TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
----------------
TRƯƠNG QUỲNH ANH
TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG
ĐỌC HIỂU VĂN BẢN THƠ
TRUNG ĐẠI Ở NHÀ TRƯỜNG
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Ngữ văn
Người hướng dẫn khoa học
PGS.TS. BÙI MINH ĐỨC
HÀ NỘI - 2017
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành tốt khóa luận tốt nghiệp với đề tài “Tổ chức hoạt động
đọc hiểu văn bản thơ trung đại ở trường THPT”, tác giả đã thường xuyên
nhận được sự giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi và chỉ bảo tận tình của các
thầy, cô giáo trong khoa Ngữ văn, đặc biệt là các thầy cô giáo trong tổ
Phương pháp dạy học Ngữ văn và PGS.TS Bùi Minh Đức – người hướng
dẫn trực tiếp.
Tác giả khóa luận xin được bày tỏ lòng biết ơn và sự cảm ơn chân
thành nhất đến các thầy cô.
Do năng lực của người nghiên cứu còn hạn chế nên chắc chắn khóa
luận không tránh khỏi thiếu sót. Tác giả rất mong nhận được sự chỉ bảo góp ý
của các thầy cô và các bạn.
GS.TS
: Giáo sư.Tiến sĩ
PGS.TS
: Phó giáo sư.Tiến sĩ
THPT
: Trung học phổ thông
SGK
: Sách giáo khoa
ĐHSP
: Đại học sư phạm
SGV
: Sách giáo viên
THCS
: Trung học cơ sở
CNTT
1.1.3.2. Đặc trưng của thơ ............................................................................... 17
1.1.4. Đặc trưng thi pháp của thơ trung đại Việt Nam .................................... 24
1.2. Cơ sở thực tiễn ......................................................................................... 26
1.2.1. Khảo sát thực trạng thiết kế giáo án dạy học của GV ở trường THPT . 26
1.2.2. Thực tiễn dạy học và tổ chức đọc hiểu thơ trung đại ở nhà trường THPT
......................................................................................................................... 26
Chương 2. CÁC BIỆN PHÁP TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG ĐỌC HIỂU VĂN
BẢN THƠ TRUNG ĐẠI Ở NHÀ TRƯỜNG THPT...................................... 28
2.1. Hoạt động tạo tâm thế tiếp nhận cho học sinh ......................................... 28
2.2. Hoạt động hướng dẫn học sinh tìm hiểu tri thức nền cho việc dạy học thơ
trung đại........................................................................................................... 29
2.3. Hoạt động đọc văn bản và tìm hiểu chú thích .......................................... 35
2.3.1. Đọc văn bản........................................................................................... 35
2.3.2. Tìm hiểu chú thích ................................................................................ 37
2.4. Hoạt động tổ chức HS phân tích nội dung, ý nghĩa và giá trị nghệ thuật
của văn bản thơ trung đại ................................................................................ 37
2.4.1. Kĩ thuật động não .................................................................................. 37
2.4.2. Kĩ thuật khăn phủ bàn .......................................................................... 38
2.4.3. Kĩ thuật phòng tranh............................................................................. 40
2.4.4. Kĩ thuật hỏi đáp ..................................................................................... 41
2.5. Hoạt động vận dụng ................................................................................ 43
Chương 3. THIẾT KẾ THỂ NGHIỆM BÀI HỌC TỎ LÒNG (THUẬT
HOÀI) PHẠM NGŨ LÃO .............................................................................. 44
3.1. Mục đích thể nghiệm................................................................................ 44
3.2. Giáo án thể nghiệm .................................................................................. 44
KẾT LUẬN ..................................................................................................... 55
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................... 57
một công việc có thu nhập cao. Thực trạng đã phản ánh bằng nhưng bài làm
văn kém chất lượng ngày một tăng lên. HS yếu cả về văn nói lẫn văn viết.
Nhưng mặt khác, chúng ta phải tự hỏi: người GV đã làm gì để dẫn tới tình
trạng HS chán văn, hiểu văn sai lệch theo kiểu “canh gà Thọ Xương”? Sự
thiếu hụt về kiến thức, cẩu thả trong phương pháp và không có trách nhiệm
nghề nghiệp cũng là nguyên nhân đẩy văn chương đến bờ vực.
Một điều đáng buồn hơn khi một bộ phận không nhỏ GV và HS cho
rằng những tác phẩm thơ trung đại không thi Đại học, không chiếm là bao
trong quỹ điểm thi học kì nên đã coi nhẹ, thậm chí bỏ bê. Vì các văn bản thơ
trung đại rất trừu tượng, khó hiểu nên tình trạng “ lướt” khá phổ biến. Nếu có
dạy đôi khi cũng không hiệu quả bởi người GV chưa có phương pháp giúp
HS tiếp cận xóa đi khoảng cách về mặt ngôn ngữ, thời gian, chưa cho HS cảm
nhận được cái hay, cái đẹp của nó. Các tác phẩm thơ trung đại đã đạt được
các thành tựu rực rỡ xong cần GV và HS hiểu ngôn ngữ, khơi ra các dấu hiệu
đặc trưng thẩm mĩ nằm ẩn sâu sau lớp ngôn từ.
Từ những vấn đề trên chúng tôi nhận thấy “Tổ chức hoạt động đọc
hiểu văn bản thơ trung đại ở trường THPT” sẽ khắc phục những điều trên.
2. Lịch sử vấn đề
Từ trước tới nay ở Việt Nam ta vấn đề dạy học thơ văn cổ đã được các
nhà nghiên cứu lí luận, các nhà giáo, các nhà lí luận dạy học chú ý quan tâm ở
những mức độ khác nhau. Trong phạm vi đề cương vắn tắt, tôi chỉ xin điểm
lại một số công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận văn.
2.1. Các công trình nghiên cứu khoa học về đặc điểm văn học trung đại
Việt Nam
Chúng tôi rất quan tâm tới các công trình sau:
- A.Gurê vich- Các phạm trù văn hóa trung cổ - Nhà xuất bản Giáo
dục- 1996. Lê Trí Viễn - Đặc trưng văn học trung đại - Nhà xuất bản Khoa
2
văn cổ theo hai phương pháp chính: Phương pháp dạy thơ văn cổ theo đặc
điểm đề tài và phương pháp dạy thơ văn cổ theo đặc điểm ngôn ngữ. Trong
cuốn sách này, tác giả đưa ra một số kinh nghiệm về phương pháp dạy thơ
văn cổ xuất phát từ đặc trưng nghệ thuật, song chưa chú ý tới khả năng và
những khó khăn trong tiếp nhận của học sinh.
Phan Trọng Luận với thiết kế một số bài giảng- học tác phẩm văn
chương cổ: “Chuyện người con gái Nam Xương” (Nguyễn Dữ), “Chạy tây”
(Nguyễn Đình Chiểu), “Mã Giám Sinh mua Kiều” (Nguyễn Du),... đã đưa ra
một số phương pháp và biện pháp cụ thể cho cả giáo viên và người học (học
sinh) khi khám phá, chiếm lĩnh tác phẩm.
Các công trình nghiên cứu trên đây, tùy từng mức độ và các khía cạnh
khác nhau đã có đóng góp đáng kể trong việc nghiên cứu văn học cổ nói riêng
cũng như phương pháp giảng dạy tác phẩm văn học cổ ở nhà trường phổ
thông nói chung. Các công trình đã góp phần nêu lên, hoặc giải quyết những
khó khăn, trở ngại của việc dạy học tác phẩm văn học cổ Việt Nam trong nhà
trường. Các ý kiến nhận định trong các bài viết, công trình nghiên cứu trên là
sự gợi ý quý báu cho việc nghiên cứu của chúng tôi.
Tuy có những đóng góp đáng kể, song các công trình nghiên cứu trên
mới chỉ chú ý tới con đường tiếp cận tác phẩm hoặc nêu lên những đặc trưng
cơ bản của văn học cổ mà chưa thực sự chú ý tới tâm lí, khả năng tiếp nhận
nền văn học ấy ở học sinh phổ thông.
2.3 Những công trình nghiên cứu về đọc hiểu
Những năm gần đây, đọc hiểu được quan tâm rất nhiều, được áp dụng
vào giảng dạy bởi đó là một phương pháp dạy học khá tích cực và có hiệu
quả. Thực tế, vấn đề đọc hiểu đã được nói từ rất sớm. Trên thế giới, trong công
trình nhiên cứu Phương pháp giảng dạy văn học ở trường phổ thôngcủa
V.A.Nhikônxki đã khẳng định học sinh là đọc giả của tác phẩm văn học nghĩa là
4
-Nghiên cứu đề xuất biện pháp tổ chức học sinh đọc hiểu văn bản thơ
trung đại ở nhà trường THPT.
- Thiết kế giáo án thực nghiệm.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4.1.Đối tượng nghiên cứu
Tập trung vào biện pháp tổ chức hoạt động dạy học đọc hiểu văn bản
thơ trung đại ở nhà trường THPT.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Trong khuôn khổ đề tài “Tổ chức hoạt động đọc hiểu văn bản thơ
trung đại ở trường THPT” người viết tập trung vào văn bản thơ trung đại ở
SGK Ngữ văn 10.
5. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Vận dụng thành tựu nhiều
nghành: nghiên cứu văn học, lí luận văn học, tâm lí học, giáo dục học.... đặc
biệt chú trong các thành tựu nghiên cứu về các công trình nghiên cứu về văn
bản thơ trung đại ở nhà trường THPT và các thành tựu về phương pháp dạy
học văn.
- Phương pháp điều tra, thăm dò, thống kê, phân tích: điều tra, thăm dò
GV, HS THPT để rút ra thực trạng dạy và học văn bản thơ trung đại ơ nhà
trường phổ thông. Từ đó, phân tích, lí giải nhìn nhận thực trạng việc dạy và
học Ngữ văn ở trường phổ thông..
- Phương pháp thực nghiệm: Thiết kế thể nghiệm bài học: Tỏ lòng.
6. Đóng góp của khóa luận
Góp phần triển khai, phát triển lý thuyết dạy học đọc hiểu văn bản văn
học vào thực tiễn.
Đưa ra một số gợi ý cho GV về việc đổi mới phương pháp dạy học thơ
trung đại ở nhà trường THPT.
6
Tuy nhiên, nhìn nhận một cách khái quát về sự đọc của con người, có
thể tán thành định nghĩa của Đại bách khoa toàn thư Trung Quốc, quyển
“Giáo dục”: “Đọc là một quá trình hoạt động tâm lý nhằm tiếp nhận ý nghĩa
từ kí hiệu ngôn ngữ được in hay viết”. Gần với định nghĩa này, SGV Ngữ văn
10 (nâng cao) viết : “Đọc là hoạt động nắm bắt ý nghĩa trong các kí hiệu của
văn bản, khác với nghe là hoạt động nắm bắt ý nghĩa từ tín hiệu âm thanh”.
Đó là hoạt động lấy văn bản viết, in, khắc làm đối tượng. Khác với việc đọc
của người thoát nạn mù chữ là biết đọc chữ, đọc ở đây đòi hỏi hiểu sâu nội
8
dung tư tưởng, tình cảm, cái đẹp của văn bản và có thể sử dụng văn bản vào
đời sống cá nhân và xã hội.
Đọc đòi hỏi vận dụng một năng lực tổng hợp của con người : dùng mắt
để xem, dùng trí óc để phán đoán, liên tưởng, tưởng tượng, dùng miệng để
ngâm nga khi thích thú, dùng kinh nghiệm để thử nghiệm, dùng tay để giở
sách, dùng bút để ghi chép, dùng từ điển để tra cứu… Như thế, đọc góp phần
giúp con người phát triển toàn diện các năng lực tinh thần của mình.
Biết đọc là biết giao tiếp với đời sống văn hoá - xã hội rộng lớn, vượt ra
ngoài tầm hiểu biết trực tiếp của mỗi người và biết hưởng thụ các giá trị văn
hoá kết tinh trong văn bản. Biết đọc mới nắm bắt được thông tin trên báo chí,
trong sách vở để nâng cao tầm hiểu biết và trình độ cảm thụ; biết đọc mới biết
thưởng thức bao cái hay, cái đẹp mà loài người đã “chưng cất” trong các văn
bản nhất là văn bản nghệ thuật.
1.1.1.2. Hiểu
Đọc gắn liền với hiểu. Hiểu vừa là nguyên nhân vừa là động cơ, mục
đích của việc đọc.
Hiểu, theo Kinh Thánh, là “lặn sâu vào thế giới bí ẩn bên trong”. Còn
theo M. Bakhtin, trong sách Con người trong thế giới ngôn từ, “hiểu” trong
nhận chỉ “cảm thấy” mà không “hiểu rõ” cái hay, cái đẹp của văn chương.
Vẫn biết rằng cái thi vị của văn thơ đôi khi nằm ở những điểm “mờ ơ”,
những chỗ khó tường giải, tường minh cho hết nhẽ nhưng nếu tiếp nhận luôn
luôn chỉ là như thế thì - như Biêlinxki đã nói - đó là trạng thái “thích thú đau
khổ”. Dạy học văn không thể cứ “thích thú đau khổ” để rồi phải “khổ đau” vì
không biết “thích” vì lẽ gì, “thú” bởi điều gì. GS. Đặng Thai Mai đã có lần
khẳng định : “Cảm thấy hay chưa đủ. Có hiểu là hay thì sự thưởng thức mới
có nghĩa lý và tác dụng”. Ông còn lưu ý bạn đọc nếu chịu khó suy nghĩ thì thế
nào cũng thu hoạch được nhiều điều thú vị, sâu sắc, đậm đà đằng sau cái âm
hưởng du dương, trầm bổng, đằng sau cái đẹp của hình thức, thanh điệu… Từ
10
trong tâm lý sáng tác văn học, người nghệ sĩ đã phải viết văn bằng “Khối
ólạnh lùng tê buốt – Trái tim nặng trĩu yêu thương” (A.Puskin) thì trong cảm
thụ nghệ thuật người đọc không thể đến với nhà văn bằng một “thứ tình cảm
vu vơ” mà trái lại, đó phải là “tình cảm, cảm xúc trên cơ sở một sự hiểu biết
khoa học” (Hoài Thanh). Như vậy, cảm (cảm xúc, tình cảm, những rung động
tâm hồn của con người) bổ sung cho hiểu, làm cho sự hiểu thêm sâu sắc và
ngược lại hiểu (dựa vào lý trí, trí tuệ, phân tích, diễn giải, suy luận, hành động…)
sẽ giúp cảm có được cơ sở vững chắc vì chỉ sau khi hiểu thì cảm mới sâu.
1.1.1.3. Đọc hiểu
“Đọc hiểu” hay “đọc–hiểu” (reading comprehension, understanding
reading) làm một thuật ngữ quen thuộc trong khoa học giáo dục ở nhiều nước
tiên tiến trên thế giới. Ở các nước phương Tây, đặc biệt là các nước Âu – Mĩ,
đọc hiểu và lý thuyết đọc hiểu (Theory ofreading comprehension) đã được
chú ý từ lâu. Đã có hàng trăm công trình viết về vấn đề này với các tên tuổi :
K.Goodman (1970), A.K.Pugh (1978), P.D.Pearson (1984), U.Frith (1985),
M.J.Adams (1990)… thậm chí có hẳn một tạp chí chuyên ngành về đọc
nhận thức nói chung (đọc hiểu văn bản báo chí, đọc hiểu văn bản lịch sử, xã
hội, văn hóa...), đồng thời cũng là hoạt động thưởng thức nghệ thuật, hưởng
thụ thẩm mĩ của con người (đọc hiểu văn bản văn học) – xét từ một bình diện
cụ thể. Hoạt động đọc hiểu bao gồm nhiều hành động thể chất (mắt nhìn, tay
giở sách, tra từ điển…) và thao tác tư duy (tưởng tượng, liên tưởng, phân
tích, phán đoán…) để đi đến đích là hiểu và thể nghiệm được nội dung, ý
nghĩa của văn bản.
Gắn liền với thuật ngữ đọc hiểu, gần đây trong một số tài liệu dạy học
còn thấy xuất hiện thuật ngữ phương pháp đọc hiểu (Understanding reading
method). Chúng tôi cho rằng không nên hiểu đây là một phương pháp dạy
học mà cần hiểu là “cách thức”, “con đường” tổ chức, hướng dẫn HS lĩnh
hội tri thức. Đúng hơn đó là một hệ hình phương pháp dạy học bao gồm
12
nhiều phương pháp, biện pháp dạy học khác nhau được sử dụng để người dạy
và người học có thể thực thi các nhiệm vụ dạy học. Sở dĩ như vậy là vì quá
trình chiếm lĩnh tri thức từ đọc đến hiểu là một quá trình phức hợp nhiều hoạt
động, thao tác tư duy trí tuệ, cảm xúc của con người. Để HS có thể nắm được
ý nghĩa của văn bản, đồng cảm và “đồng sáng tạo” với người viết, GV không
thể chỉ tổ chức mỗi hoạt động đọc (đọc thầm, đọc to, đọc chéo, đọc hợp tác,
đọc nhanh, đọc chậm, đọc diễn cảm…) mà còn phải tổ chức nhiều hoạt động
khác nữa : tái hiện, phân tích, cắt nghĩa… với hàng loạt các phương pháp,
biện pháp : gợi mở, nghiên cứu, so sánh, thảo luận nhóm…
Tóm lại, đọc hiểu là một dạng hoạt động nhận thức, là hành trình tiến
tới nắm bắt và thể nghiệm ý nghĩa của văn bản ngôn từ.
1.1.2. Hệ thống các hoạt động tổ chức học sinh đọc hiểu văn bản văn học
ở nhà trường THPT
1.1.2.1. Hoạt động tạo tâm thế tiếp nhận cho học sinh
tiền đề cắt nghĩa cho việc tìm hiểu văn bản sau này. Hoạt động này tương ứng
với mục Tiểu dẫn trong SGK. Ở hoạt động này GV cần bổ sung thêm về bối
cảnh thời đại, cung cấp thêm tri thức về thể loại, thể thơ cho HS.
GV có thể tổ chức hoạt động này bằng nhiều cách khác nhau:
- GV cho HS làm việc với SGK, có thể làm việc cá nhân, cặp đôi hoặc
làm theo nhóm để thảo luận và trình bày.
- GV cũng có thể dùng phiếu học tập cung cấp cho HS thêm kiến thức
ngoài SGK cho HS.
- Ứng dụng CNTT cung cấp tranh ảnh, video clip...
1.1.2.3. Hoạt động đọc văn bản
Đọc là hoạt động tiếp cận tầng ngôn từ của văn bản, khi đọc cần lưu ý
HS đọc một lượt toàn thể văn bản để có cảm nhận chung về tác phẩm sau đó
đọc chậm từng từ, từng câu, từng dòng, từng khổ kèm theo việc tìm hiểu chú
thích để có thể hiểu được ý nghĩa của từng tác phẩm.
14
Thứ nhất là khâu đọc ở nhà của HS. Thông thường, chúng ta hay coi
nhẹ khâu này và cũng ít kiểm tra việc đọc của học trò nên nhiều HS đến lớp
mà chưa hề đọc văn bản tác phẩm. Để thúc đẩy hoạt động tri giác ngôn ngữ
nghệ thuật của HS, chuẩn bị tích cực cho việc học văn trên lớp, khâu đọc cần
đi kèm với những yêu cầu, bài tập cụ thể:
- Đọc văn bản (1-2 lần) và cho biết cảm nhận chung của mình về văn
bản đó?
- Theo em, tình điệu bao trùm tác phẩm, từng đoạn văn bản là gì? Từ
đó cần phải đọc tác phẩm bằng giọng đọc như thế nào?
- Hãy giải thích cách hiểu của em về một số câu thơ, hình ảnh, chi tiết
nghệ thuật...
- Tập đọc diễn cảm theo cảm nhận của mình.
Hoạt động vận dụng tạo điều kiện để HS bộc lộ thái độ, nhận thức để
rút ra bài học và triết lý sống đúng đắn.
Có thể tổ chức hoạt động vận dụng theo các cách khác nhau:
- GV có thể sử dụng hệ thống câu hỏi, đưa ra những yêu cầu để HS
phát hiện và trả lời.
- Xây dựng hệ thống câu hỏi, bài tập kiểm tra đánh giá mức độ hiểu bài
của HS và kỹ năng độc hiểu của HS.
- Ứng dụng CNTT cung cấp tranh, ảnh, video clip mở rộng kiến thức
hoặc tạo ra những bài tập luyện tập, củng cố kiến thức cho HS.
- Tổ chức các trò chơi học tập.
- Liên hệ các vấn đề được đề cập trong tác phẩm văn học với xã hội
ngày nay và trình bày ý kiến cá nhân về vấn đề đó.
1.1.3. Thơ - khái niệm và đặc trưng
1.1.3.1. Khái niệm chung về thơ
Thơ là loại hình văn học sớm nhất của nhân loại. Thơ ra đời hầu như
cùng một lúc với nhạc, họa, múa nhảy trong các cuộc tế lễ thần linh, ma thuật
16
thời nguyên thủy. Theo khảo chứng của các nhà khoa học Trung Quốc mới
đây, thi chữ “thi” trong Kinh Thi nguyễn là đồng âm với chữ “tự” (nghĩa là
chùa), nhà thơ ban đầu gợi là “ tự nhân”, tức là người trông coi việc cúng thờ,
tế lễ và các bài “tụng”, “nhã” chủ yếu là sáng tác của loại người này, sau cộng
thêm “phong” là sáng tác của dân chúng. Ở phương Tây, cội nguồn của từ thơ
– “poet” trong tiếng Hi Lạp có nghĩa là sản xuất, sáng tạo chuyển vào thơ,
nghĩa là “sáng tạo trên lĩnh vực từ ngữ”. Nhưng xét về mặt lịch sử thì thơ ca
còn xuất hiện trước cả ngôn ngữ. Nhà khoa học Ý là Vico từng nói: “Ngôn
ngữ bắt nguồn từ thơ ca”, còn Hegel trong Mĩ học viết: “Lời của thơ nảy sinh
vào thời xa xưa của mỗi dân tộc, lúc đó ngôn ngữ còn chưa hình thành, phải
giúp ta hiểu xong người chủ thể ở bên trong. Chẳng hạn bài ca dao:
Chiều chiều ra đứng ngõ sau
Trông về quê mẹ ruột đau chín chiều
Bài ca dao là tâm tư của người con gái lấy chồng xa quê, bồi hồi mà bật
nói đau lên thành tiếng.
Nói đối tượng của thơ không phải là những sự việc bên ngoài không có
nghĩa là tình cảm trong thơ tự dưng nảy sinh theo kiểu không đau mà rên.
Người xưa nói cảm vật, tức cảnh. Phải có sự kiện, sự việc`, hoàn cảnh làm
chấn động tâm hồn nhà thơ thì tình cảm thơ mới này sinh. Cho nên muốn hiểu
thơ cũng phải biết suy đoán cái tình huống đã làm nảy sinh tình cảm thơ. Sự
kiện nền tảng của bài thơ nhiều khi ghi ngay trong nhan đề bài thơ, chẳng
hạn: Bình Ngô Đại Cáo. Sự kiện trong bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ hẳn là một mối
tình của nhà thơ với một cô gái Huế và tấm bưu ảnh in hình ảnh Huế cô gái
gửi mà nhà thơ nhận được. Sự kiện của Từ ấy là ngày nhà thơ vào Đảng, còn
sự kiện của bài Việt Bắc là ngày Đảng và Chính phủ giã từ Việt Bắc về thủ đô
Hà Nội.
Lê Quý Đôn từng nói: “Ta cho thơ có ba điều chính, một tình, hai cảnh,
ba sự”. Trước hết là tình, tình nảy sinh ra cảnh và sự. Hoặc ngược lại, “cảm
18
cảnh, cảm vật mà sinh tình”. Từ thực tế mà tình cảm bị khuấy động. Tình cảm
mãnh liệt là điều kiện hàng đầu của thơ. Hãy đọc câu thơ:
Dang tay ôm chặt bồ kinh tế,
Mở miệng cuời tan cuộc oán thù.
(Phan Bội Châu)
Vì vậy tình cảm trong thơ phải là tình cảm lớn, tình cảm đẹp, cao
thượng, thấm nhuần bản chất nhân văn, chính nghĩa. Tình cảm tầm thường
không làm nên thơ. Có người nói: “Một cô gái có thể hát ca về tình yêu đã