TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
======
NGUYỄN MAI HƯƠNG
HÀNH ĐỘNG NGÔN NGỮ CHỬI
TRONG TRUYỆN NGẮN CỦA
NAM CAO VÀ NGUYỄN CÔNG HOAN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Người hướng dẫn khoa học
TS. LÊ THỊ THÙY VINH
HÀ NỘI - 2017
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện khóa luận tôi đã nhận được sự hướng dẫn nhiệt
tình và chu đáo của TS. Lê Thị Thùy Vinh – Giảng viên tổ Ngôn ngữ, cùng sự
ủng hộ, góp ý của toàn thể các thầy cô trong khoa Ngữ văn – trường Đại học Sư
phạm Hà Nội 2.
Tác giả khóa luận xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và gửi lời cảm ơn
trân trọng nhất tới các thầy cô, đặc biệt là TS.GV. Lê Thị Thùy Vinh, người đã
giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận này.
Hà Nội, tháng 05 năm 2017
Tác giả khóa luận
Nguyễn Mai Hương
1.1.3. Dấu hiệu để nhận diện các hành động ngôn ngữ ............................................9
1.1.4. Điều kiện sử dụng hành động ngôn ngữ…………………………………...10
1.1.5. Phân loại hành động ngôn ngữ......................................................................12
1.1.6. Dạng thức thể hiện của hành động ngôn ngữ ................................................15
1.2. Hành động ngôn ngữ chửi.................................................................................16
1.2.1. Khái niệm .......................................................................................................16
1.2.2. Điều kiện xác định hành động chửi ...............................................................18
1.2.3. Dấu hiệu nhận diện ........................................................................................18
1.2.4. Phân loại hành động ngôn ngữ chửi..............................................................22
1.2.5. Phân biệt hành động chửi trong văn bản nghệ thuật với hành động chửi
trong giao tiếp đời thường .......................................................................................24
1.3. Truyện ngắn Nam Cao và Nguyễn Công Hoan ................................................28
1.3.1. Truyện ngắn Nam Cao ...................................................................................28
1.3.2. Truyện ngắn Nguyễn Công Hoan ..................................................................29
Chương 2: HÀNH ĐỘNG NGÔN NGỮ CHỬI TRONG TRUYỆN NGẮN NAM
CAO VÀ NGUYỄN CÔNG HOAN .......................................................................30
2.1. Đặc điểm cấu trúc của hành động ngôn ngữ chửi trong truyện ngắn Nam Cao
và Nguyễn Công Hoan .............................................................................................30
2.1.1. Hành động chửi có cấu trúc một từ ...............................................................31
2.1.2. Hành động chửi có cấu trúc một ngữ ............................................................36
2.1.3. Hành động chửi có cấu trúc một kết cấu C-V hay nhiều kết cấu C-V ...........37
2.1.4. Hành động chửi có cấu trúc là một đoạn văn................................................40
2.2. Dạng thức thể hiện của hành động ngôn ngữ chửi trong truyện ngắn Nam Cao
và Nguyễn Công Hoan .............................................................................................43
2.2.1. Hành động chửi trực tiếp ...............................................................................44
2.2.2. Hành động chửi gián tiếp ..............................................................................47
2.3. Vai trò của hành động ngôn ngữ chửi trong việc thể hiện nội dung và nghệ
thuật trong truyện ngắn của Nam Cao và Nguyễn Công Hoan ...............................48
riêng của từng tác giả, góp phần thể hiện nội dung tác phẩm, hấp dẫn bạn đọc.
Trên cơ sở đó, chúng tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu ““Hành động
ngôn ngữ chửi trong truyện ngắn của Nam Cao và Nguyễn Công Hoan”
với mong muốn tìm hiểu những cơ chế tâm lý bức xúc của người nói dẫn đến
1
việc sử dụng hành động ngôn ngữ này như một hiện tượng xã hội. Từ đó thấy
được sắc thái ý nghĩa đa dạng phong phú của hành động này hướng tới làm
nổi bật phong cách của mỗi nhà văn. Đồng thời, việc tìm hiểu hành động ngôn
ngữ chửi trong truyện ngắn của Nam Cao và Nguyễn Công Hoan cũng sẽ giúp
cho việc tiếp nhận hành động ngôn ngữ này ở các em học sinh được chuẩn
mực và hướng tới tính nghệ thuật hơn, tránh làm các em học sinh hiểu sai ý
nghĩa của việc tác giả sử dụng những hành động ngôn ngữ có phần “phản
cảm” này.
2. Lịch sử vấn đề
Theo Austin, “Khi chúng ta nói năng là chúng ta đang thực hiện một
loại hành động đặc biệt mà phương tiện là ngôn ngữ. Một hành động ngôn
ngữ được thực hiện khi một người nói (người viết) nói ra một phát ngôn cho
người nghe (hoặc người đọc) trong ngữ cảnh”. Austin cũng phân loại hành
động ngôn ngữ thành 5 nhóm (1) phán xử (verditives, verditifs); (2) hành xử
(exrcitives, exercitifs); (3) cam kết (commisives, commissifs); (4) trình bày
(expositives, expositifs); (5) ứng xử (behabitives, comportementaux). Trong
những nhóm trên, tác giả xếp hành vi ngôn ngữ chửi vào phạm trù ứng xử thể
hiện hành động phản ứng với cách xử sự của người khác, đối với các sự kiện
có liên quan.
Các công trình nghiên cứu trực tiếp về hành động chửi trong giao tiếp
của người Việt được khai thác tư liệu trên hai nguồn chính: lời nói hàng ngày
và lời thoại nhân vật trong tác phẩm văn học (truyện ngắn, truyện vừa, tiểu
thuyết, kịch, ca dao…). Có thể điểm đến các công trình như:
ngắn gọn nhưng có khả năng khoét sâu mâu thuẫn giữa các mối quan hệ khi
bản thân chủ ngôn nhận thấy mình bị mất mát, thiệt thòi hay bị làm nhục. Về
ý nghĩa, chửi là sự phản ánh trực tiếp bằng ngôn ngữ biểu hiện trạng thái căng
thẳng, căm tức, khinh bỉ, do vậy, từ ngữ mang tính phóng đại. Về phạm vi, lời
chửi không chỉ xuất hiện trong lời ăn tiếng nói hàng ngày, hành động chửi
3
được chuyển thành lời các nhân vật trong tác phẩm mà còn thành những lời
hát đối đáp trong ca dao dân ca... Như vậy, dù chỉ là những suy nghĩ bước
đầu, nhưng tác giả Phan Mậu Cảnh đã khẳng định sự tồn tại của hành động
chửi với những “lời lẽ tự nhiên trong những hoàn cảnh không thể khác được”
Luận văn “Đặc điểm cấu trúc, ngữ nghĩa của hành động chửi qua lời
thoại nhân vật trong truyện ngắn Việt Nam” (2014) của Trần Thị Hoàng Yến
đã khảo sát tỉ mỉ các kiểu dạng của hành động ngôn ngữ chửi, đặc điểm cấu
trúc và ngữ nghĩa của chúng từ đó chỉ ra một số phong cách nghệ thuật của
tác giả và cách thức sử dụng ngôn từ của nhà văn.
Như thế, có thể thấy, những kết quả nghiên cứu của các nhà ngôn ngữ
học, văn hóa học đã góp phần làm sáng tỏ và lý giải sự tồn tại tất yếu của một
nhóm hành động ngôn từ có khả năng đe dọa thể diện người nghe rất cao
trong thực tiễn giao tiếp – hành động ngôn ngữ chửi. Tuy nhiên, việc nghiên
cứu hành động ngôn ngữ chửi trong văn chương ở một số tác giả cụ thể một
cách hệ thống thì chưa có. Vì vậy, đề tài “Hành động ngôn ngữ chửi trong
truyện ngắn Nam Cao và Nguyễn Công Hoan” vẫn tìm được lối đi riêng,
không trùng lặp với những đề tài khác.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
- Đề tài hướng tới mục đích làm sáng tỏ đặc điểm cấu trúc, các dạng
thức thể hiện và vai trò của hành động ngôn ngữ chửi trong việc thể hiện nội
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5.1 Đối tượng nghiên cứu: Hành động ngôn ngữ chửi trong truyện ngắn
của Nam Cao và Nguyễn Công Hoan
5.2 Phạm vi nghiên cứu:
Do giới hạn về thời gian và khuôn khổ của đề tài, khóa luận giới hạn phạm
vi nghiên cứu trong:
5
- “Tuyển tập Nam Cao” – Nxb Văn học, 2013 (phần truyện ngắn trước
Cách Mạng tháng Tám)
- “Tuyển tập Nguyễn Công Hoan” – Nxb Văn học, 2015 (phần truyện
ngắn).
6. Đóng góp của khóa luận
- Về mặt lý luận
Đề tài góp phần thúc đẩy tích cực sự phát triển của chuyên ngành
ngữ dụng học cụ thể là đưa việc khai thác các hành động ngôn ngữ ở các tác
phẩm văn chương thành một khía cạnh để tìm hiểu nội dung, nghệ thuật tác
phẩm cũng như phong cách tác giả.
- Về mặt thực tiễn
Đề tài nhằm đem lại một cách nhìn mới về hành động ngôn ngữ chửi
cho người tiếp nhận văn chương, thấy được vai trò của hành động ngôn ngữ
này khi khai thác, cảm thụ truyện ngắn của Nam Cao và Nguyễn Công Hoan.
Đồng thời, đề tài cũng cung cấp, bổ sung những kiến thức trong việc giảng
dạy các tác phẩm của Nam Cao, Nguyễn Công Hoan ở trường phổ thông.
7. Bố cục của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, khóa luận
có cấu trúc 2 chương:
+ Chương 1: Cơ sở lí luận
Trong khóa luận này, chúng tôi dựa vào cách hiểu của J.R. Searle về
hành động ngôn ngữ để tiến hành phân tích , miêu tả các hành động ngôn ngữ
chửi của nhân vật trong truyện ngắn của Nam Cao và Nguyễn Công Hoan. Đó
7
là những hành động trao lời được nhân vật thực hiện trong một ngữ cảnh cụ
thể nhằm đạt đến mục đích nhất định. Và về cơ bản, hành động ngôn ngữ chửi
tác động trực tiếp, mạnh mẽ và sâu sắc đến thái độ, nhận thức và hành vi của
người bị chửi. Ví dụ
“ Nước mắt chảy quanh, bà bước chân ra gần đến cửa, quay lại rít lên:
- Thiếu gì cách lễ tết mà cậu phải nhục nhã như thế này!
Ngài trợn mắt
- Câm ngay! Mày làm cái gì mà bô bô cái mồm lên như thế. Đồ ngu như
lợn…cái gì mua được chứ cái này mua được à?
(Nguyễn Công Hoan, Xuất giá tòng phu)
Cùng với mục đích thỏa mãn cơn tức giận và nhằm coi thường, hạ nhục
đối phương mà vai chửi chủ động tạo ra các phát ngôn đạt mức độ thậm xưng
tối đa.
1.1.2. Cấu trúc của hành động ngôn ngữ
Dưới ánh sáng của lí thuyết hành động ngôn ngữ, các phát ngôn được
phân tích thành hai phần:
Nội dung miêu tả (hay còn gọi là nội dung mệnh đề; nội dung biểu
hiện) là nội dung sự tình, được phản ánh trong một mệnh đề, được đánh giá
đúng – sai.
Hiệu lực ở lời là hành động do hành vi ngôn ngữ được thực hiện đem
lại; biểu thị quan hệ.
Như vậy, theo Searle, công thức của một phát ngôn có dạng như sau:
F(p)
này dùng để tổ chức các kết cấu và là các dấu hiệu nhờ chúng ta biết được
hành vi nào đang được thực hiện. Đó là các từ ngữ chuyên dùng trong các
biểu thức ngữ vi hỏi như có (đã) … không (chưa), Có phải …hay không?, Ai,
cái gì, bao giờ, mấy,… Các từ ngữ chuyên dùng trong kiểu kết cấu cầu khiến
9
như: hãy, đi, đừng, chớ,… Đó là các từ ngữ như nên, không nên trong các
biểu thức ngữ vi khuyên; đó là các quán ngữ như đi đàng đầu, chết không
nhắm mắt,… và những mô thức nói năng tuy không cố định, do người nói
“sáng tạo ra” theo ngữ huống nhưng vẫn được cấu tạo phỏng theo một quán
ngữ nào đó như sẽ đâm vào ô tô mà chết trong các phát ngôn cam kết. Đó là
các từ ngữ mở đầu cho các biểu thức đánh giá: thật là…như thật là đẹp, thật
là tuyệt vời,… Đó là vô số những “lời chửi”: cha (mẹ)…, tiên sư
(nhân)…những lời rủa xả: đồ (mặt); đồ (con);…
- Ngữ điệu: Cùng một tổ chức từ vựng, ngữ pháp cụ thể nếu được phát
âm với những ngữ điệu khác nhau sẽ cho các biểu thức ngữ vi khác nhau ứng
với những hành vi ở lời khác nhau.
- Quan hệ giữa các thành tố trong cấu trúc vị từ - tham thể tạo nên nội
dung mệnh đề được nêu trong biểu thức ngữ vi với các nhân tố của ngữ cảnh.
Các đặc tính ngữ nghĩa như tự nguyện hay cưỡng bức, tích cực hay tiêu cực,
có lợi hay có hại,… của hành động đối với người tạo ra hành vi và người nhận
hành vi cũng có giá trị như những phương tiện chỉ dẫn hiệu lực ở lời.
- Động từ ngữ vi: đây được coi là một phương tiện chỉ dẫn hiệu lực ở
lời đặc biệt, đánh dấu cho một biểu thức ngữ vi tường minh. Động từ ngữ vi
là những động từ mà khi phát âm ra chúng cùng biểu thức ngữ vi là người nói
đã thực hiện luôn hành vi ở lời do chúng biểu thị. Thí dụ như “Tôi hứa với
anh là tô sẽ bỏ thuốc lá”. Động từ ngữ vi “hứa” của người nói (SP1) thể hiện
hành vi hứa của người nói với người nghe trong cuộc giao tiếp.
như: quy tắc mệnh đề; quy tắc chuẩn bị; quy tắc chân thành; quy tắc căn bản.
Bốn điều kiện đó cụ thể như sau:
- Điều kiện nội dung mệnh đề (Propositional content rule): đây là điều
kiện chỉ ra bản chất nội dung của hành động. Điều kiện này liên quan đến cấu
trúc ngữ nghĩa của nội dung mệnh đề (nội dung của hành động ở lời). Tức là
phải có phát ngôn chứa nội dung cụ thể.
11
- Điều kiện chuẩn bị (Preparatory rule): là điều kiện có liên quan tới
những hiểu biết của người thực hiện hành động nói về những tri thức nền, về
quyền lợi, về trách nhiệm, về năng lực tinh thần và vật chất của người tiếp
nhận hành động. Cũng thuộc điều kiện chuẩn bị là lợi ích, trách nhiệm… cũng
như quyền lực của người nói đối với hành động ở lời mà mình đưa ra.
- Điều kiện chân thành (Cincerity rule): là điều kiện chỉ ra các trạng
thái tâm lí tương ứng của người phát ngôn. Điều kiện này cho thấy, người nói
thực sự chân thành mong đợi hiệu quả ở lời của hành động mà mình thực
hiện. Ví dụ: Tôi hứa yêu em nhưng trên thực tế lại yêu một cô gái khác thì lời
hứa này không xem là chân thành.
- Điều kiện căn bản (Ensential rule): là điều kiện đưa ra kiểu trách
nhiệm mà người nói hoặc người nghe bị ràng buộc khi hành vi ở lời đó được
phát ra. Trách nhiệm có thể rơi vào hành động sẽ được thực hiện hoặc đối với
tính chân thực của nội dung. Chẳng hạn, khi nói: Tôi hứa đến dự đám cưới
của em thì người hứa phải bằng mọi cách để thực hiện, nếu không hứa thì việc
đến hay không cũng không quan trọng.
Theo J.R. Searle, hành động ở lời được phân thành 5 phạm trù: tái hiện,
điều khiển, cam kết, biểu cảm và tuyên bố. Hành động ngôn ngữ chửi thuộc
nhóm hành động biểu cảm.
1.1.5. Phân loại hành động ngôn ngữ
mách, …
Điều khiển: các hành động ngôn ngữ thuộc nhóm này có những đặc
điểm sau:
- Đích ở lời: người phát thông qua phát ngôn của mình để đặt người
nhận vào trách nhiệm thực hiện một hành động tương lai.
- Hướng khớp ghép là hiện thực – lời (hiện thực phải phù hợp với lời)
- Trạng thái tâm lí: sự mong muốn của người phát.
- Nội dung mệnh đề là hành động tương lai của người nhận.
13
Nhóm điều khiển bao gồm một số hành động ngôn ngữ tiêu biểu như:
yêu cầu, đề nghị, ra lệnh, sai, mời, khuyên, …
Ví dụ:
SP1: Anh uống nước đi!
Bằng phát ngôn của mình, SP1 đã đặt SP2 vào trách nhiệm thực hiện
một hành động “uống nước” trong tương lai.
Cam kết: Các hành động ngôn ngữ thuộc nhóm này có những đặc
điểm sau:
- Đích ở lời là người phát thông qua phát ngôn của mình để tự đặt mình
vào trách nhiệm phải thực hiện một hành động trong tương lai.
- Hướng khớp ghép là hiện thực – lời (hiện thực phải phù hợp với lời)
- Trạng thái tâm lí là ý định của người phát
- Nội dung mệnh đề là hành động tương lai của người phát.
Ví dụ:
SP1: Mai, tôi sẽ đến.
Bằng phát ngôn của mình, SP1 đã tự đặt mình vào trách nhiệm phải
thực hiện một hành động “đến” trong tương lai “mai”
Nhóm cam kết bao gồm một số hành động cam kết tiểu như: hứa, đe dọa,…
1.1.6. Dạng thức thể hiện của hành động ngôn ngữ
Hành động ngôn ngữ xét trong mối quan hệ giữa mục đích diễn đạt và
hình thức diễn đạt được thể hiện dưới hai dạng thức chính, đó là: hành động
ngôn ngữ trực tiếp và hành động ngôn ngữ gián tiếp.
Hành động ngôn ngữ trực tiếp là hành động ngôn ngữ được sử dụng
đúng với đích ở lời và điều kiện sử dụng.Ví dụ, để khuyên một ai đó nên làm
một việc gì đó, người nói sử dụng hành vi khuyên, chẳng hạn “Tôi khuyên
anh nên bỏ thuốc đi”.Hành động ngôn ngữ này là hành động ngôn ngữ trực
tiếp.
15
Hành động ngôn ngữ gián tiếp là thuật ngữ do Searle đặt ra. Theo đó,
hành động ngôn ngữ gián tiếp là hành động ngôn ngữ trong đó người nói thực
hiện một hành động ngôn ngữ này nhưng lại làm cho người nghe dựa vào
những hiểu biết ngôn ngữ hoặc ngoài ngôn ngữ để suy ra hiệu lực ở lời của
hành động ngôn ngữ khác. Ví dụ, ta có một hành động ngôn ngữ “Đóng cửa
giùm tôi được không?”. Hành động ngôn ngữ này trực tiếp hỏi thể hiện qua
phương tiện chỉ dẫn hiệu lực ở lời là “không” – từ ngữ chuyên dùng, nhưng
thực chất ở đây lại hướng tới hành vi ngôn ngữ gián tiếp là yêu cầu, đề nghị.
1.2. Hành động ngôn ngữ chửi
1.2.1. Khái niệm
Về khái niệm chửi, trong tiếng Việt có nhiều hình thức ngôn từ để biểu
thị, như chửi rủa, chửi bới, chửi xỏ, chửi chữ, chửi đổng, chửi bóng gió, chửi
mắng, mắng nhiếc, xỉ vả, đay nghiến, nhục mạ, nói nhiếc, nói mỉa, nói kháy...
và cũng có nhiều cách nói hình tượng thể hiện hành động này, như lời ong
tiếng ve, tiếng bấc tiếng chì, nói như tát nước vào mặt,... Ở các ngôn ngữ
khác, cách sử dụng thuật ngữ để biểu đạt hành động chửi đơn giản hơn, như
tiếng Anh chửi được gọi abuse, instuling...; trong tiếng Nga, chửi được gọi là
Việt” có đề cập đến hành động chửi nhưng không đưa ra định nghĩa. Tác giả
xem nó như một hành động tồn tại tất yếu trong đời sống xã hội. Hành động
này khá đa dạng với những biểu hiện cung bậc khác nhau: chửi rủa, chửi
kháy, chửi mỉa, chửi thề, chửi yêu, chửi mát...
Tóm lại, tuy những ý kiến trên có đề cập đến khái niệm hành động chửi
nhưng chưa nhiều, chưa đưa ra một định nghĩa, chưa đưa ra tiêu chí để nhận
diện chúng một cách minh định, chưa phân định hành động chửi trong khẩu
ngữ và trong lời nhân vật, cũng như phân loại các hành động chửi cụ thể theo
ngữ cảnh.
Từ bình diện ngữ dụng học, chúng tôi cho rằng hành động chửi là hành
động được vai nói sử dụng lời lẽ thô tục, cay nghiệt để thể hiện thái độ bực
17
tức, giận dữ, căm ghét của mình trong những ngữ cảnh nhất định và nhằm làm
mất thể diện của người nghe.
Ví dụ: “Mẹ kiếp! Không trách được người ta bảo “Tham như mõ”…”
(Nam Cao, Tư cách mõ)
1.2.2. Điều kiện xác định hành động chửi
- Nội dung mệnh đề: Nội dung mệnh đề là nội dung người nói đưa ra.
Chủ thể thực hiện HĐC bao giờ cũng đưa ra nội dung chê bai, chỉ trích, mạt
sát, sỉ nhục, hạ thấp giá trị của đối tượng, thể hiện thái độ không thiện chí,
không đồng tình với đối tượng.
- Điều kiện chuẩn bị: Trạng thái tâm lý của người nói trước khi chửi là
bực tức, giận dữ, căm ghét, khinh bỉ,... Khi thực hiện HĐC, người chửi không
chỉ có nhu cầu bộc lộ nhận thức mà còn hướng đến việc giải tỏa cảm xúc,
trạng thái tâm lí cá nhân.
- Điều kiện chân thành: Người nói thực sự tức giận và mong muốn lời
chửi của mình phải làm cho người nghe sợ và mất thể diện để hả giận.
Trạng thái tức giận, căm ghét hay phẫn nộ đối phương của vai chửi đươc ̣ thể
hiện qua cách dùng các từ ngữ giàu tính hình tượng, như: long lên, đỏ đọc, đỏ
ké, liếc, lườm, quắc mắt, trợn mắt, trừng trừng, gườm gườm,…
+ Nhóm từ ngữ miêu tả đặc điểm khuôn mặt, gồm: cau mặt, hằm hằm,
nhăn nhó, đỏ gay gắt, đỏ chín, đỏ lừ, đỏ bừng, cau cau mặt, xám mặt, vênh
mặt,...
+ Nhóm từ ngữ miêu tả hành động phụ trợ bằng tay, gồm: giơ tay, xắn
tay, giật, giằng, vằng, xô, đẩy, kéo giật, vỗ đùi, ôm mặt, phanh ngực, đập tay,
giật tóc, xỉa tay, ném lịch bịch, tay vung nắm đấm,...
+ Nhóm từ ngữ miêu tả đặc điểm hành động phụ trợ bằng chân, gồm:
giậm chân, đạp, nhảy chồm chổm, nhảy lên ghế, tiến thẳng, sấn, dân chân,...
- Dựa vào nhóm động từ miêu tả trạng thái tâm lí, thái độ của vai chửi
19
+ Nhóm động từ chỉ trạng thái tâm lí của vai chửi: cáu sườn, nổi sung,
nổi giận, đùng đùng, nổi giận lôi đình, giận dữ, giận, tức, tức điên, tức anh
ách, tức tưởi, bực bội, bực dọc, bức bối, uất ức, uất khí, phẫn uất, căm hờn,
xót xa, chua chát, quay cuồng, mệt nhọc, hổn hển, bỡn cợt,...
+ Nhóm động từ biểu thị thái độ của vai chửi: ngạo mạn, hả hê, khoái
trí, bỡn cợt, lồng lộn, hung hãn, cuống quýt, sốt sắng, dõng dạc, tỉnh queo, lừ
đừ,...
b) Dựa vào biểu thức ngữ vi
Biểu thức ngữ vi chửi: Biểu thức ngữ vi chửi không có mặt động từ
ngữ vi chửi. Chúng thuộc nhóm biểu thức ngữ vi nguyên cấp. Điều kiện để
xem xét các biểu thức ngữ vi chửi gồm:
- Dấu hiệu hình thức: Biểu thức ngữ vi chửi được bắt đầu bằng các dấu
gạch [ - ] ở đầu lời trao và lời đáp; biểu thức ngữ vi chửi được thể hiện trong
dấu ngoặc kép [“…”]; mỗi lượt lời chửi là một lần đặt trong ngoặc kép, sau