TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
***************
CAO THỊ SEN
CHUYỂN THỂ TÁC PHẨM VĂN HỌC
SANG TÁC PHẨM ĐIỆN ẢNH
(TỪ BA TÁC PHẨM VĂN HỌC SỐ ĐỎ, KỸ NGHỆ LẤY TÂY,
CƠM THẦY CƠM CÔ ĐẾN TÁC PHẨM ĐIỆN ẢNH TRÒ ĐỜI)
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lý luận văn học
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học
TS. NGUYỄN THỊ KIỀU ANH
HÀ NỘI, 2017
LỜI CẢM ƠN
Trƣớc hết, tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy, cô giáo của khoa Ngữ
Văn, trƣờng Đại học Sƣ phạm Hà Nội 2, đã hết sức nhiệt tình trong quá trình
giảng dạy, giúp tôi có những kiến thức quý giá phục vụ trực tiếp cho quá
trình thực hiện khóa luận tốt nghiệp.
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn TS. Nguyễn Thị Kiều Anh, ngƣời đã
tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện khóa luận, từ việc định hƣớng,
lựa chọn đề tài đến việc xây dựng đề cƣơng và triển khai khóa luận. Cô đã có
những góp ý cụ thể và luôn luôn động viên để tôi có thể hoàn thành tốt nhiệm
vụ của mình.
Đề tài của tôi chắc hẳn sẽ không thể tránh khỏi những thiếu sót và hạn
NỘI DUNG ....................................................................................................... 6
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC CHUYỂN THỂ ........................ 6
TÁC PHẨM VĂN HỌC SANG TÁC PHẨM ĐIỆN ẢNH ............................. 6
1.1. Thuật ngữ văn học, điện ảnh và vấn đề chuyển thể. ................................. 6
1.1.1. Thuật ngữ văn học ................................................................................... 6
1.1.2. Thuật ngữ điện ảnh.................................................................................. 7
1.1.3. Phim chuyển thể - sản phẩm của sự giao thoa giữa văn học và điện ảnh
........................................................................................................................... 9
1.2. Văn học – điện ảnh mối quan hệ tƣơng đồng và khác biệt ...................... 10
1.2.1. Sự tƣơng đồng giữa hai loại hình nghệ thuật văn học – điện ảnh......... 10
1.2.2. Văn học và điện ảnh mối quan hệ khác biệt ......................................... 16
CHƢƠNG 2: SỰ CHUYỂN THỂ BỘ BA TÁC PHẨM VĂN HỌC ............ 21
SỐ ĐỎ, KỸ NGHỆ LẤY TÂY, CƠM THẦY CƠM CÔ ĐẾN TÁC PHẨM
ĐIỆN ẢNH TRÒ ĐỜI ..................................................................................... 21
2.1. Những bộ phim chuyển thể qua các thời kì của điện ảnh Việt Nam. ...... 21
2.2. Chuyển thể tiểu thuyết Số đỏ, phóng sự Kỹ nghệ lấy Tây, Cơm thầy cơm
cô – sang tác phẩm điện ảnh Trò đời .............................................................. 23
2.2.1. Tóm lƣợc nội dung văn học và nội dung phim điện ảnh ...................... 23
2.2.2. Sự tƣơng đồng giữa ba tác phẩm văn học với phim truyện chuyển thể 27
Trò đời ............................................................................................................. 27
2.2.3. Sự khác biệt giữa tác phẩm văn học với phim truyện chuyển thể Trò đời
......................................................................................................................... 36
2.3. Thành công và hạn chế của bộ phim truyện chuyển thể Trò đời ............. 46
2.3.1.Thành công của tác phẩm chuyển thể .................................................... 46
2.3.2. Một số hạn chế của tác phẩm chuyển thể ............................................. 47
KẾT LUẬN ..................................................................................................... 49
TÀI LIỆU THAM KHẢO
của nhà văn Tô Hoài), Chị Tư Hậu (1963, chuyển thể từ tác phẩm Một
chuyện chép ở bệnh viện của nhà văn Bùi Đức Ái), Chị Dậu (1980, chuyển
thể từ tiểu thuyết Tắt đèn của nhà văn Ngô Tất Tố), Làng Vũ Đại ngày ấy
(1983, chuyển thể từ ba tác phẩm: Sống mòn, Lão Hạc, Chí Phèo của nhà văn
Nam Cao), Đêm hộ Long Trì (1989, đƣợc chuyển thể từ tác phẩm cùng tên
của nhà văn Nguyễn Huy Tƣởng), Tướng về hưu (1988) và Những người thợ
xẻ (1998) – chuyển thể từ truyện ngắn cùng tên của Nguyễn Huy Thiệp, Mùa
len trâu (2004, dựa theo hai truyện ngắn: Một cuộc bể dâu và Mùa len trâu
của nhà văn Sơn Nam), Trăng nơi đáy giếng (2008, chuyển thể từ truyện
ngắn cùng tên của nữ nhà văn Trần Thùy Mai), Cánh đồng bất tận (2010,
chuyển thể từ truyện ngắn cùng tên của nhà văn Nguyễn Ngọc Tƣ), hay Trò
đời (2013, chuyển thể từ ba tác phẩm: Số đỏ, Cơm thầy cơm cô, Kỹ nghệ lấy
Tây của nhà văn Vũ Trọng Phụng)... Ngoài ra, còn rất nhiều các tác phẩm có
giá trị mà không thể điểm hết ở đây.
Thành tựu của phim chuyển thể từ văn học đã góp phần thúc đẩy sự
hình thành phát triển của nghệ thuật điện ảnh trên thế giới và Việt Nam. Số
lƣợng phim chuyển thể từ tác phẩm văn học trên thế giới và Việt Nam ngày
càng nhiều và luôn đƣợc ngƣời xem chào đón rất nhiệt tình. Có nhiều nguyên
nhân đem lại thành công cho phim chuyển thể nhƣng một nguyên nhân nổi
bật không thể phủ nhận là tác phẩm văn học đã mang đến cho phim truyện
chuyển thể một sức mạnh nội tại, sức mạnh tƣ tƣởng của bộ phim.
Điện ảnh vừa “chịu ơn” các tác phẩm văn học, vừa có công chắp cánh
cho các tác phẩm văn học thăng hoa. Chọn đề tài: Chuyển thể tác phẩm văn
học sang tác phẩm điện ảnh (Từ ba tác phẩm văn học Số đỏ, Cơm thầy cơm
cô, Kỹ nghệ lấy Tây đến tác phẩm điện ảnh Trò đời), chúng tôi mong muốn
nâng cao giá trị của phim truyện chuyển thể, để điện ảnh nƣớc nhà ngày càng
2
chuyển thể từ tác phẩm văn học sang phim điện ảnh là một điều tƣơng đối
khó khăn đối với chúng tôi khi thực hiện đề tài này.
Mặt khác, qua khảo sát chúng tôi nhận thấy chƣa có một công trình nào
nghiên cứu một cách hệ thống và toàn diện về bộ phim chuyển thể Trò đời
của đạo diễn Nhuệ Giang. Có chăng cũng chỉ là những bài viết đăng trên các
báo, tạp chí, suy nghĩ của ngƣời xem về bộ phim. Lịch sử vấn đề nhƣ vậy quả
là thách thức đối với chúng tôi.
3. Mục đích, ý nghĩa đề tài
Từ việc phân tích đặc điểm của văn học và điện ảnh cũng nhƣ mối quan
hệ đa chiều giữa văn học và điện ảnh, chúng tôi muốn tìm hiểu sự biến thể
của văn học khi đi vào tác phẩm điện ảnh. Qua đó chỉ ra những điểm tƣơng
đồng và khác biệt của tác phẩm văn học với phim truyện điện ảnh.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1.
Đối tượng nghiên cứu
Khóa luận nghiên cứu khảo sát sự chuyển thể bộ ba tác phẩm văn học
Số đỏ, Kỹ nghệ lấy Tây, Cơm thầy cơm cô sang tác phẩm điện ảnh Trò đời.
4.2.
Phạm vi nghiên cứu
Tiểu thuyết Số đỏ của nhà văn Vũ Trọng Phụng.
Phóng sự Kĩ nghệ lấy Tây và Cơm thầy cơm cô của nhà văn Vũ Trọng
Phụng.
Phim truyện chuyển thể từ tác phẩm văn học: phim Trò đời.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5
NỘI DUNG
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC CHUYỂN THỂ
TÁC PHẨM VĂN HỌC SANG TÁC PHẨM ĐIỆN ẢNH
“Văn học là nhân học” (M. Gorki) là câu chuyện về cuộc đời, về cõi
nhân sinh. Cùng hình thái ý thức nghệ thuật với văn học, ngay từ khi mới ra
đời, điện ảnh đã sử dụng nguồn tƣ liệu quý giá từ tƣ liệu văn học trong kho
tàng văn học của nhân loại, để làm nên những bộ phim truyện kinh điển và
bằng cách đó góp phần phát triển nghệ thuật điện ảnh: “Mọi loại hình nghệ
thuật đều phản ánh cuộc sống, đều biểu hiện các tư tưởng tình cảm của con
người, nên đều có nội dung chung nhưng khác nhau về hình thức thể hiện”.
[14, tr.94].
1.1. Thuật ngữ văn học, điện ảnh và vấn đề chuyển thể.
1.1.1. Thuật ngữ văn học
Nếu chất liệu của hội họa là màu sắc và đƣờng nét, của âm nhạc là tiết
tấu và âm thanh, của vũ đạo là thể hình và động tác.... tức đều tồn tại dƣới
trạng thái vật chất thì chất liệu của văn học là ngôn từ: “Văn học là nghệ thuật
ngôn từ hay văn học là loại hình nghệ thuật sáng tạo bằng ngôn từ” [13,
tr.275]. Nhƣ vậy, văn học lấy ngôn từ làm chất liệu để phản ánh đời sống xã
hội, thể hiện sự nhận thức và sáng tạo con ngƣời. Tuy nhiên, cần phải thấy rõ
chất liệu nghệ thuật của ngôn từ đó là ngôn ngữ hay nói cách khác là ngôn từ.
Những từ ấy tồn tại khách quan trong đời sống hằng ngày bởi vậy nếu chúng
ta không biết thứ ngôn ngữ viết trong tác phẩm văn học thì chúng ta sẽ không
thể nào hiểu đƣợc nội dung của nó.
Bản chất xã hội lịch sử của văn học với tƣ cách là hình thái ý thức xã
hội đặc thù đƣợc xác định bằng khái niệm nhƣ “tính hiện thực”, “tính nhân
loại”, “tính giai cấp”, “tính tƣ tƣởng”.... Nhƣng văn học khác với hình thái ý
Điện ảnh là một ngành nghệ thuật tổng hợp bởi nhiều nguyên nhân sau.
Thứ nhất, điện ảnh tiếp thu văn học ở đề tài, cốt truyện, tƣ tƣởng, lời thoại và
7
các thủ pháp nghệ thuật. Điện ảnh còn tiếp thu ở hội họa và các loại hình nghệ
thuật khác nhƣ điêu khắc, kiến trúc... để tạo ra những thành tố cho một bộ
phim. Mỗi bộ phim giống nhƣ một tác phẩm hội họa mà ở đó dƣới sự chỉ đạo
của ngƣời đạo diễn, sự bày trí của ngƣời họa sĩ, cách đặt máy quay của ngƣời
quay phim, diễn xuất của diễn viên hay một cảnh thiên nhiên tĩnh lặng ... đều
là một tác phẩm hội họa có bố cục, có màu sắc... có chủ điểm ý tƣởng mà
những ngƣời làm phim muốn gửi đến. Điện ảnh còn tiếp thu âm nhạc và đƣa
âm nhạc vào phim không chỉ để phụ họa làm nền mà còn làm tăng tính chất
trữ tình và thi vị cho bộ phim...
Những gì mà điện ảnh tiếp nhận ở những loại hình nghệ thuật khác đã
tạo nên tính tổng hợp của nghệ thuật điện ảnh. Bởi vậy, nói về điện ảnh có
nhà nghiên cứu đã phải khẳng định rằng: “Điện ảnh là một nghệ thuật tổng
hợp, mang đến cho hàng triệu người xem ngôn từ của nhà văn, tranh của họa
sĩ, diễn xuất của diễn viên, giai điệu của nhạc sĩ.... Đây là nghệ thuật liên kết
hội họa và kiến trúc, âm nhạc và văn học. Phim có âm thanh và màu sắc, khổ
rộng và lập thể - đây quả thực là một nghệ thuật tổng hợp” [7, tr.17]. Với tính
tổng hợp về ngôn ngữ biểu hiện nhƣ vậy, điện ảnh có thể phản ánh đời sống
một cách phong phú,hiện thực hơn tất cả các loại hình nghệ thuật khác. Tuy
nhiên, sẽ rất sai lầm nếu nghĩ điện ảnh chỉ là sự hòa lẫn các loại hình nghệ
thuật khác nhau. Điện ảnh hoàn toàn là một loại hình độc lập, tính chất độc
lập của nó không kém gì so với các loại hình nghệ thuật khác. Nó chỉ sử dụng
một cách sáng tạo kinh nghiệm phong phú của quá trình phát triển nghệ thuật
trƣớc kia chứ không phải là sự liên kết các loại hình nghệ thuật khác nhƣ một
con số cộng.
Các tác phẩm văn học đƣợc chuyển thể sang phim điện ảnh dƣới khá
nhiều hình thức và mức độ. Tuy nhiên về cơ bản có 2 hình thức chuyển thể,
đó là chuyển thể theo sát nguyên bản và chuyển thể không theo sát nguyên
bản. Trong hình thức chuyển thể theo sát nguyên bản văn học, bộ phim sẽ
9
bám sát tác phẩm văn học từ tên tác phẩm, cốt truyện, hệ thống nhân vật, ý
tƣởng chủ đề đến hình thức, ngôn ngữ... Tất nhiên, sự theo sát này cũng chỉ là
tƣơng đối mà thôi. Bản chất của quá trình chuyển thể này là dựa hoàn toàn
vào nguồn nguyên liệu của văn học, không đặt ra thêm vấn đề gì ngoài những
cái đã có. Thực chất đây là hình thức chọn từ tác phẩm văn học những cái tốt
nhất, phù hợp nhất cho sự vận động cũng nhƣ hiệu quả hành động, kịch tính...
Không hiếm các bộ phim đã “đọc” một cách trung thành những tác phẩm văn
học nổi tiếng và có chỗ đứng vững chắc trong đời sống phim ảnh quốc tế. Với
hình thức không thể theo sát nguyên bản văn học, tức là chuyển thể tự do thì
tác phẩm văn học chỉ góp một phần hoặc chỉ là cái cớ để cho ra đời một bộ
phim điện ảnh. Ở Việt Nam, hình thức “dựa theo” tác phẩm văn học có vẻ
phổ biến hơn vì đó là hình thức mà tác giả phim thấy tƣơng đối “thoải mái”
khi sử dụng cốt truyện, cấu trúc, nhân vật, lời thoại và chất liệu khác từ văn
học.
Cả hai hình thức cơ bản vừa nêu trên đều gặp những thuận lợi và khó
khăn nhất định trong quá trình chuyển thể. Không ít bộ phim hay đƣợc tạo
nên từ tác phẩm văn học và cũng khá nhiều tác phẩm văn học nhờ đƣợc
chuyển thể thành phim ảnh mà đƣợc rất nhiều công chúng biết đến. Rõ ràng,
văn học và điện ảnh đã phối hợp, kế thừa nhau, dựa vào nhau để tồn tại và cao
hơn để sáng tạo.
1.2. Văn học – điện ảnh mối quan hệ tƣơng đồng và khác biệt
1.2.1. Sự tương đồng giữa hai loại hình nghệ thuật văn học – điện ảnh
tƣởng bao giờ cũng thấm đƣợm tình cảm, đó là mối quan hệ biện chứng
không thể tách rời. Với ý nghĩa đó, tƣ tƣởng trong tác phẩm đã trở thành sự
nung nấu dằn vặt, là ngọn lửa tình yêu mà ngƣời nghệ sĩ gửi gắm trong tác
phẩm làm nên vẻ đẹp, sức hấp dẫn cho tác phẩm và do đó thuyết phục ngƣời
xem.
11
Qua những trang viết của mình, nhà văn lớn M. Gorki đã thổi vào văn
học luồng gió mới, buộc những ngƣời cầm quyền đƣơng thời phải thay đổi
những suy nghĩ đã thành nếp về con ngƣời, về cuộc đời. Bằng trái tim nhân
đạo cách mạng, M. Gorki mô tả cuộc sống bị đàn áp, đói khổ của các tầng lớp
dƣới đáy xã hội, đồng thời thấu hiểu ánh sáng lƣơng tâm trong tâm hồn. Nhà
văn cho rằng: “Nghệ thuật căn bản là một cuộc đấu tranh hoặc là để tán
thành hoặc là để phản đối, chứ không có và không thể có một nền nghệ thuật
bàng quan, bởi vì con người không phải là một chiếc máy ảnh, con người
không ghi chép hiện thực mà hoặc là xác nhận, hoặc là thay đổi” [6, tr.17].
Nội dung tƣ tƣởng ấy hiện diện trong hầu hết các tác phẩm của ông. Trong tài
sản gần 20 tác phẩm văn học bao gồm cả tiểu thuyết, truyện ngắn và kịch của
M. Gorki đã đƣợc chuyển thể sang điện ảnh. Tiêu biểu nhất là bộ phim câm
Người mẹ.
Nội dung tƣ tƣởng trong tác phẩm nghệ thuật rõ ràng có một vai trò
quan trọng đối với toàn bộ cơ cấu của tác phẩm, đƣợc quyết định bởi tƣ
tƣởng tác giả. Tƣ tƣởng tác phẩm có thể sâu sắc hay nông cạn, đúng hay sai
lầm, khẳng định hay phủ định. Tất cả đều phụ thuộc vào sự lĩnh hội nhận
thức thế giới của ngƣời nghệ sĩ, liên quan mật thiết với tƣ tƣởng, thế giới
quan, lý tƣởng xã hội thẩm mỹ. Nhà nghiên cứu Biêlinxki nhận định: “Trong
tác phẩm nghệ thuật chân chính, tư tưởng đâu phải là một khái niệm trừu
tượng được thể hiên một cách giáo điều, mà nó là linh hồn của chúng, nó
Nhà văn Nguyễn Tuân nổi tiếng với khả năng sáng tạo, biến hóa tuyệt
vời với ngôn từ qua những tác phẩm nhƣ: Vang bóng một thời, Tùy bút Sông
Đà.... Cùng cảm nhận sâu sắc vẻ đẹp đất nƣớc và con ngƣời qua tác phẩm của
nhà văn Nguyễn Tuân, nữ đạo diễn Việt Linh chọn Chùa đàn trong Vang
bóng một thời để phóng tác và cho ra đời bộ phim truyện nghệ thuật Mê Thảo
– Thời vang bóng.
13
Văn học Việt Nam trƣớc năm 1945, đề tài phản ánh hiện thực xã hội
đen tối, bất công đối với những con ngƣời cùng khổ đƣợc chú ý nhất, nhƣng
mỗi tác giả có cách phát hiện và ghi nhận hiện thực theo chủ quan riêng của
mình. Phạm vi hiện thực cuộc sống trong đề tài có thể hẹp hay rộng phụ
thuộc nhiều vào cảm hững sáng tạo, sở trƣờng và khả năng, trách nhiệm của
ngƣời nghệ sĩ trƣớc cuộc sống. Ở tác phẩm của nhà văn Nam Cao cũng là cái
đói, cái nghèo đeo đẳng, hành hạ con ngƣời đến cùng cực nhƣ Lão Hạc, kiếp
ngƣời vật vờ bị chà đạp, bị hủy hoại cả nhân hình và nhân tính nhƣ Chí Phèo,
hay cuộc sống quẩn quanh không lối thoát của giới giáo chức trong Sống
mòn. Từ yêu mến đề tài trong tác phẩm của Nam Cao, biên kịch Đoàn Lê và
đạo diễn Phạm Văn Khoa đã chuyển thể thành phim Làng Vũ Đại ngày ấy
năm 1983.Việc lựa chọn đề tài thể hiện khá rõ khuynh hƣớng tƣ tƣởng lập
trƣờng của ngƣời nghệ sĩ, vì vậy đề tài trong tác phẩm có quan hệ mật thiết
với chủ đề và tƣ tƣởng.
Chủ đề đƣợc hình thành và thể hiện trên cơ sở của đề tài, là yếu tố cấu
thành nội dung tƣ tƣởng của tác phẩm nghệ thuật. Chủ đề của tác phẩm luôn
là những vấn đề nảy sinh từ đời sống xã hội, thông qua khả năng khái quát
của nhà văn. Đó là những vấn đề cơ bản, vấn đề trung tâm đƣợc tác giả nêu
lên, đặt ra qua nội dung cụ thể của tác phẩm văn học.
Chủ đề có vai trò quan trọng trong phát hiện, đặt vấn đề và giải quyết
Tiểu thuyết Tắt đèn của Ngô Tất Tố miêu tả sự kiện sƣu thuế nặng nề,
vô lý đè nặng lên đôi vai héo mòn của những ngƣời nông dân nghèo đói
những năm trƣớc Cách mạng tháng 8 năm 1945. Không có tiền nộp sƣu thuế
cho chồng và ngƣời em chồng đã chết, chị Dậu buộc lòng mang cái Tý và đàn
chó bán cho địa chủ Nghị Quế. Hình ảnh cái Tý bốc từng hạt cơm thừa của
đàn chó trên sân nhà địa chủ Nghị Quế, trong âm thanh, giọng nói chì chiết
của vợ chồng Nghị Quế trên phim khiến ngƣời xem uất nghẹn vì cảm thƣơng.
Đạo diễn Phạm Văn Khoa cùng đồng nghiệp đã chọn lọc những chi tiết điển
15
hình, những đoạn văn giàu ý nghĩa nhất để tái hiện chân thực sự kiện đau
thƣơng của dân tộc lên màn ảnh. Qua đó lột tả tính cách độc ác, vô lƣơng tâm
của tầng lớp thống trị mà vợ chồng địa chủ Nghị Quế là đại diện và tình cảnh
đáng thƣơng khốn cùng của những ngƣời dân vô tội nhƣ gia đình chị Dậu.
Mỗi sự kiện đƣợc xác định bởi tính lịch sử xã hội nhất định nên nó tƣơng ứng
với mẫu tính cách nhân vật phù hợp, bởi một tính cách là đại diện tron mức
độ nhất định của hoàn cảnh lịch sử cụ thể. Tính cách chị Dậu là đại diện cho
những ngƣời phụ nữ, nông dân bần cùng, khốn khổ trƣớc năm 1945.
Nhƣ vậy, qua những ví dụ trên cho ta thấy nội dung tƣ tƣởng, đề tài,
chủ đề, sự kiện, nhân vật là những nội dung tƣơng đồng giữa tác phẩm văn
học và phim truyện chuyển thể.
1.2.2. Văn học và điện ảnh mối quan hệ khác biệt
1.2.2.1. Sự khác biệt về đặc trưng ngôn ngữ
Đặc trƣng hình thái học ngôn ngữ là đặc trƣng cơ bản nhất. Từ khác
biệt về đặc trƣng ngôn ngữ đã tạo nên sự khác biệt của hai hình tƣợng nghệ
thuật, hai loại tác phẩm và hai loại hình nghệ thuật khác nhau là văn học và
điện ảnh. Đồng thời cũng tạo nên hai dạng nghệ sĩ có tài năng khác nhau là
nhà văn và đạo diễn cùng ekip làm phim. Đặc trƣng ngôn ngữ của văn học là
lên liên tƣởng và tƣởng tƣợng trong tâm trí ngƣời đọc, khi tiếp xúc với tác
phẩm văn học ngƣời đọc không thể nhìn thấy, nghe thấy, trực tiếp bằng thính
giác, thị giác nhƣng gì nhà văn miêu tả. Hình tƣợng văn học thiếu tính trực
quan nhƣng bù vào đó nó lại tác động vào thế giới tinh thần của con ngƣời,
kích thích sự liên tƣởng, tƣởng tƣợng... Khác với văn học, ngôn ngữ điện ảnh
sử dụng chất liệu nghe và nhìn nhƣ màu sắc, đƣờng nét, diễn viên,... để xây
dựng nên hình tƣợng. Những chất liệu ấy là những vật thể hữu hình có khả
năng tác động trực tiếp đến thị giác và thính giác của ngƣời xem. Hình tƣợng
văn học khi chuyển sang điện ảnh có đem lại cảm xúc cho ngƣời xem hay
không phụ thuộc rất nhiều vào yếu tố, nhƣng yếu tố quyết định là sự hóa thân
17
của diễn viên vào nhân vật. Ngƣời diễn viên góp phần quan trọng trong việc
khắc họa trong hình tƣợng nghệ thuật làm giàu cho tính cách nhân vật bằng
chính tâm hồn, khát vọng và cả con ngƣời họ.
1.2.2.2. Sự khác biệt về đặc trưng chủ thể sáng tạo
Tác giả theo nghĩa chung “là người sản xuất các sản phẩm sáng tạo trí
tuệ”[1, tr.284]. Trong văn học nhà văn là tác giả sáng tạo ra tác phẩm nghệ
thuật ngôn từ nhƣ truyện ngắn, truyện vừa, tiểu thuyết.... Trong nghệ thuật
điện ảnh, tác giả sáng tạo ra bộ phim truyện điện ảnh là một tập thể tác giả
gồm có biên kịch, đạo diễn, quay phim, diễn viên... trong đó đạo diễn là
ngƣời tổng chỉ huy, chịu trách nhiệm chính về chất lƣợng bộ phim. Nhƣng
khác hẳn với văn học, tập thể tác giả nghệ sĩ sáng tác điện ảnh chỉ có thể sáng
tạo khi có sự tham gia của nhà sản xuất và đội ngũ kĩ thuật trong quá trình
làm phim và thƣởng thức phim.
Chủ thể sáng tạo một tác phẩm văn học dƣờng nhƣ rất đơn giản đó là
nhà văn, trang giấy, cây bút, nhƣng để có một tác phẩm văn học đích thực,
công việc sáng tạo của nhà văn cực kì gian khổ. Họ đã lao động miệt mài để
các tác giả nghệ thuật khác nhƣ nhạc sĩ, các chuyên viên kỹ thuật về ánh
sáng, hình ảnh, âm thanh, kỹ xảo...
Nhƣ vậy, chủ thể sáng tạo tác phẩm văn học và phim truyện chuyển thể
điện ảnh là hoàn toàn khác nhau.
1.2.2.3. Khác biệt về phương thức tạo ra tác phẩm
Phƣơng tiện sáng tác của văn học là bút và giấy, sau khi viết xong sẽ
đƣa nhà xuất bản in và phát hành. Phƣơng tiện tạo ra tác phẩm điện ảnh là
một hệ thống cơ sở vật chất về khoa học kĩ thuật và công nghệ. Văn học là
con đẻ của ngôn ngữ viết, còn điện ảnh là con đẻ của khoa học kỹ thuật.
Không có khoa học kỹ thuật thì không có nghệ thuật thứ 7. Tuy nhiên, kĩ
thuật không quyết định toàn bộ chất lƣợng nghệ thuật điện ảnh, nhƣng góp
phần không nhỏ trong quá trình xây dựng, sản xuất và trình chiếu phim.
19
Bên cạnh các tác giả nghệ thuật, có một đội ngũ chuyên viên kỹ thuật
vừa làm công việc của nghệ thuật và kỹ thuật nhƣ: tổ quay phim, tổ ánh sáng,
tổ thiết kế mỹ thuật, đạo cụ, hóa trang... Điện ảnh lúc mới ra đời chỉ là những
hình ảnh chuyển động nối tiếp nhau. Dần dần, điện ảnh chinh phục âm thanh,
làm chủ màu sắc, mở rộng màn ảnh gấp đôi, gấp ba, tiến tới màn ảnh vòng
cung, màn ảnh toàn diện, âm thanh đa chiều... kỹ thuật số thúc đẩy điện ảnh
phát triển vƣợt bậc. Mỗi lần xuất hiện những thay đổi hoặc bổ sung kỹ thuật
mới nhƣ thế đều có ảnh hƣởng lớn đến ngôn ngữ điện ảnh.
Trong sáng tác văn học nhà văn không lệ thuộc vào vấn đề kinh tế,
nhƣng điện ảnh thì hoàn toàn khác, nếu không có kinh phí thì không thể sản
xuất phim. Trong quá trình làm phim nếu kinh phí phát sinh vì nhiều lý do
bất khả kháng, nhà sản xuất và biên kịch sẽ phải thay đổi kịch bản nhƣng vẫn
đảm bảo tính tƣ tƣởng nghệ thuật của phim.
Nhƣ vậy, sự khác biệt về hình thái ngôn ngữ, chủ thể sáng tạo, phƣơng