1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN THỊ PHÚ GIA
DẠY HỌC VĂN HỌC VIỆT NAM TRUNG ĐẠI
Ở TRUNG HỌC CƠ SỞ THEO QUAN ĐIỂM TÍCH HỢP
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
NGHỆ AN - 2014
2
B GIO DC V O TO
TRNG I HC VINH
NGUYN TH PH GIA
DY HC VN HC VIT NAM TRUNG I
TRUNG HC C S THEO QUAN IM TCH HP
LUN VN THC S KHOA HC GIO DC
CHUYấN NGNH: lý luận và phơng pháp dạy học Bộ môn văn và tiếng việt
M S: 60.14.01.11
NGI HNG DN KHOA HC
TS. PHM TUN V
NGH AN - 2014
MỤC LỤC
MỤC LỤC 3
MỞ ĐẦU 1
3. Nhiệm vụ nghiên cứu 7
4. Phạm vi nghiên cứu 7
5. Phương pháp nghiên cứu 8
6. Cấu trúc của luận văn 8
Chương 1 9
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC DẠY HỌC VĂN HỌC 9
VIỆT NAM TRUNG ĐẠI Ở THCS THEO QUAN ĐIỂM TÍCH HỢP 9
1.1. Dạy học theo quan điểm tích hợp, một xu hướng chính thống trong dạy học Ngữ văn
phương pháp giảng dạy” [9 , 6 ]. Vai trò và nhiệm vụ mới này đã được
cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng nêu rất rõ trong bài viết Đổi mới toàn
diện: “Ngày nay sự hiểu biết của con người luôn luôn đổi mới. Cho nên
dù được học trong nhà trường bao nhiêu chăng nữa cũng chỉ là rất có
hạn. Thế thì cái gì là quan trọng? Cái quan trọng là rèn luyện bộ óc, rèn
luyện phương pháp suy nghĩ, phương pháp học tập, phương pháp tìm
tòi, phương pháp vận dụng kiến thức, phương pháp vận dụng tốt nhất
bộ óc của mình” [ 4 ,10 ]. Định hướng đổi mới phương pháp dạy và
học cũng được xác định trong Nghị quyết Trung ương 4 khóa VII (1 -
1993), Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII (12 -1996), được thể chế
hóa trong Luật Giáo dục (12 - 1998), được cụ thể hóa trong các chỉ thị
của Bộ Giáo dục và Đào tạo, đặc biệt là chỉ thị số 15 (4 - 1999). Luật
Giáo dục, điều 24.2, cũng ghi rõ: "Phương pháp giáo dục phổ thông
phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh;
phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương
pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác
động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh"
[ 9 ,8 ]. Từ giảng văn sang phân tích tác phẩm, đã có một bước tiến
dài về PPDH phân môn Văn học. Tất nhiên cùng với nó, phân môn
Tiếng Việt và Tập làm văn cũng có những thay đổi quan trọng. Một
trong những yếu tố làm nên sự thay đổi quan trọng đó là tư duy dạy
1
học tích cực. Học sinh sẽ chủ động, tích cực và sáng tạo tiếp nhận kiến
thức chứ không tiếp thu kiến thức thụ động. Lý thuyết hoạt động của
tâm lí học, lí thuyết tiếp nhận của nghiên cứu văn học, chủ trương dạy
ngôn ngữ trên cơ sở giao tiếp, bằng giao tiếp của ngôn ngữ học cho
phép việc đổi mới phương pháp dạy học ở cả ba phân môn đạt được
những kết quả khá vững chắc. Khi đổi mới chương trình và SGK theo
hướng tích hợp, về cơ bản, những vấn đề quan trọng của phương pháp
dạy, học văn đã được xác lập củng cố. Vấn đề là vận dụng nó trong
nâng cao. Thực tế, bộ phận văn học Việt Nam trung đại đã đưa vào nhà
trường từ lâu, nhưng cho tới nay, không mấy thầy cô giáo, dám nghĩ là đã
hiểu tốt và hướng dẫn học sinh học tốt mặc dù có sự hỗ trợ của SGK về chú
thích gợi ý giảng dạy của các công trình nghiên cứu, các giáo trình về
phương pháp. Đề tài nghiên cứu “Dạy học văn học Việt Nam trung đại ở
trường THCS theo quan điểm tích hợp’ nhằm góp phần thêm vào yêu cầu
đổi mới phương pháp dạy học văn học nói chung, đổi mới phương pháp
dạy học văn học Việt Nam trung đại ở trung học cơ sở nói riêng.
2. Lịch sử vấn đề
Phương pháp dạy học văn của nhóm tác giả Phan Trọng Luận, Trương
Dĩnh, Nguyễn Thanh Hùng, Trần Thế Phiệt (1988) đã trình bày những vấn
đề lí luận chung về bộ môn, phương pháp dạy học văn nói chung và
phương pháp dạy học từng phân môn. Có thể nói đây là công trình đầu tiên
nghiên cứu một cách tổng thể, toàn diện về phương pháp dạy học văn.
Cuốn sách đã đưa ra các phương pháp dạy học văn ở trường phổ thông: gợi
mở, nghiên cứu, tái tạo, nêu vấn đề. Các tác giả đã đề cập đến vai trò của
người học. Cuốn sách cũng đưa ra những phương pháp cụ thể khi dạy một
3
thể loại. Hoàn cảnh hiện nay đã khác, chương trình sách giáo khoa cũng đã
thay đổi do đó những nội dung các tác giả nêu ra trong công trình ít nhiều
không còn phù hợp.
Năm 2007, Trong cuốn Văn học trung đại Việt Nam trong nhà trường,
(Nxb Giáo dục) tác giả Phạm Tuấn Vũ đã đề cập tới một số vấn đề thuộc
một số thể loại văn học trung đại Việt Nam, trong đó tác giả chú trọng tới
một số tác phẩm văn học trung đại được dạy học ở trường phổ thông. Các
bài viết trong cuốn sách được sắp xếp theo bốn nhóm: về phú, về thơ, về
văn tế, về văn chính luận. Đây là tài liệu tham khảo rất có ích cho giáo viên
dạy văn ở trường phổ thông bởi tập sách đã cung cấp cho người đọc những
hiểu biết về các thể loại nói trên, thế nhưng chưa mang lại cách thức tiếp
cận cụ thể cho từng thể loại.
là khi giảng dạy những tác phẩm thuộc thể loại này, cần tái hiện sinh
động không khí lịch sử, tình huống mà tác giả tạo nên tác phẩm. Bên
cạnh đó, giáo viên cũng cần giúp học sinh nhận ra được cái hay trong
nghệ thuật lập luận của tác giả. Bao gồm: sự logic, chặt chẽ trong việc
triển khai trình tự các luận điểm; sự sắc sảo của lí lẽ, sinh động phong
phú của dẫn chứng; sự hùng hồn thống thiết của lời văn tăng cường
các hoạt động tranh luận, thảo luận nhóm. Liên hệ với đời sống thực tế
cũng là một trong những biện pháp góp phần hạn chế những khó khăn
trong quá trình giảng dạy. Cuối bài viết của mình, tác giả thiết kế giáo
án cho văn bản Chiếu dời đô.
Sách Phương pháp dạy học ngữ văn ở trường phổ thông theo
hướng tích hợp và tích cực của Đoàn Thị Kim Nhung, Nxb Giáo dục
5
(2010) phục vụ dạy học Ngữ văn THCS đã đưa ra những định hướng
về đổi mới phương pháp dạy học theo quan điểm tích hợp và tích cực,
xây dựng được mô hình thiết kế giáo án phù hợp. Cuốn sách đã cung
cấp cho giáo viên dạy ngữ văn THCS nhiều kiến thức lí luận và thực
tiễn, có được những định hướng đổi mới, phương pháp dạy học phù hợp
với từng phân môn. Phương pháp dạy học từng phần văn học cụ thể:
văn học dân gian, văn học trung đại và văn học hiện đại chưa được tập
trung nghiên cứu.
Sách Yêu cầu của việc đổi mới dạy học tác phẩm nghị luận trung
đại ở trung học phổ thông, Nxb Giáo dục (2007) của Huỳnh Văn Hoa
đã đưa ra một số yêu cầu đối với việc đổi mới dạy học tác phẩm nghị
luận trung đại:
Một là, tuân thủ các đặc trưng riêng của nghị luận trung đại.
Hai là, cần đặt tác phẩm vào hoàn cảnh ra đời của nó, đặc biệt là
hoàn cảnh văn hóa xã hội chịu sự chi phối mạnh mẽ của tư tưởng kinh
điển Nho giáo.
Ba là, các tác phẩm nghị luận trung đại không đơn thuần là đề xuất ý
dạy việc dạy học văn học Việt Nam trung đại ở THCS theo quan điểm
tích hợp về nội dung và phương pháp.
Chương trình Ngữ văn bậc THCS, phần văn học Việt Nam trung
đại bao gồm những tác phẩm sau:
*Lớp 6: Thầy giỏi cốt ở tấm lòng; Con hổ có nghĩa.
7
*Lớp 7: Nam Quốc sơn hà; Tụng giá hoàn kinh sư; Thiên trường
vãn vọng; trích đoạn Côn sơn ca; trích đoạn Sau phút chia li; Qua Đèo
Ngang; Bạn đến chơi nhà; Bánh trôi nước.
*Lớp 8: Hai chữ nước nhà; Chiếu dời đô; Hịch tướng sĩ, trích
đọan Nước Đại Việt ta, Bàn luận về phép học.
*Lớp 9: Chuyện người con gái Nam Xương, Một số đọan trích dẫn
trong Truyện Kiều (Chị em Thúy Kiều, Cảnh ngày xuân, Mã Giám Sinh
mua Kiều, Kiều ở lầu Ngưng Bích), Hoàng Lê nhất thống chí (hồi 14),
Chuyện cũ trong phủ Chúa Trịnh.
5. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn kết hợp sử dụng các phương pháp nghiên cứu văn học và
các phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục: Phương pháp so sánh,
phương pháp xã hội học, phương pháp phân tích tổng hợp, phương
pháp thực nghiệm, phương pháp đối chiếu, liệt kê, phân tích,
6. Cấu trúc của luận văn
Ngoài Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo luận văn có ba
chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc dạy học văn học
Việt Nam trung đại ở THCS theo hướng tích hợp
Chương 2: Nội dung và phương pháp tích hợp trong dạy học văn
học Việt Nam trung đại ở THCS
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
8
Chương 1
có tính cách thuật sự trong giai đoạn dạy luận văn về thuật sự…. Với
hình thức biên soạn này, hai phần Luận văn và Giảng văn sẽ có sự phối
hợp, bổ sung lẫn nhau, vừa tránh được sự trùng lặp, giẫm đạp lên nhau
về kiến thức, lại vừa có thể gia tăng phần thực hành, một nhân tố hết
sức quan trọng để nâng cao hiệu quả dạy học. Ngoài ra, phần Văn phạm
cũng có sự phối kết hợp mật thiết với phần giảng văn, cụ thể là các bài
tập thực hành về văn phạm đều lấy ngữ liệu từ bài giảng văn. Phần Ngữ
vựng, theo quan niệm của những người biên soạn chương trình, sẽ
không được học thành một bài biệt lập mà chỉ học nhân bài giảng văn.
Cụ thể là phần chú giải của bài giảng văn sẽ có tác dụng mở rộng vốn
từ cho học sinh. Ngoài ra, hệ thống câu hỏi học bài của phần Giảng văn
có rất nhiều những câu hỏi về từ ngữ, yêu cầu học sinh phải cắt nghĩa,
giải cũng chính là một giải pháp hữu hiệu để kết hợp dạy ngữ vựng cho
người học. Theo các soạn giả, đây chính là một lối tránh cho môn Ngữ
vựng khỏi giả tạo, miễn cưỡng. Khảo sát cuốn Quốc văn đệ thất (tương
đương với lớp 6) của nhóm tác giả Vũ Khắc Khoan, Tô Đáng, Nguyễn
Sỹ Tế, chúng tôi thấy các soạn giả thay thế phần chú giải bằng mục
danh từ Hán Việt, chọn lấy các danh từ Hán Việt trong bài ra giải nghĩa
cho học sinh. Cách làm này chẳng những có tác dụng mở rộng vốn từ
cho học sinh mà còn có tác dụng củng cố cho bài học Văn phạm, giúp
học sinh nhận biết rõ các từ loại trong hoạt động hành chức của nó.
Như thế, các soạn giả đã thể hiện những điểm chung giữa ba phần
Giảng văn, Luận văn, Tiếng Việt để tạo ra sự tích hợp nhằm nâng cao
hiệu quả học tập môn Quốc văn ở trường phổ thông. Xét về việc tổ
chức bài học, sắp xếp thứ tự giữa các phần, có thể nói sách giáo khoa
10
miền Nam khi ấy đã lựa chọn giải pháp tích hợp ngang trong cùng một
đơn vị bài học, để giữa các bộ phận kiến thức có sự phối hợp chặt chẽ
với nhau. Trật tự giữa các phần cụ thể như sau:
- Luận văn (lý thuyết)
kế hoạch dạy học theo hướng tích hợp đó là một trong những nội dung
trọng tâm Bộ GD - ĐT yêu cầu trong hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ
giáo dục Trung học cơ sở năm học 2012-2013. Dạy học theo hướng tích
hợp là một trong những quan điểm giáo dục đã trở thành xu thế trong
việc xác định nội dung dạy học trong nhà trường phổ thông và trong
chương trình xây dựng môn học. Quan điểm tích hợp được xây dựng
trên cơ sở những quan niệm tích cực về quá trình học tập và quá trình
dạy học.
Tích hợp là một vấn đề rất lớn không riêng gì môn Ngữ Văn, tuy
nhiên, môn Ngữ văn có nhiều điều kiện thuận lợi để thực hiện trước
một bước. Văn học, Tiếng Việt, Tập làm văn đều có một yếu tố chung
là Tiếng Việt; dù dạy Văn học, Tiếng Việt hay Tập làm văn thì tất cả
đều do một giáo viên đảm nhiệm và người thầy đó cũng do một khoa
đào tạo. Dĩ nhiên, việc cải tiến Chương trình Ngữ văn theo hướng tích
hợp có vận dụng kinh nghiệm của nhiều nước song trước hết là xuất
phát từ thực tiễn giáo dục của Việt Nam, tiếp thu một số truyền thống
của chính nền giáo dục Việt Nam. Việc tách môn Văn thành ba phân
môn trên 20 năm qua tuy đưa lại một số kinh nghiệm nhất định song đã
ngày càng bộc lộ nhiều nhược điểm, đặc biệt là ở bậc THCS. Trước
1980, chúng ta chỉ có một môn Văn và ngay trước năm 1945 cũng vậy.
12
Có thể nói, cuốn Việt Nam văn học sử yếu của Dương Quảng Hàm,
cuốn sách cho đến nay vẫn đánh giá cao, là một công trình viết theo
tinh thần tích hợp. Nói vậy không phải SGK hiện nay là sự lặp lại đơn
giản mô hình các loại SGK trước đây.
1.1.2. Ưu việt của việc dạy học Ngữ văn ở THCS theo quan điểm
tích hợp
Thực tiễn đã chứng tỏ rằng, việc thực hiện quan điểm tích hợp
trong giáo dục và dạy học sẽ giúp phát triển những năng lực giải quyết
những vấn đề phức tạp và làm cho việc học tập trở nên có ý nghĩa hơn
Ngữ văn là cách thức để khắc phục, hạn chế lối dạy học đó nhằm nâng cao năng
lực sử dụng những kiến thức và kĩ năng mà học sinh lĩnh hội được, bảo đảm cho
mỗi HS khả năng huy động có hiệu quả kiến thức và kĩ năng của mình để giải
quyết những tình huống có ý nghĩa, cũng có khi là một tình huống khó khăn, bất
ngờ, một tình huống chưa từng gặp. Mặt khác, tránh được nội dung, kiến thức và kĩ
năng trùng lặp, đồng thời lĩnh hội những nội dung, tri thức và năng lực mà mỗi
môn học hay phân môn riêng rẽ không có.
Dạy học lấy người học làm trung tâm được xem là phương pháp
đáp ứng yêu cầu cơ bản của mục tiêu giáo dục nhất là đối với bật trung
học cơ sở, có khả năng định hướng việc tổ chức quá trình dạy học thành
quá trình tự học, quá trình cá nhân hóa người học. Dạy học lấy người
học làm trung tâm đòi hỏi người học là chủ thể của hoạt động học, phải
tự học, tự nghiên cứu để tìm ra kiến thức bằng hành động của mình.
Người học không chỉ được đặt trước những kiến thức có sẵn ở trong bài
giảng của giáo viên mà phải tự đặt mình vào tình huống có vấn đề của
14
thực tiễn, từ đó tự mình tìm ra cái chưa biết, cái cần khám phá. Học để
hành, hành để học, tức là tự tìm kiếm kiến thức.
Trong dạy học lấy người học làm trung tâm đòi hỏi người học tự
thể hiện mình, phát triển năng lực làm việc nhóm, hợp tác với nhóm,
với lớp. Sự làm việc theo nhóm này sẽ đưa ra cách thức giải quyết đầy
tính sáng tạo, kích thích các thành viên trong nhóm hăng hái tham gia
giải quyết vấn đề. Sự hợp tác giữa người học với người học là hết sức
quan trọng nhưng vẫn chỉ là ngoại lực, điều quan trọng nhất là cần phải
phát huy nội lực là tính chủ động nỗ lực tìm kiếm kiến thức của người
học. Người dạy là người tổ chức và hướng dẫn quá trình học tập, đạo
diễn cho người học tự tìm kiếm kiến thức và phương thức tìm kiếm
kiến thức bằng hành động của chính mình. Người dạy phải dạy cái mà
người học cần vì các doanh nghiệp đang đòi hỏi để đáp ứng nhu cầu
nguồn nhân lực có chất lượng cao cho nền kinh tế- xã hội chứ không
dựa trên sự thống nhất nội tại các thành phần liên kết, chứ không
phải sự sắp đặt các thành phần bên cạnh nhau. Không thể gọi là tích
hợp nếu các tri thức, kĩ năng chỉ được thụ đắc, tác động một cách
riêng rẽ, không có sự liên kết, phối hợp với nhau trong lĩnh hội nội
dung hay giải quyết một vấn đề, tình huống.
Trong lí luận dạy học, tích hợp được hiểu là sự kết hợp một cách
hữu cơ, có hệ thống, ở những mức độ khác nhau, các kiến thức, kĩ năng
thuộc các môn học khác nhau hoặc các hợp phần của bộ môn thành một
nội dung thống nhất, dựa trên cơ sở các mối liên hệ về lí luận và thực
tiễn được đề cập đến trong các môn học hoặc các hợp phần của bộ môn
đó. Trong Chương trình THPT, môn Ngữ văn, năm 2002 của Bộ Giáo
16
dục và Đào tạo, khái niệm tích hợp được hiểu là “sự phối hợp các tri
thức gần gũi, có quan hệ mật thiết với nhau trong thực tiễn, để chúng
hỗ trợ và tác động vào nhau, phối hợp với nhau nhằm tạo nên kết quả
tổng hợp nhanh chóng”. Việc vận dụng quan điểm tích hợp vào dạy học
Ngữ văn ở trường THPT chẳng những dựa trên cơ sở các mối liên hệ về
lí luận và thực tiễn được đề cập trong các phân môn Văn học, Tiếng
Việt, Làm văn cũng như các bộ phận tri thức khác như hiểu biết lịch sử
xã hội, văn hoá nghệ thuật mà còn xuất phát từ đòi hỏi thực tế là cần
phải khắc phục, xoá bỏ lối dạy học theo kiểu khép kín, tách biệt thế
giới nhà trường và thế giới cuộc sống, cô lập giữa những kiến thức và
kĩ năng vốn có liên hệ, bổ sung cho nhau, tách rời kiến thức với các
tình huống có ý nghĩa, những tình huống cụ thể mà HS sẽ gặp sau này.
Nói khác đi, đó là lối dạy học khép kín “trong nội bộ phân môn”, biệt
lập các bộ phận Văn học, Tiếng Việt và Làm văn vốn có quan hệ gần
gũi về bản chất, nội dung và kĩ năng cũng như mục tiêu, đủ cho phép
phối hợp, liên kết nhằm tạo ra những đóng góp bổ sung cho nhau cả về
lí luận và thực tiễn, đem lại kết quả tổng hợp và vững chắc trong việc
giải quyết những tình huống tích hợp hoặc vận dụng quan điểm tích hợp
học Ngữ văn theo quan điểm tích hợp không chỉ chú trọng nội dung
kiến thức tích hợp mà cần thiết phải xây dựng một hệ thống việc làm,
thao tác tương ứng nhằm tổ chức, dẫn dắt HS từng bước thực hiện để
chiếm lĩnh đối tượng học tập, nội dung môn học, đồng thời hình thành
và phát triển năng lực, kĩ năng tích hợp, tránh áp đặt một cách làm duy
nhất.Giờ học Ngữ văn theo quan điểm tích hợp phải là một giờ học hoạt
động phức hợp đòi hỏi sự tích hợp các kĩ năng, năng lực liên môn để
giải quyết nội dung tích hợp, chứ không phải sự tác động các hoạt
18
động, kĩ năng riêng rẽ lên một nội dung riêng rẽ thuộc “nội bộ phân
môn”. Dạy học theo quan điểm tích hợp đòi hỏi phải biến giờ “giảng
văn” thành giờ dạy kĩ năng đọc hiểu cho HS, hướng tới làm cho các em
có năng lực đọc hiểu bất kì văn bản nào.
Khái niệm đọc hiểu là một trong những khái niệm cơ bản làm cơ
sở cho việc dạy học tác phẩm văn chương ở THCS theo quan điểm
tích hợp, là một trong những năng lực tối thiểu cần hình thành và
phát triển cho HS. Khái niệm đọc hiểu nói lên hoạt động của HS phải
được thay thế cho khái niệm giảng văn chỉ nói lên hoạt động của
người thầy theo quan điểm “lấy người dạy làm trung tâm”. Dĩ nhiên ở
đây không hề triệt tiêu yếu tố “giảng” của người thầy, một yếu tố vốn
có vai trò kích thích hứng thú đọc hiểu cho HS, nếu được sử dụng
thích đáng, mà là để nhấn mạnh hoạt động đọc hiểu của trò, được coi
là hoạt động trung tâm của quá trình dạy học tác phẩm văn chương.
Hoạt động đọc hiểu trong nhà trường phải được thiết kế và thực hiện
theo một trình tự qua các giai đoạn và ở những mức độ khác nhau: từ
dễ đến khó, từ thấp đến cao, từ hẹp đến rộng, từ đọc tích luỹ đến đọc
hiểu, từ đọc đánh giá đến đọc sáng tạo
Cần tìm hiểu giá trị của tác phẩm thông qua những yếu tố nằm
trong văn bản, thuộc về cấu trúc văn bản; đồng thời, hướng dẫn HS vận
dụng những yếu tố ngoài văn bản để soi sáng cho các kết quả phân tích
người giáo viên không bao giờ áp đặt cách hiểu duy nhất của mình,
không độc tôn một ý kiến, một nhận xét của một cá nhân nào đó, mà
luôn kêu gọi, gợi mở để mỗi HS tự nêu lên những nhận xét, cảm nhận
của chính cá nhân mình. Những kết quả tiếp nhận của HS không phải
bao giờ cũng trùng khít lên ý nghĩa khách quan và ý đồ, tư tưởng của
20
chủ thể sáng tạo, nhưng nó cũng không đi ngược hẳn với các giá trị đó.
Kết quả tiếp nhận có thể khác nhau rất xa, nhưng vẫn cùng hướng, cùng
chiều
Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Nguyễn Vinh Hiển cho rằng
dạy học tích hợp sẽ mang lại nhiều lợi ích như giúp học sinh áp dụng
được nhiều kỹ năng, nền tảng kiến thức tích hợp giúp việc tìm kiếm
thông tin nhanh hơn, khuyến khích việc học sâu và rộng, thúc đẩy thái
độ học tập tích cực đối với học sinh. Thay đổi cách dạy này không gây
ra sự xáo trộn về số lượng và cơ cấu giáo viên, không nhất thiết phải
đào tạo lại mà chỉ cần bồi dưỡng một số chuyên đề dạy học tích
hợp. Không đòi hỏi phải tăng cường quá nhiều về cơ sở vật chất và
thiết bị dạy học.
1.2. Điều tra về việc dạy học văn học Việt Nam trung đại theo
quan điểm tích hợp
1.2.1. Thực trạng dạy học văn học Việt Nam trung đại
Văn học trung đại là những bông hoa rực rỡ nhất trong vườn văn
học nước nhà, nó góp phần làm cho nền văn học Việt Nam phong phú.
Để thưởng thức hương thơm và vẻ đẹp của nó thật không dễ chút nào,
đòi hỏi người đọc phải có đầy đủ vốn hiểu biết về lịch sử thời đại, vốn
chữ nghĩa, khả năng cảm thụ sâu sắc. Văn học Việt Nam trung đại được
đưa vào nhà trường một mặt giúp các em hiểu được tiến trình phát triển
của nền văn học nước nhà qua các thời kì nhưng mong muốn hơn hết là
giúp các em thấy được giá trị, cảm nhận và yêu thích những hòn ngọc
ngàn đời vẫn sáng này. Đó là mong muốn của bất kì giáo viên nào.
thì vô tình đã triệt tiêu mất khả năng tư duy sáng tạo, khả năng tưởng
tượng phong phú ở các em.
22