Dạy học nhóm bài hội thoại cho học sinh trung học cơ sở theo quan điểm giao tiếp - Pdf 52

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

LÂM THỊ THU

DẠY HỌC NHÓM BÀI HỘI THOẠI CHO HỌC SINH
TRUNG HỌC CƠ SỞ THEO QUAN ĐIỂM GIAO TIẾP

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Thái Nguyên - 2015


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

LÂM THỊ THU

DẠY HỌC NHÓM BÀI HỘI THOẠI CHO HỌC SINH
TRUNG HỌC CƠ SỞ THEO QUAN ĐIỂM GIAO TIẾP

Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy học bộ môn Văn - Tiếng
Việt

Mã số : 60.14.01.11

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học: GS.TS. Lê A

Thái Nguyên - 2015

Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới gia đình, bạn bè đã động viên,
quan tâm, chia sẻ và tạo điều kiện giúp tôi hoàn thành tốt luận văn này.
Thái Nguyên, tháng 5 năm 2015
Tác giả

Lâm Thị Thu

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu ĐHTN

2

tnu.edu.vn/


Trang
Trang bìa phụ
........................................................................................................ i

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu ĐHTN

3

tnu.edu.vn/


........................................................................................................... ii
Mục lục .............................................................................................................. iii
Danh mục từ viết tắt ........................................................................................... iv
Danh mục các bảng biểu .................................................................................... v
MỞ ĐẦU ..............................................................................................................1


Chương 2. TỔ CHỨC DẠY HỌC NHÓM BÀI HỘI THOẠI CHO HỌC
SINH THCS THEO QUAN ĐIỂM GIAO TIẾP ...........................................32
2.1. Dạy học lí thuyết về hội thoại theo quan điểm giao tiếp .............................32
2.1.1. Mục tiêu dạy học lí thuyết nhóm bài hội thoại theo quan điểm giao tiếp
......32
2.1.2. Nội dung dạy học nhóm bài hội thoại theo quan điểm giao tiếp..............33
2.1.3. Một số phương pháp dạy học lí thuyết hội thoại theo quan điểm giao tiếp
...35
2.2. Dạy học thực hành hội thoại theo quan điểm giao tiếp ...............................40
2.2.1. Mục tiêu dạy học thực hành hội thoại theo quan điểm giao tiếp .............40
2.2.2. Bài tập - Phương tiện luyện tập hội thoại theo quan điểm giao tiếp ........41
2.3. Kiểm tra, đánh giá kết quả học hội thoại của học sinh theo quan điểm giao
tiếp ..50
2.3.1. Mục đích kiểm tra, đánh giá .....................................................................51
2.3.2. Nội dung kiểm tra, đánh giá .....................................................................51
2.3.3. Hình thức kiểm tra, đánh giá ....................................................................52
Tiểu kết chương 2: ..............................................................................................59
Chương 3. THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM........................................................61
3.1. Mục đích và yêu cầu thực nghiệm...............................................................61
3.1.1. Mục đích thực nghiệm ..............................................................................61
3.1.2. Yêu cầu thực nghiệm ................................................................................61
3.2. Đối tượng, địa bàn, thời gian thực nghiệm..................................................62
3.2.1. Đối tượng thực nghiệm.............................................................................62
3.2.2. Địa bàn thực nghiệm.................................................................................62
3.2.3. Thời gian thực nghiệm..............................................................................62
3.3. Nội dung thực nghiệm .................................................................................63
3.3.1. Thực nghiệm thăm dò ...............................................................................63
3.3.2. Thực nghiệm dạy học ...............................................................................63
3.4. Phân tích và đánh giá kết quả thực nghiệm .................................................77


Giáo viên

2

HS

Học sinh

3

Nxb

Nhà xuất bản

4

SGK

Sách giáo khoa

5

THCS

Trung học cơ sở

6

TNKQ




Bảng 2.1 Ma trận hai chiều ................................................................................ 53
Bảng 2.2. Đánh giá hoạt động của các nhóm ..................................................... 58
Bảng 2.3. Bảng tự đánh giá của học sinh ........................................................... 59
Bảng 3.1. Thống kê các lớp thực nghiệm và đối chứng..................................... 62
Bảng 3.2. Kĩ thuật KWL .................................................................................... 66
Bảng 3.3. Tổng hợp kết quả thực nghiệm của học sinh ..................................... 78
Biểu đồ 3.1. Kết quả thực nghiệm - số lượng .................................................... 79
Biểu đồ 3.2 Kết quả thực nghiệm - % ................................................................ 80

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN v

/>

MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Đề tài “Dạy học nhóm bài hội thoại cho học sinh trung học cơ sở theo
quan điểm giao tiếp” xuất phát từ các lí do chủ yếu sau:
1.1. Quan điểm giao tiếp chi phối toàn bộ quá trình dạy học tiếng Việt
trong nhà trường phổ thông
Dạy học tiếng Việt theo quan điểm giao tiếp là ý kiến của rất nhiều tác
giả. Bởi ngôn ngữ là phương tiện quan trọng nhất và học sinh sử dụng ngôn
ngữ cho hoạt động giao tiếp của mình. Tác giả Vũ Thị Thanh Hương khẳng
định: “Có thể nói, trong tất cả các tài liệu về chương trình mà chúng tôi tiếp
cận cho đến bây giờ, quan điểm giao tiếp là sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ mục
tiêu giảng dạy tiếng Việt ở tất cả các cấp trong nhà trường phổ thông hiện
nay”. [18, tr.10] Tác giả Lê A cũng đồng quan điểm: “Chọn hoạt động giao
tiếp làm đối tượng dạy học chẳng những không bỏ qua tri thức Việt ngữ mà còn

học. Đẩy mạnh ứng dụng Công nghệ thông tin – truyền thông trong dạy và học.
Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2011 – 2020 ban hành kèm theo
Quyết định 711/QĐ – TTg ngày 13/6/2012 của Thủ tướng Chính phủ chỉ rõ:
tiếp tục đổi mới phương pháp dạy học và đánh giá kết quả học tập, rèn luyện
theo hướng phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo và năng lực tự
học của người học; đổi mới kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông, kì thi tuyển
sinh đại học, cao đẳng theo hướng đảm bảo thiết thực, hiệu quả, khách quan và
công bằng, kết hợp kết quả kiểm tra, đánh giá trong quá trình giáo dục với kết
quả thi.
Hội thoại là nhóm bài học quan trọng, nó có mặt trong giao tiếp hàng
ngày của mỗi con người chúng ta. Định hướng giáo dục hiện nay là hướng tới
phát triển năng lực cho học sinh vậy khi đưa nhóm bài hội thoại vào dạy là
hoàn toàn phù hợp. Với các tri thức học được về hội thoại, học sinh có thể áp
dụng tri thức đó vào các môn học khác cũng như vào việc giao tiếp hàng ngày
với các kĩ năng nghe, nói, đọc, viết, kĩ năng tạo lập hội thoại sao cho cuộc giao
tiếp đạt hiệu quả cao nhất.


1.3. Dạy học theo quan điểm giao tiếp phù hợp và góp phần nâng cao hiệu
quả các bài học về hội thoại
Giao tiếp là quá trình trao đổi thông tin giữa người nói và người nghe
nhằm một mục đích nào đó: trao đổi thông tin, tiếp xúc tâm lí, hiểu biết, tác
động và ảnh hưởng lẫn nhau. Có hai dạng giao tiếp cơ bản đó là dạng nói và
dạng viết. Thông thường, con người sử dụng giao tiếp dạng nói là phổ biến và
hội thoại chiếm tỉ lệ lớn trong việc sử dụng ngôn ngữ.
Như đã nói, hội thoại là dạng điển hình của hoạt động giao tiếp nói, nếu
lấy giao tiếp làm quan điểm để dạy học hội thoại thì càng phát huy được tối đa
hiệu quả của nhóm bài hội thoại, sẽ vận dụng tất cả những lý thuyết hội thoại
vào thực tiễn cuộc sống: từ việc xác định được vai quan hệ trong giao tiếp,
không mắc phải các phép lịch sự trong giao tiếp, không tranh, cướp lượt lời,

Trong tạp chí ngôn ngữ số 4 năm 2001, tác giả Lê A nhận xét chung về
việc học tiếng Việt của các em học sinh: “Năng lực tiếng Việt của các em còn
nhiều non yếu, không đáp ứng được yêu cầu giao tiếp trong công việc học tập
cũng như trong lĩnh vực giao tiếp xã hội”. [3, tr. 62] Từ đó ông chỉ ra: “Chọn
hoạt động giao tiếp làm đối tượng dạy học chẳng những không bỏ qua các tri
thức Việt ngữ mà còn góp phần làm cho những tri thức ấy linh hoạt, phong phú
hơn và gần với thực tế cuộc sống hơn”. [3, tr. 62]
Tác giả Lê A lại một lần nữa khẳng định vai trò quan trọng của phương
pháp giao tiếp khi đưa vào dạy học tiếng Việt: “Phương pháp giao tiếp là
phương pháp quan trọng trong việc tổ chức dạy học tiếng Việt. Phương pháp
giao tiếp là phương pháp hướng dẫn học sinh vận dụng lí thuyết được học
vào thực hiện các nhiệm vụ của quá trình giao tiếp, có chú ý đến đặc điểm
và các nhân tố tham gia vào hoạt động giao tiếp. Trên tinh thần này, phương
pháp giao tiếp trở thành phương pháp chủ yếu để phát triển lời nói cho học
sinh”. [1, tr. 69 - 70]


Vũ Thị Thanh Hương sau khi đi nghiên cứu ý kiến của các học giả về
năng lực giao tiếp đã đưa ra nhận xét: “Quan điểm giao tiếp là sợi chỉ đỏ xuyên
suốt toàn bộ mục tiêu giảng dạy tiếng Việt ở tất cả các cấp trong nhà trường
phổ thông hiện nay”. [18, tr. 10]
Ngoài ra, còn có bài viết Nâng cao năng lực giao tiếp cho người học
tiếng Việt (Nguyễn Chí Hòa) [15]…Nhìn chung, các tác giả đều khẳng định vai
trò quan trọng của quan điểm giao tiếp trong việc dạy học tiếng Việt.
3.2. Nghiên cứu về dạy học hội thoại theo quan điểm giao tiếp
Hội thoại là nội dung dạy học được đưa vào trong chương trình sách giáo
khoa Ngữ văn trung học cơ sở. Đến nay cũng đã có công trình nghiên cứu
“Dạy học nhóm bài ngữ dụng học ở trung học cơ sở theo quan điểm giao tiếp”
của tác giả Lê Thị Minh Nguyệt, trong đó bao gồm nhóm bài hội thoại. Tuy
nhiên, chúng tôi muốn đi sâu vào nghiên cứu riêng nhóm bài hội thoại để có cái

pháp này chúng tôi tiến hành điều tra, khảo sát cụ thể như sau:
- Điều tra chất lượng dạy học nhóm bài hội thoại ở trung học cơ sở.
- Khả năng tạo lập hội thoại của học sinh trong hoạt động giao tiếp.
- Năng lực tổ chức hoạt động dạy học nhóm bài hội thoại ở trung học cơ
sở. Dựa trên kết quả khảo sát, chúng tôi đề xuất phương pháp, hình thức tổ
chức
dạy học nhóm bài hội thoại cho học sinh trung học cơ sở theo quan điểm giao
tiếp.
5.3. Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Phương pháp này dùng để xem xét, xác nhận tính đúng đắn, hợp lý và
tính khả thi của việc dạy học nhóm bài hội thoại cho học sinh trung học cơ sở
theo quan điểm giao tiếp mà luận văn đề xuất. Phương tiện chủ yếu để trắc
nghiệm là các phiếu điều tra với nội dung và hình thức khác nhau, hướng tới
đích điều tra về trình độ tư duy, kết quả học tập của học sinh.


Các loại thực nghiệm sư phạm cơ bản được sử dụng trong luận văn là:
- Thực nghiệm thăm dò: nhằm tìm hiểu khả năng và kết quả thực hiện
các tiết dạy học nhóm bài hội thoại cho học sinh trung học cơ sở.
- Thực nghiệm đối chứng: được sử dụng để kiểm tra các giả thuyết của


đề tài.
- Thực nghiệm kiểm tra, đánh giá: nhằm kiểm tra, đánh giá việc vẫn
dụng các thiết kế mà luận văn đưa ra vào các bài dạy, tiết dạy cụ thể.
Tổ chức dạy thực nghiệm nhằm xác định tính hiệu quả, tính khả thi của
việc tổ chức dạy học nhóm bài hội thoại cho học sinh trung học cơ sở theo quan
điểm giao tiếp. Tiến hành thực nghiệm ở một số lớp trung học cơ sở thuộc
tỉnh Quảng Ninh. Kết quả thực nghiệm sẽ là cơ sở để xác định mô hình thiế t
kế hiệu quả nhất cho giờ dạy học nhóm bài hội thoại cho học sinh trung học

CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA DẠY HỌC NHÓM
BÀI HỘI THOẠI Ở THCS THEO QUAN ĐIỂM GIAO TIẾP
1.1. Một số nội dung cơ bản vủa lý thuyết hội thoại
“Hội thoại là hình thức giao tiếp thường xuyên và phổ biến của ngôn
ngữ, nó cũng là hình thức cơ sở của mọi hoạt động ngôn ngữ khác”. [8, tr. 201]
Khi nghiên cứu về hội thoại, các tác giả thường tập trung vào những nội dung
sau:
1.1.1. Vận động hội thoại
Trong một cuộc hội thoại nào cũng có ba vận động: sự trao lời, sự trao
đáp, sự tương tác.
1.1.1.1. Sự trao lời
Trao lời là vận động mà người nói (Sp1) nói lượt lời của mình ra và
hướng lượt lời của mình về phía người nghe (Sp2) làm Sp2 biết được đó là lời
nói dành cho Sp2.
Ví dụ:
Trong bữa tiệc sinh nhật của Hoa, Hoa nói với Cường:
- Cậu lên hát tặng tờ một bài đi.
Ở ví dụ trên là lời của Hoa (Sp1) nói và đề nghị Cường (Sp2) hát tặng
mình một bài hát.
Trong một cuộc hội thoại bình thường thì Sp1 khác Sp2, nhưng trong
trường hợp độc thoại (khác với đơn thoại) thì người nói vừa là Sp1, vừa là Sp2.
Người nói có sự phân đôi nhân cách, đóng vai trò hai người khác nhau.
Sự trao lời thì Sp1 sẽ luôn luôn tồn tại, nó thể hiện ở từ xưng hô, ở tình
cảm, ở thái độ… Sp1 cũng có thể dùng các vận động (gãi đầu, gãi tai, ôm
ngực…) làm dấu hiệu để đánh dấu sự có mặt của mình. Còn Sp2 cũng luôn có
mặt nhưng có thể trùng hoặc không trùng với Sp1.


Ngay từ lúc trao lời, Sp1 đã đưa Sp2 vào lượt, cùng tồn tại với ngôi thứ
nhất xưng “tôi”, luôn kiểm tra và điều hành sự trao lời của Sp1. Chính vì thế,


1.1.1.3. Sự tương tác
Trong cuộc hội thoại, các nhân vật tham gia hội thoại có tác động qua lại
và ảnh hưởng đến nhau. Sở dĩ có sự tương tác như vậy là do: trước khi bắt đầu
hội thoại các bên tham gia (thoại nhân) có sự khác nhau, đối lập về một hoặc
một số mặt như sở thích, tâm lý, lứa tuổi… Nếu không có các mặt đối lập này
thì cuộc hội thoại sẽ trở nên thừa. Nhờ có cuộc hội thoại diễn ra, các thoại nhân
sẽ hiểu nhau hơn, biết tránh những điều không nên nói đối với người nghe,
khoảng cách giữa người nói và người nghe sẽ bị rút ngắn, hai bên sẽ thấu hiểu
nhau hơn. Trên thực tế, vẫn còn tồn tại các cuộc thoại không thành công, làm
người nói, người nghe thậm chí còn xa nhau hơn so với lúc ban đầu thực hiện
hội thoại. Điều này phụ thuộc phần lớn vào sự khéo léo của người nói.
Tương tác là hoạt động chủ yếu trong hội thoại để giúp nhận biết xem
hội thoại đó bắt đầu chưa, đang diễn ra hay là kết thúc rồi. Bởi hội thoại luôn
luôn phải có sự luân phiên lượt lời (tương tác) giữa người nói và người nghe.
Ngữ dụng học khi nghiên cứu về hội thoại cũng nghiên cứu về sự tương tác (có
thể là sự tương tác lời hoặc tương tác không bằng lời) dựa trên một số yếu tố
sau:
Khi thực hiện lượt lời – các bên tham gia hội thoại phải tuân thủ theo các
quy định đặt ra, tránh sự vi phạm lượt lời: người nói đang nói thì người nghe
“cướp lời” hoặc có những cử chỉ không đồng tình như đập bàn, đập ghế, bỏ ra
ngoài… Cũng có trường hợp đi ra ngoài “quỹ đạo” chung, trong trường hợp
người nói đề cập đến một vấn đề nhưng người nghe lại hồi đáp bằng một vấn
đề khác không có liên quan. Không tuân theo “quỹ đạo” của cuộc thoại còn xảy
ra khi mà người nói trao lời đã lâu mà người nghe vẫn không hồi đáp, sự ngắt
quãng dài cũng ảnh hưởng lớn đến cuộc thoại.
Sự tương tác bằng lời hay không bằng lời còn được thể hiện ở khái niệm
cặp kế cận. Trong hội thoại có cặp câu hỏi – trả lời. Cặp kế cận diễn ra để cân
bằng sự tương tác dù bằng lời hay không bằng lời.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status