướng tích
hợp và tích cực” của tác giả Đoàn Thị Kim Nhung – Nhà xuất bản Đại học Quốc gia
Thành phố Hồ Chí Minh – 2006, đã đề cập đến quan điểm, nguyên tắc, phương
pháp dạy học theo hướng tích hợp và tích cực đối với Ngữ văn Trung học Phổ thông
và đối với từng phân môn. Mặc dù đây là tài liệu nghiên cứu phương pháp dạy học
Ngữ văn ở Trung học Phổ thông nhưng nó vẫn góp phần định hướng cho việc xây
dựng cơ sở lí luận của đề tài này.
Trong cuốn“Tìm hiểu chương trình và sách giáo khoa Ngữ văn Trung học
Phổ thông” – T.S Đỗ Ngọc Thống – nhà xuất bản Giáo dục năm 2006 đã đề cập đến
vấn đề đổi mới phương pháp dạy học theo quan điểm tích hợp, phát huy tính chủ
động tích cực của học sinh trong chương trình Ngữ văn 10. Ông đã nêu quan điểm
của mình về tích hợp. Đó là sự hợp nhất hòa trộn các phân môn.

3


Tác giả Trần Bá Hoành trong cuốn “ Đổi mới phương pháp dạy học, chương
trình và sách giáo khoa” đã đề cập đến phương pháp dạy học mới. Đó là dạy học lấy

Đưa ra hướng đi mới trong dạy học nhằm đáp ứng được nhu cầu đổi mới và phù
hợp với thực tiễn công cuộc cải cách toàn diện Giáo dục nói riêng và cải cách xã hội
nói chung.
Nhằm triển khai việc dạy học bài “ Vợ nhặt” theo quan điểm tích hợp có hiệu quả
hơn, góp phần nâng cao chất lượng dạy bài học đó nói riêng và dạy đọc văn nói
chung.
Nhiệm vụ nghiên cứu
Khi thực hiện đề tài này, người viết đi vào các nhiệm vụ cụ thể sau:
Hệ thống hóa các tài liệu nghiên cứu để kế thừa, vận dụng giải quyết vấn đề
Xác định cụ thể cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài.
Trình bày những kiến thức cơ bản về tác phẩm “ Vợ nhặt”.
Áp dụng quan điểm tích hợp vào việc dạy học đặc biệt ở bài “ Vợ nhặt”.
Tổ chức thực nghiệm bằng việc thiết kế giáo án bài “ Vợ nhặt” thể hiện rõ quan
điểm tích hợp.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Quan điểm dạy học tích hợp ứng dụng vào việc dạy học đọc hiểu trong dạy học
môn Ngữ văn.
Phạm vi nghiên cứu
Trong khuôn khổ của một khóa luận, chúng tôi chỉ đi vào nghiên cứu vấn đề ứng
dụng quan điểm tích hợp trong việc dạy học văn bản “ Vợ nhặt”.
5.Phương pháp nghiên cứu
-

Phương pháp phân tích

-

Phương pháp thống kê, tổng hợp


Tích hợp là một phương pháp dạy học hiện đại nhằm giải quyết mâu thuẫn
giữa khối lượng kiến thức được cung cấp với năng lực thực tế của người học, kiến
thức hàn lâm với thực tế đời sống, trong khi thời gian học tập có hạn. Quan điểm
tích hợp được áp dụng với nhiều môn khác nhau, với những mức độ khác nhau như:
tích hợp đa môn, tích hợp liên môn, tích hợp xuyên môn…
Có nhiều quan điểm khác nhau về tích hợp. Có ý kiến cho rằng tích hợp là tổ
hợp ( conbi- nation) hay phối hợp ( co-ordination) các môn học.
Theo Nguyễn Khắc Phi trong sách giáo khoa Ngữ văn 6 đã đưa ra quan điểm về tích
hợp. “ Tích hợp là một phương hướng nhằm phối hợp một cách tối ưu các quá trình
học tập riêng rẽ của các môn học khác nhau theo các mô hình, các cấp độ khác
nhau nhằm đáp ứng những mục tiêu, mục đích và những yêu cầu cụ thể khác nhau”.
[tr 6]
Theo quan điểm của T.S Nguyễn Văn Đường trong bài “ Những điểm mới của
chương trình và sách giáo khoa Ngữ văn 6”, tạp chí Giáo dục, năm 2002 cho rằng:
“ Tích hợp là sự tổng hợp ở mức độ cao, hài hòa và biện chứng ở các cấp độ,
phương diện khác nhau nhằm đạt hiệu quả, chất lượng mới và tốt”. [ tr 7]
T.S Nguyễn Trọng Hoàn trong bài “ Tích hợp và liên hội hướng tới kết nối trong
dạy học Ngữ văn”, tạp chí Giáo dục, năm 2002 quan niệm: “ Tích hợp là thuật ngữ
mà nội hàm của nó chỉ hướng tiếp cận kiến thức từ việc khai thác giá trị của các tri

7


thức công cụ thuộc từng phân môn, trên cơ sở một văn bản có vai trò là kiến thức
nguồn”. [ tr 21]
Tích hợp là một khái niệm được sử dụng trong nhiều lĩnh vực. Trong lĩnh
vực khoa học giáo dục, khái niệm tích hợp xuất hiện từ thời kì khai sáng, dùng để
chỉ một quan niệm giáo dục toàn diện con người, chống lại hiện tượng làm cho con
người phát triển thiếu hài hòa, cân đối. Tích hợp còn có nghĩa thiết lập một loại hình
nhà trường mới, bao gồm các thuộc tính trội của các loại hình nhà trường vốn có.

từng môn học, nhưng lại có những nội dung, kĩ năng mà nếu theo môn học riêng rẽ
sẽ không có được. Do vậy vừa tiết kiệm thời gian, vừa có thể phát triển kĩ năng,
năng lực xuyên môn cho học sinh thông qua giải quyết các vấn đề phức hợp.
Thực hiện dạy học tích hợp giúp xác định rõ mục tiêu, phân biệt cái cốt yếu và cá ít
quan trọng hơn khi lựa chọn nội dung, cần tránh các nội dung học tập ngang bằng
nhau, bởi có một số nội dung học tập quan trọng hơn vì chúng thiết thực cho cuộc
sống hàng ngày, vì chúng là cơ sở cho quá trình học tập nghiên cứu tiếp theo.
Thực tiễn ở nhiều nước đã chứng tỏ rằng việc thực hiện quan điểm tích hợp
trong Giáo dục và dạy học sẽ giúp phát triển những năng lực giải quyết các vấn đề
phức tạp và làm cho việc học tập trở nên ý nghĩa đối với học sinh so với việc các
môn học, các mặt giáo dục được thực hiện rõ ràng.
Như vậy, dạy học tích hợp là một trong những quan điểm giáo dục nhằm nâng cao
năng lực người học, giúp đào tạo những người có đầy đủ phẩm chất và năng lực để
giải quyết các vấn đề của cuộc sống hiện đại. Dạy học theo hướng tích hợp phát huy
được tính tích cực của học sinh góp phần đổi mới nội dung và phương pháp dạy
học.
1.1.3.Đặc điểm cơ bản của dạy học tích hợp
Đặc điểm thứ nhất là dạy học lấy người học làm trung tâm, được xem là
phương pháp đáp ứng yêu cầu cơ bản của mục tiêu giáo dục, có khả năng định
hướng việc tổ chức quá trình dạy học thành quá trình tự học. Dạy học lấy người học
làm trung tâm đòi hỏi người học là chủ thể của hoạt động học, học sinh phải tự học,
tự nghiên cứu để tìm ra kiến thức bằng hành động của chính mình, người học không
chỉ được đặt vào những kiến thức có sẵn trong bài giảng của giáo viên mà phải tự
đặt mình vào trong tình huống có vấn đề của thực tiễn, cụ thể và sinh động của nghề

9


nghiệp rồi từ đó tự mình tìm ra cái chưa biết, cái cần khám phá, học để sống, để làm
việc, để sống chung với mọi người và tự khẳng định bản thân mình, tức là tự tìm


ứng được mục tiêu. Dạy học phải làm cho người học có các năng lực tương ứng với
chương trình. Do đó, việc dạy kiến thức lí thuyết không phải ở mức độ hàn lâm mà
chỉ ở mức độ cần thiết nhằm hỗ trợ cho sự phát triển các năng lực thực hành ở mỗi
người học. Trong dạy học tích hợp, lí thuyết là hệ thống tri thức khoa học chuyên
ngành về những vấn đề cơ bản, về những quy luật chung của lĩnh vực chuyên ngành
đó. Hơn nữa, việc dạy lí thuyết thuần túy sẽ dẫn đến tình trạng lí thuyết suông, kiến
thức sách vở không mang lại lợi ích thực tiễn. Do đó, cần gắn lí thuyết với thực
hành trong quá trình dạy học. Thực hành là hình thức luyện tập để trau dồi kĩ năng,
kĩ xảo hoạt động giúp cho người học hiểu rõ và nắm vững kiến thức lí thuyết. Đây
là khâu cơ bản để thực hiện nguyên lí giáo dục học đi đôi với hành, lí luận gắn với
thực tiễn. Thực hành phải có đủ phương tiện, kế hoạch, quy trình luyện tập gắn
ngay với vấn đề lí thuyết vừa học. Để hình thành cho người học một kĩ năng thì cần
phải dạy cho họ biết cách kết hợp và huy động hợp lí nguồn nội lực ( kiến thức, khả
năng thực hiện và thái độ) và ngoại lực ( tất cả những gì có thể huy động được nằm
ngoài cá nhân). Như vậy, người dạy phải định hướng, giúp đỡ, tổ chức, điều chỉnh
và động viên hoạt động của người học. Sự định hướng của người dạy góp phần tạo
ra môi trường sư phạm bao gồm các yếu tố cần có đối với sự phát triển của người
học mà mục tiêu bài học và cách giải quyết chúng. Trong dạy học tích hợp, người
học được đặt vào những tình huống của đời sống thực tế, phải trực tiếp quan sát,
thảo luận, làm bài tập, giải quyết nhiệm vụ đặt ra theo cách nghĩ của mình, tự lực
tìm kiếm nhằm khám phá những điều mình chưa rõ chứ không phải thụ động thiếp
thu những tri thức đã được giáo viên sắp xếp. Người học cần phải tiếp nhận đối
tượng qua các phương tiện nghe, nhìn,… và phân tích đối tượng nhằm làm bộc lộ
và phát hiện ra các mối quan hệ bản chất, tất yếu của sự vật, hiện tượng. Từ đó,
người học vừa nắm được kiến thức vừa nắm được phương pháp hoạt động. Như
vậy, người dạy không chỉ đơn thuần truyền đạt kiến thức mà còn hướng dẫn thực
hiện các hoạt động.

11


12


từng thời điểm và tích hợp theo từng vấn đề để từ đó các em tích cực, chủ động, tự
tin chiếm lĩnh tri thức môn học một cách khoa học và sáng tạo.
Tuy nhiên trong mỗi bài học, có những mạch kiến thức, kĩ năng của bộ môn này
không thể tìm thấy sự đồng quy với những bộ môn khác. Lúc đó giáo viên phải tổ
chức dạy chúng như những yếu tố độc lập theo cách riêng.
Dạy học theo nguyên tắc tích hợp có những đặc điểm sau:
Khi giảng dạy ngoài việc đảm bảo cho học sinh những kiến thức, kĩ năng đặc
thù của bộ môn còn phải tìm ra yếu tố đồng quy giữa các môn để góp phần hình
thành và rèn luyện tri thức, kĩ năng của các bộ môn khác. Đây là định hướng
phương pháp giảng dạy môn Ngữ văn ở trường Trung học Phổ thông hiện nay
1.1.5. Vấn đề đọc hiểu trong dạy học tích hợp
1.1.5.1 Đọc hiểu là gì?
Theo “ Đại bách khoa toàn thư Trung Quốc”, quyển “ Giáo dục”: “ Đọc là một
quá trình hoạt động tâm lí nhằm tiếp nhận ý nghĩa từ kí hiệu ngôn ngữ được in hay
viết” Xét từ mặt triết học, đọc có những nội dung sau: Một, đọc là quá trình tiếp
nhận ý nghĩa từ văn bản, tất nhiên phải hiểu ngôn ngữ của văn bản ( ngôn ngữ dân
tộc, ngôn ngữ nghệ thuật, ngôn ngữ thể loại của văn bản); phải dựa vào tính tích cực
của chủ thể ( hứng thú, nhu cầu, năng lực) và tác động qua lại giữa chủ thể và văn
bản. Hai, đọc là quá trình giao tiếp và đối thoại đối với người tạo ra văn bản (tác
giả, xã hội, văn hóa). Ba, đọc là quá trình tiêu dùng văn hóa văn bản ( hưởng thụ,
giải trí, học tập). Bốn, đọc là quá trình tạo ra năng lực người ( năng lực hiểu mình,
hiểu văn hóa và hiểu thế giới). Như thế đọc là một họat động văn hóa có tầm nhân
loại và có ý nghĩa giáo dục sâu sắc.
Hiểu là một khái niệm có nội hàm rất rộng. theo M. Bakhtin, trong sách “ Con
người trong thế giới ngôn từ”, “ hiểu” trong đọc – hiểu bao gồm nhiều hành động
gắn với nhau: 1. Cảm thụ (tiếp nhận) kí hiệu vật chất ( màu sắc, con chữ…); 2.

thức, ít chú ý đến vai trò của học sinh vai trò chủ thể trước tác phẩm, thầy là
trong quá trình khám phá tác phẩm.

người tổ chức, điều khiển quá trình
chiếm lĩnh tác phẩm của học sinh. Còn
học sinh là chủ thể đọc, chủ thể khám
phá, lĩnh hội tri thức dưới sự hướng dẫn
của giáo viên.

Trong giảng văn, giáo viên là người phát Đọc – hiểu là hoạt động biến học sinh
hiện ra cái hay, cái đẹp của tác phẩm và trở thành người tự khám phá, phát hiện

14


sau đó truyền đạt lại cho học sinh. Học ra cái hay , cái đẹp của tác phẩm dựa
sinh là người nghe giảng, ghi chép, lĩnh trên vốn hiểu biết của bản thân qua việc
hội lời giảng của thầy cô một cách thụ tìm hiểu những câu hỏi hướng dẫn trong
động.

phần đọc – hiểu văn bản. Giáo viên
không chủ động áp đặt cách hiểu, cách
cảm của mình về tác phẩm vào tư duy
của học sinh mà chỉ điều chỉnh khi học
sinh chưa hiểu đúng hay bổ sung khi học
sinh hiểu chưa đủ nội dung tác phẩm.
Với phương pháp dạy học này, học sinh
phát huy tối đa sự tích cực, sáng tạo
trong văn học đồng thời rèn luyện thói tự
độc lập, tự tu duy, suy nghĩ trước một

hiểu các tác phẩm tương tự.

pháp đọc – hiểu các tác phẩm cùng loại
để tự lĩnh hội khám phá. Vì thế học sinh
có thể tự mình đọc – hiểu các tác phẩm
không được học trong chương trình dựa
trên đặc trưng thể loại và phương pháp
tiếp cận ở trường phổ thông.

Phương pháp chủ đạo là diễn giảng, bình Sách giáo khoa chú ý đến việc xây dựng
việc làm, thao tác hướng dẫn học sinh

giá của giáo viên về tác phẩm.

từng bước chiếm lĩnh tác phẩm văn học
theo đặc thù của sự tiếp nhận văn
chương.
Đọc – hiểu chú trọng vai trò của khâu
đọc với các hình thức khác nhau: Đọc để
cảm nhận chung, đọc để tri giác ngôn
ngữ văn bản, đọc để bình giá… Hiểu là
kết quả cần đạt của đọc – hiểu. hiểu bao
gồm cả nhận thức của lí trí, cả nhận thức
của sự rung động, qua đời sống nội tâm.
Đọc – hiểu rất chú trọng các bước thâm
nhập tác phẩm là tái hiện, phân tích,
bình giá, liên tưởng…
1.1.53. Các bước chuẩn bị cho đọc hiểu

16


Nhận diện đặc điểm thể loại.

17


-

Phân tích vai trò và tác dụng của thể loại. Mỗi thể loại văn học có một đặc
điểm riêng, qua đó nhà văn bộc lộ tài năng, phong cách, sở trường của riêng
mình.

b. Hỏi hướng vào yếu tố của văn bản
-

Câu hỏi đọc lướt, đọc thông. Ví dụ: Tìm bố cục, nêu nội dung mỗi đoạn,
thuật lại cốt truyện, thống kê nhân vật, nêu cảm nhận chung…

-

Câu hỏi đọc sâu, cảm nhận ngôn từ. Ví dụ: Tên văn bản, từ khó, câu then
chốt, các chi tiết, hình ảnh…
Dạng câu hỏi hướng vào các yếu tố của văn bản về cơ bản là câu hỏi chính

cần khai thác trong giờ học Ngữ văn. Đây là dạng câu hỏi không mới, câu hỏi giáo
viên đã sử dụng trong giờ dạy học truyền thống. Tuy nhiên, trong giờ đọc – hiểu
văn bản văn học câu hỏi này được sử dụng linh hoạt hơn để phát huy tính tích cực
của học sinh.
- Câu hỏi khái quát giá trị tác phẩm. Ví dụ: Nêu giá trị thẩm mĩ, kết cấu, nghệ
thuật…


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status