Dạy đọc hiểu văn bản vợ nhặt của kim lân theo đặc trưng thể loại - Pdf 29


TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
=======***=======
TRỊNH THỊ HƯƠNG GIANG
DẠY ĐỌC - HIỂU VĂN BẢN “VỢ NHẶT”
CỦA KIM LÂN THEO ĐẶC TRƯNG
THỂ LOẠI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Ngữ văn

HÀ NỘI - 2014HÀ NỘI - 2014

LỜI CẢM ƠN Tác giả xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành sâu sắc tới Th.S Trần Hạnh
Phương, người đã luôn quan tâm, động viên và tận tình hướng dẫn tác giả
trong quá trình thực hiện khóa luận này.
Tác giả cũng xin được gửi lời cảm ơn đến các thầy cô giáo trong Tổ
Phương pháp dạy học Ngữ văn cùng tất cả các thầy cô trong khoa Ngữ văn đã
tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình tác giả học tập và nghiên cứu.

Hà Nội, tháng 5 năm 2014
Tác giả Trịnh Thị Hương Giang
LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Khóa luận tốt nghiệp “Dạy đọc – hiểu văn bản
“Vợ nhặt” của Kim Lân theo đặc trưng thể loại” là kết quả nghiên cứu của
riêng tác giả dưới sự hướng dẫn của Th.S Trần Hạnh Phương. Các kết quả
nghiên cứu trong khóa luận là trung thực và chưa được công bố trong bất cứ
công trình nào.

Hà Nội, tháng 5 năm 2014
Tác giả

1.1.3. Quá trình tiếp nhận văn học 9
1.1.4. Bạn đọc với vấn đề tiếp nhận văn học 10
1.2. Thể loại văn học và vấn đề tiếp nhận văn học 11
1.2.1. Vấn đề thể loại 11
1.2.2. Mối quan hệ giữa thể loại văn học và tiếp nhận văn học 13
1.3. Vấn đề đọc – hiểu 13
1.3.1. Khái niệm đọc hiểu 13
1.3.2. Chức năng của đọc - hiểu 14
Chương 2. HƯỚNG DẪN HỌC SINH ĐỌC - HIỂU VĂN BẢN
“VỢ NHẶT ” (KIM LÂN) THEO ĐẶC TRƯNG THỂ LOẠI 17
2.1. Kim Lân và vị trí của Kim Lân trong đời sống văn học và trong nhà
trường THPT 17
2.1.1. Cuộc đời và sự nghiệp của nhà văn Kim Lân 17
2.1.2. Vị trí của Kim Lân trong đời sống văn học và trong nhà trường. . 18
2.2. Đặc trưng thể loại tự sự trong “Vợ nhặt ” (Kim Lâm) 19
2.2.1. Cốt truyện 19
2.2.2. Nhân vật 24
2.2.3. Ngôn ngữ 31
2.3. Hướng dẫn đọc - hiểu văn bản “Vợ nhặt” theo đặc trưng thể loại. 35
2.3.1. Hướng dẫn đọc – hiểu cốt truyện 35
2.3.2. Hướng dẫn học sinh đọc - hiểu nhân vật 38
2.3.3. Hướng dẫn học sinh đọc – hiểu ngôn ngữ truyện. 44
Chương 3. GIÁO ÁN THỰC NGHIỆM 46
KẾT LUẬN 59
TÀI LIỆU THAM KHẢO

móc. Từ đó sẽ dẫn đến thói quen lười suy nghĩ, lười tư duy, thiếu sáng tạo…
Vì vậy vấn đề cấp thiết luôn được đặt ra là phải thường xuyên đổi mới
phương pháp dạy học. Trong đó dạy học Ngữ văn theo hướng đọc - hiểu được
xem là giải pháp hữu hiệu góp phần cải thiện và nâng cao chất lượng dạy và
học Ngữ văn ở trườngTHPT
Theo tinh thần đổi mới, cấu trúc chương trình và nội dung SGK được
sắp xếp theo trục thể loại là chính. Vì vậy hướng dẫn học sinh đọc - hiểu văn
bản Ngữ văn theo đặc trưng thể loại là một trong những hướng đi có nhiều ưu
thế. Nó không chỉ cung cấp cho học sinh những kiến thức cụ thể của từng bài
mà còn là cơ sở giúp các em nắm được những kiến thức chung để có thể
đọc -hiểu bất cứ một văn bản nào khác cùng thể loại.
Kim Lân là một trong những nhà văn xuất sắc của nền văn học hiện đại
Việt Nam. Là một cây bút viết truyện ngắn tài năng, ông đã để lại những sáng
tác mang ý nghĩa to lớn về cả mặt nội dung và nghệ thuật. Nghiên cứu những
đặc điểm truyện ngắn của nhà văn Kim Lân, người viết mong muốn những
kiến thức này sẽ là cơ sở nền tảng góp phần quan trọng vào dạy đọc - hiểu văn
bản “Vợ nhặt” ở nhà trường THPT theo đặc trưng thể loại.
2. Lịch sử vấn đề
2.1. Các công trình nghiên cứu về đọc - hiểu
Nghiên cứu hoạt động đọc trong tài liệu dịch trước hết phải kể đến
những công trình “Phương pháp giảng dạy văn học ở trường phổ thông”
của V.A.Nhikônski. Tác giả đã đưa ra những ý kiến cá nhân về thủ thuật và
phương pháp “đọc diễn cảm”, đọc bình giá của giáo viên cũng như tác dụng
của các phương pháp đó đối với việc tiếp nhận tác phẩm ở học sinh.
Tác giả cuốn giáo trình “Phương pháp luận dạy văn học” do Ia. Rez
(chủ biên) đã đặt phương pháp tập đọc sáng tạo ở vị trí hàng đầu như là
phương pháp đặc biệt nhất đối với văn học. Không đề xuất khái niệm khoa
3


các tác phẩm được dạy nhà trường phổ thông. Những công trình này có ý
nghĩa quan trọng trong việc hệ thống, liên kết các vấn đề lí luận với thực tiễn
dạy học văn theo loại thể.
Trong “Vấn đề giảng dạy văn học theo loại thể”, Trần Thanh Đạm đã
giới thiệu nhiều kiến thức cơ bản về các loại, các thể văn học có liên quan đến
chương trình cấp III. Từ đó giới thiệu phương pháp vận dụng đặc trưng các
loại thể vào việc giảng dạy các tác phẩm văn chương trong chương trình phổ
thông.
Các công trình “Phương pháp dạy học văn” do Phan Trọng Luận
(chủ biên), “Phân tích các tác phẩm văn học trong nhà trường” của Phan
Trọng Luận, “Đổi mới phương pháp dạy học Văn - Tiếng Việt ở trường phổ
thông” của Nguyễn Trí - Nguyễn Trọng Hoàn đã cung cấp cho giáo viên
những kiến thức lí luận và phương pháp dạy học văn cơ bản.
Với cuốn “Những ngả đường vào văn học”, Hoàng Ngọc Hiến đi từ
những khái luận đến việc đọc tác phẩm và phân tích tác phẩm. Trong đó có
những bài viết hữu ích cho việc dạy tác phẩm văn chương theo loại thể trong
nhà trường như: “Bàn góp về phương pháp giảng văn”, “Một ít lí thuyết về
trào phúng”, “Mấy vấn đề của tiểu thuyết và đặc trưng của thể loại này”,
“Đặc điểm của truyện ngắn hiện đại”.
Như vậy, có thể nói những công trình nghiên cứu trên đã có những
đóng góp quan trọng vào việc dạy - học Ngữ văn ở nhà trường THPT theo đặc
trưng thể loại.
2.3. Các công trình nghiên cứu về Kim Lân
- Nguyễn Đăng Mạnh trong “Tổng tập văn học Việt Nam” đã có những
trang viết đặc sắc về tài năng nghệ thuật của Kim Lân
- Sau đó trong “Tuyển tập Kim Lân” - 1996 nhà nghiên cứu Lữ Huy
5

Nguyên đã đưa ra nhận xét rất chính đáng về toàn bộ truyện ngắn Kim Lân.
- Ngoài ra cũng đã có một số luận văn thạc sĩ đã bàn về phong cách nghệ

6. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp phân tích
- Phương pháp thống kê, tổng hợp
- Phương pháp so sánh
- Phương pháp thực nghiệm
7. Dự kiến đóng góp của khóa luận
- Làm rõ những đặc điểm truyện ngắn văn bản “Vợ nhặt” của Kim Lân
- Giúp cho người giáo viên thuận lợi hơn trong việc thiết kế bài học theo
hướng tổ chức cho học sinh để học sinh tích cực, chủ động. Từ đó, góp phần
vào việc nâng cao chất lượng đọc - hiểu các văn bản văn chương trong nhà
trường phổ thông nói chung và văn bản “Vợ nhặt” nói riêng.
8. Cấu trúc của khóa luận
Gồm 3 phần:
Mở đầu
Nội dung: Gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lí luận chung
Chương 2: Hướng dẫn học sinh đọc – hiểu văn bản
“Vợ nhặt” của Kim Lân theo đặc trưng thể loại.
Chương 3: Giáo án thực nghiệm
Kết luận

7

Chương 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CHUNG

1.1. Tiếp nhận văn học
1.1.1. Khái niệm
Theo “Từ điển thuật ngữ văn học” tiếp nhận văn học là “Hoạt động
chiếm lĩnh giá trị tư tưởng thẩm mĩ của tác phẩm văn học. Bắt đầu từ sự cảm
thụ văn bản ngôn từ, hình tượng nghệ thuật, tư tưởng cảm hứng, quan niệm

hưởng tích cực của hình tượng văn học, quá trình tiếp nhận hướng con người
vào quy luật vân động của cái đẹp và kiến tạo thế giới tinh thần phong phú và
đa dạng.
Nếu đặc thù của quá trình sáng tạo văn học là các giai đoạn tồn tại
hình tượng nghệ thuật thì đặc thù của quá trình tiếp nhận văn học là quá trình
đi ngược lại quá trình sáng tác. Ở đó, người đọc phải bắt đầu từ việc đọc tác
phẩm, từ những yếu tố nhỏ nhất trong văn bản như âm vị, câu, thu nhận ý
nghĩa của toàn bộ văn bản, chuyển nội dung văn bản thành ý nghĩa tinh thần
của mỗi người. Trong quá trình này người đọc chia sẻ, tìm ra những tính chất
thẩm mĩ quan trọng như tính chân thực và chói sáng của ngôn ngữ nghệ thuật,
sự thống nhất nội tại trong kết cấu, tính độc đáo của những phát hiện chân lí
của sự phản ánh, trọng lượng của xung đột, đặc trưng thi pháp thể loại, quan
niệm nghệ thuật về con người của tác giả.
Sự tiếp nhận văn học là một vấn đề phức tạp. Không phải mọi sự sử
dụng tác phẩm đều được coi là “tiếp nhận văn học”. Bởi văn học là một sản
phẩm tinh thần, kết tinh những kinh nghiệm, tư tưởng, tình cảm của con
người trước một cuộc sống nhất định. Nó trở thành một thế giới tinh thần
phong phú. Chỉ khi nào sử dụng đến thế giới tinh thần đó thì mới coi là tiếp
nhận văn học toàn vẹn.
9

Quy luật của tiếp nhận văn học là phải cảm thụ tác phẩm trên tính tổng
thể. Tiếp nhận đòi hỏi người đọc trước hết phải biết tri giác, cảm thụ tác
phẩm, phải hiểu ngôn ngữ, tình tiết, cốt truyện, thể loại để có thể cảm nhận
được hình tượng trong toàn vẹn các chi tiết, các liên hệ. Cấp độ thứ hai, người
đọc tiếp xúc với ý đồ sáng tạo của nghệ sĩ, thâm nhập vào hệ thống hình
tượng như là sự kết tinh sâu sắc của tư tưởng và tình cảm tác giả. Cấp độ thứ
ba, đưa hình tượng vào văn cảnh đời sống và bằng kinh nghiệm sống của
mình để thể nghiệm, đồng cảm. Cuối cùng, nâng cấp, lí giải tác phẩm lên cấp
quan niệm và tính hệ thống, hiểu được vị trí tác phẩm trong lịch sử văn học và

sở để tìm hiểu tác phẩm văn học.
1.1.3.4. Hoạt động bình giá
Đây là bước cuối cùng của tiếp nhận văn học, dựa vào các kết quả thu
được từ hoạt động đọc, hoạt động phân tích, hoạt động cắt nghĩa trước đó. Đó
là hoạt động mang tính chủ quan, thể hiện thái độ đánh giá của người đọc,
người đọc có thể tự do bày tỏ ý kiến, những nhận xét, đánh giá chủ quan
mang đậm màu sắc cá nhân về tác phẩm. Hoạt động bình giá hướng tới việc
đi tìm cái mới về nội dung và nghệ thuật trong tác phẩm. Tuy nhiên khi bình
giá cần tránh lối nói phiến diện, xuyên tạc. Việc bình giá phải đảm bảo khoa
học và có trách nhiệm.
Như vậy, có thể thấy quá trình tiếp nhận được tiến hành theo bốn bước:
đọc, phân tích, cắt nghĩa và bình giá. Đây được coi là một quy trình từ thấp
đến cao, từ đơn giản đến phức tạp. Nhờ có quy trình này mà quá trình tiếp
nhận được diễn ra một cách đầy đủ và trọn vẹn.
1.1.4. Bạn đọc với vấn đề tiếp nhận văn học
Hoạt động văn học từ xưa đến nay luôn vận hành qua các khâu hiện
thực - nhà văn - tác phẩm - bạn đọc. Cũng như các mối quan hệ giữa tác phẩm
11

với hiện thực, tác phẩm với nhà văn… thì mối quan hệ giữa tác phẩm và bạn
đọc (sự tiếp nhận văn học của bạn đọc) cũng đã được chú ý. Có thể nói vai trò
của bạn đọc cũng như sự tiếp nhận tác phẩm của họ là rất quan trọng. Trong
cuốn “Lí luận văn học” (tập 1), GS. Phương Lựu đã dẫn ra ý kiến của
Arixtot: “Khi thưởng thức tác phẩm người đọc cảm thấy thú vị, là vì họ vừa
xem, họ vừa đoán định tác phẩm nói đến người và việc nào đó ở ngoại đời…”
[9; 326]. Và đến nửa sau thế kỉ XX, khi nền Mỹ học tiếp nhận hình thành đã
khẳng định một cách thuyết phục vai trò tiếp nhận của bạn đọc đối với tác
phẩm văn học.
Vai trò của người đọc không chỉ là một khâu tất yếu tiếp theo mà còn là
một phương diện hữu cơ trong suốt quá trình sáng tạo nghệ thuật. Nghĩa là

Tự sự: Tự sự dân gian (thần thoại, truyền thuyết, truyện cổ tích, truyện ngụ
ngôn, truyện cười); Tự sự trung đại (truyện và kí); Tự sự hiện đại.
Trữ tình: Trữ tình dân gian (ca dao, câu đố); Trữ tình trung đại và hiện đại
(theo cổ thể truyền thống và thơ tự do).
Kịch: Kịch dân gian (chèo, múa rối); Kịch trung đại (tuồng); Kịch hiện đại (bi
kịch, hài kịch).
1.2.1.2. Thể loại tự sự
Theo “Từ điển tiếng Việt”: “Tự sự là thể loại văn học phản ánh hiện
thực bằng cách kể lại sự việc, miêu tả tính cách thông qua cốt truyện tương
đối hoàn chỉnh” [5; 385]
Theo “Từ điển thuật ngữ văn học”: “Tự sự là phương thức tái hiện đời
sống bên cạnh hai phương diện trữ tình và kịch, được dùng làm cơ sở để phân
loại tác phẩm văn học” [3; 385]
Theo SGK “Ngữ văn 10” (tập 1): “Tự sự (kể chuyện) là phương thức
trình bày một chuỗi các sự việc, sự việc này dẫn đến sự việc kia, cuối cùng
dẫn đến một kết luận, thể hiện một ý nghĩa” [14; 61]
13

Như vậy tự sự là loại tác phẩm văn học tái hiện trực tiếp hiện thực
khách quan như một cái gì tách biệt ở bên ngoài đối với tác giả thành một câu
chuyện có sự diễn biến của sự việc, của hoàn cảnh, có sự phát triển của tâm
trạng, tính cách hành động của con người.
1.2.2. Mối quan hệ giữa thể loại văn học và tiếp nhận văn học
Trước hết việc phân chia thể loại tác phẩm văn học thành loại thể
không phải chỉ do nhu cầu tư duy. Con người ta bao giờ cũng muốn phân chia
sự vật thành thể loại cho dễ nhận thức, mà trước tiên do nhu cầu tất yếu của
việc cảm thụ và lĩnh hội tác phẩm văn học và từ đó hình thành mục đích của
việc phê bình nghiên cứu giảng dạy các tác phẩm văn học. Việc phân chia văn
học ra thành loại thể, như trên đã nói là kết quả của sự trừu tượng hóa, khái
quát hóa thực tế các tác phẩm sinh động, ngược lại kết quả đó lại giúp sự phân

mang tính chất đối diện một mình, đối diện với văn bản. Nó có cái hay là ở
tập trung tích đọng và lắng kết năng lực cá nhân. Đây là hoạt động thu nạp,
tỏa sáng âm thầm với sức mạnh nội hóa kinh nghiệm sống, kinh nghiệm lịch
sử, kinh nghiệm nghệ thuật và kinh nghiệm văn hóa trong cấu trúc tinh thần
cá thể” [4 ; 22].
Hiểu một cách ngắn gọn thì đọc hiểu là một quá trình mà người đọc
bằng hoạt động thực hiện mục đích của việc đọc.
Trong dạy học Ngữ văn hiện nay, đọc - hiểu được coi là một phương
pháp dạy học đặc thù. Tuy nhiên để hoạt động này diễn ra đúng ý nghĩa trong
quá trình dạy học, giáo viên phải tổ chức cho học sinh khám phá được nội
dung tư tưởng nghệ thuật của tác phẩm để có thể vận dụng vào việc phân tích
tác phẩm và tự rút ra cho mình những bài học kinh nghiệm quý báu.
1.3.2. Chức năng của đọc - hiểu
Trong thời đại bùng nổ công nghệ thông tin như hiện nay, con người có
15

rất nhiều cách để tiếp cận tác phẩm văn học. Trong đó đọc - hiểu là con đường
hữu hiệu giúp bạn đọc chiếm lĩnh tác phẩm bởi văn chương là loại hình nghệ
thuật ngôn từ nên chỉ đọc mới có thể giúp bạn đọc chiếm lĩnh những giá trị và
ý nghĩa của tác phẩm. Ở đó, người đọc sẽ tìm thấy những vấn đề cuộc sống
mà tác phẩm đề cập đến, có thể là những kiểu người, những cái nhìn, những
cách đánh giá, giải thích vấn đề được đặt ra trong tác phẩm. Nó giúp người
đọc có thể mở rộng tầm hiểu biết, nâng cao vốn tri thức.
Người đọc bằng những hiểu biết của mình sẽ chuyển hóa các kí hiệu
ngôn ngữ trong văn bản thành những thông tin thẩm mĩ. Tùy theo các cấp độ
đọc khác nhau mà mỗi người thu về cho mình những lượng thông tin không
giống nhau. Thông qua việc đọc - hiểu tác phẩm văn chương, người đọc sẽ tự
rút ra cho bản thân những kinh nghiệm quý báu về cuộc đời, về con người.
Đọc - hiểu giúp cho quá trình khám phá nội dung tư tưởng nghệ thuật
của tác phẩm trở nên dễ dàng. Từ đó, có thể vận dụng phương pháp dạy học

đổi về mặt ý thức, tác động toàn diện đến nhân cách học sinh.
Dạy học đọc - hiểu văn bản Ngữ văn thực chất là hoạt động giáo
dục -lĩnh hội tri thức và rèn luyện kĩ năng thông qua việc đọc các văn bản. 17

Chương 2. HƯỚNG DẪN HỌC SINH DỌC - HIỂU VĂN BẢN
“VỢ NHẶT ” (KIM LÂN) THEO DẶC TRƯNG THỂ LOẠI

2.1. Kim Lân và vị trí của Kim Lân trong đời sống văn học và trong nhà
trường THPT
2.1.1. Cuộc đời và sự nghiệp của nhà văn Kim Lân
Nhà văn Kim Lân - một cây bút viết truyện ngắn danh tiếng của văn
học Việt Nam hiện đại. Tên khai sinh là Nguyễn Văn Tài. Ông sinh ngày 1
tháng 8 năm 1920 tại thôn Phù Lưu, xã Tân Hồng, huyện Từ Sơn, Bắc Ninh.
Xuất thân từ một gia đình có hoàn cảnh khó khăn, Kim Lân chỉ học hết bậc
tiểu học rồi làm nhiều nghề kiếm sống trong đó có viết văn. Trước Cách mạng
tháng Tám, Kim Lân đã phải sống nhiều năm lăn lóc trong cảnh đói nghèo.
Năm 1944, Kim Lân tham gia vào Hội văn hóa cứu quốc, sau đó liên
tục tham gia hoạt động văn hóa, văn nghệ phục vụ kháng chiến.
Từ sau năm 1960, hầu như Kim Lân gác bút trên văn đàn.Ở độ tuổi 40
với nghệ thuật viết truyện bậc thầy, cái sự gác bút của ông được coi là chuyện
lạ với mọi người. Thay vào việc viết văn, ông làm công việc biên tập sách và
đào tạo thế hệ nhà văn trẻ.
Ông mất ngày 20 tháng 7 năm 2007 tại Bệnh viện Hữu Nghị Hà Nội.
Là một trong những cây bút xuất sắc của nền văn xuôi hiện đại Việt
Nam trước và sau Cách mạng, Kim Lân hướng ngòi bút của mình về nông
thôn và những người nông dân. Ông có những trang viết đặc sắc về làng quê
và đời sống làng quê. Kim Lân là nhà văn của những số phận thiệt thòi, của

qua truyện ngắn “ Làng ” (chương trình Ngữ văn lớp 9). Hiện lên trong tác
phẩm là nhân vật ông Hai - một người nông dân hiền lành chất phác với tình
yêu làng quê và lòng yêu nước, tinh thần kháng chiến.
Lên bậc THPT, chương trình Ngữ văn tiếp tục giới thiệu thêm một
sáng tác đặc sắc của Kim Lân là truyện ngắn “Vợ nhặt ” (SGK Ngữ văn 12,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status