Luận văn sự tha hóa của con người trong truyện ngắn của Nam Cao - Pdf 33

1

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Về mặt khoa học
Trong trào lưu văn học hiện thực phê phán 1930-1945, ngoài những cây bút
xuất sắc như Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố…ta không thể
không nhắc đến Nam Cao- người đã có công rất lớn trong sự nghiệp hiện đại hóa
văn học dân tộc. Cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của Nam Cao trở thành một trong
những đề tài thu hút sự chú ý đặc biệt của các nhà nghiên cứu, phê bình văn học.
Tìm hiểu về nhà văn và những đứa con tinh thần của ông, ta càng thêm yêu mến,
nâng niu và quý trọng những gì nhà văn đã để lại cho đời.
Sáng tác của Nam Cao dù trước hay sau Cách mạng tháng Tám đều có những
thành công nhất định. Và hầu hết mỗi tác phẩm của Nam Cao đều thể hiện mối quan
hệ chặt chẽ giữa hoàn cảnh xã hội với cuộc sống của con người. Truyện ngắn của
Nam Cao trước 1945 thể hiện khá rõ đặc điểm này. Trong sáng tác của mình mà cụ
thể là ở thể loại truyện ngắn, Nam Cao luôn dành những trang viết để nói về cuộc
sống tủi nhục của con người trong xã hội thực dân nửa phong kiến. Trong đó, nhà
văn đặc biệt quan tâm đến sự bần cùng hóa, sự tha hóa của con người.
Hình ảnh con người tha hóa trong truyện ngắn Nam Cao không chỉ chứa đựng
giá trị hiện thực sâu sắc mà còn ngời sáng giá trị nhân văn, nhân đạo cao cả. Chính
điều này đã tác động mạnh mẽ đến suy nghĩ và tình cảm của người đọc. Từ đó có ý
nghĩa rất lớn đối với thực tế cuộc sống hiện nay.
1.2. Về mặt thực tiễn
Trong chương trình ngữ văn ở trường phổ thông có một số tác phẩm của Nam
Cao, trong đó có hình ảnh con người tha hóa.Vì vậy chọn đề tài nghiên cứu trên cho
luận văn, chúng tôi sẽ có dịp tìm hiểu sâu hơn về Nam Cao cũng như sáng tác của
ông trước 1945.
Hơn nữa, trong xã hội hiện nay xuất hiện và tồn tại không ít những con người
bị tha hóa, biến chất ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển của đất nước . Từ việc
phân tích những con người cụ thể trong tác phẩm, chúng tôi sẽ liên hệ đến thực tế

nghĩa về một số nhà văn tiêu biểu như: Nam Cao, Vũ Trọng Phụng, Nguyên Hồng,
Nguyễn Tuân...Trong đó, có ba bài viết xuất sắc về Nam Cao đó là: Nhớ Nam Cao
và những bài học của ông, Cái đói và miếng ăn trong truyện ngắn Nam Cao và Đọc
lại truyện ngắn Đôi mắt của Nam Cao.
Trong cuộc sống, chuyện miếng ăn là chuyện nhỏ nhặt, vặt vãnh, tầm
thường, là vấn đề tế nhị, nhạy cảm. Nhưng không hề ngần ngại, Nam Cao đã đưa
những chuyện đời thường nhiều khi vụn vặt như thế vào trong tác phẩm của mình
một cách tự nhiên, phóng túng, sinh động và sâu sắc. Trước 1945, ngoài việc phải
đấu tranh chống lại giặc ngoại xâm, nhân dân ta còn phải đối diện với giặc đói , giặc
dốt. Trong đó, nạn đói được xem là một vấn nạn, một rào cản lớn nhất vừa đè nén
nhân dân ta, vừa cản trở sự phát triển của đất nước , vừa làm nảy sinh những tệ nạn
xã hội.
Đã có không ít nhà văn đề cập đến cái đói và miếng ăn trong tác phẩm của
mình như Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Nguyên
Hồng...Nhưng phải nói rằng Nam Cao vẫn là cây bút viết về vấn đề này nhiều hơn
cả và viết một cách sâu sắc, cay đắng va day dứt hơn cả. Nguyễn Đăng Mạnh viết:


3

“Miếng ăn là thử thách ghê gớm đã phân hóa các tính cách theo hai cực: hoặc mất
cả nhân cách, nhân tính như những nhân vật trong “Một bữa no”, “Trẻ con không
biết ăn thịt chó”, “Chí Phèo”, “Quên điều độ” hoặc trở thành những bậc chí
thiện như lão Hạc. Cái đói và miếng ăn là cái gông nặng nề đã đè dúi dụi anh trí
thức nghèo xuống sát mặt đất để biến tất cả những ước mơ, những triết lí của anh
ta trở thành huênh hoang, vớ vẩn, giả dối và khôi hài...Nó là thứ thần định mệnh
quái ác chi phối toàn bộ thế giới nhân vật của cuốn tiểu thuyết “Sống mòn”, đẩy tất
cả vào tình trạng “Sống mòn” bi thảm, không lối thoát” [4, 180].
Nói về vấn đề “ Con người tha hóa trong một số truyện ngắn của Nam Cao”,
chúng tôi sẽ đề cập nhiều đến chuyện cái đói và miếng ăn. Đây chính là một trong

hay Những kỉ niệm Nam Cao (1991) và khẳng định “Nam Cao không che giấu,
không màu mè gì hết, nói toạc cái cuộc sống cùng đường tận lối và nhơ nhớp của
nhứng người như anh”. Ông khẳng định tác phẩm của Nam Cao luôn thể hiện
những trải nghiệm từ cuộc sống của tác giả.
Hà Minh Đức ngoài Tuyển tập Nam Cao, còn có nhiều chuyên luận về nghệ
thuật sáng tạo tâm lý của Nam Cao “nhiều nhân vật trong Nam Cao đã bị cuộc đời
làm biến chất. Cuộc sống của họ là những tiếng kêu cho tình trạng cấp cứu của xã
hội…Nhân vật của Nam Cao có ý thức chống lại mọi trạng thái tha hóa, làm sai lạc
bản chất của mình, phải biết giữ lại nhân cách một nhân cách tốt nhất giữa cảnh
sống tầm thường nhỏ nhặt”. Điều này thể hiện rỏ ở mỗi loại nhân vật của Nam Cao.
Ấy là phút giây tỉnh táo trở về với lương tri và ý thức trách nhiệm, tự nhắc nhở và
hành động để chống lại mọi sự biến chất, tha hóa.
Ngoài ra trong Khảo luận văn chương, có hai bài viết xuất sắc, vừa mang tầm
khái quát cao, vừa cung cấp cho người đọc những kiến thức bổ ích liên quan đến đề
tài, đó là : Dòng văn học hiện thực phê phán 1930 – 1945 và Nam Cao.
Nguyên Hồng s(1960), Đọc những truyện ngắn của Nam Cao trích sách Sức
sống của ngòi bút, NXB Văn nghệ Hà Nội, 1936, ông phát hiện thêm những nét
mới trong sáng tác của Nam Cao “Nam Cao để lại cho cuộc sống, chính là những
hình ảnh sinh động của một số nông dân ngoi ngóp trong cảnh nghèo đói. Họ đã bị
áp bức và bóc lột đến cùng kiệt và cũng bị phá họai đến cùng kiệt cả thể chất cũng
như tinh thần dưới chế độ thống trị của bọn cường hào phong kiến”. Bên cạnh đó
còn có các bài viết như: Nam Cao - con người và xã hội cũ (1964) của Lê Đình Kị,
hay Nguyễn Văn Trung có bài Con người bị từ chối quyền làm người trong truyện
ngắn Chí Phèo của Nam Cao (1965). Qua đó thể hiện tư tưởng tiến bộ của nhà văn
là luôn đứng về phía những người nghèo khổ, đồng thời phản ánh hiện thực xã hội
và biểu hiện những suy nghĩ, trăn trở trong tư tưởng Nam Cao. Tư tưởng nhân văn
của Nam Cao được thể hiện qua tấn bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người của nhân
vật Chí Phèo, “Người ta từ chối cho những Năm Thọ, Binh Chức, Chí Phèo quyền
làm người, quyền sống lương thiện như mọi người. Thái độ ngang tàng, bạo ngược
của chúng chẳng qua là biểu lộ một tâm trạng tuyệt vọng. Tiếng chửi, tiếng kêu, cái

ngược lại là vô nhân đạo”. Nam Cao “dẫn” nhân vật mình vào con đường tha hóa,
lưu manh hóa, ngoài việc cho thấy vẽ nên bức tranh hiện thực lúc bấy giờ, ông còn
nêu cao giá trị nhân đạo cao đẹp.
Qua lịch sử nghiên cứu các vấn đề nêu trên, chúng tôi nhận thấy các nhà
nghiên cứu đã có những đóng góp đáng kể trong việc khảo sát, tìm hiểu, đánh giá về
Nam Cao cũng như sáng tác của ông trong suốt mấy thập niên qua. Mỗi bài viết,
mỗi công trình là một thành quả to lớn của người viết cung cấp cho người đọc
những kiến thức bổ ích về Nam Cao và sáng tác của ông, phục vụ đắc lực cho quá
trình học tập, giảng dạy và nghiên cứu văn học. Đồng thời giúp người đọc có cơ hội
nghiền ngẫm, chắt lọc những kiến thức trọng tâm, cơ bản và phát hiện những điều
độc đáo, mới lạ. Từ đó làm hành trang trên con đường học hỏi, tiếp nhận tri thức
văn chương.
Đề tài “Con người tha hóa trong truyện ngắn của Nam Cao trước 1945” sẽ kế
thừa và phát huy những bài viết hay, những phát hiện mới mẻ chủ yếu là về con
người mà cụ thể là những con người trên con đường bần cùng hóa, tha hóa, lưu
manh hóa...và những nguyên nhân dẫn họ đến con đường ấy.


6

Trong quá trình khai triển nội dung, chúng tôi sẽ cố gắng tìm tòi, nghiên cứu
thêm để đưa ra những kết luận, những luận giải, những nhận xét phù hợp và sáng
tạo.
3. Mục đích, phạm vi, phương pháp nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu:
Nghiên cứu đề tài này, chúng tôi hướng đến những mục tiêu cơ bản sau:
Tìm hiểu trào lưu văn học hiện thực phê phán 1930 – 1945 ở Việt Nam, từ đó
có cơ sở nghiên cứu về nhà văn Nam Cao và những tác phẩm của ông trước 1945.
Nghiên cứu hình ảnh “con người tha hóa trong truyện ngắn Nam Cao trước
1945”, từ phương diện nội dung và nghệ thuật và rút ra những nguyên nhân, hậu

con người,…
Phương pháp so sánh:
Các tác phẩm được tập trung nghiên cứu trong khóa luận ít nhiều có những
điểm gặp nhau nhưng giữa chúng vẫn có những sự khác nhau cơ bản. Như vậy,
trong quá trình triển khai, chúng tôi sẽ so sánh một số tác phẩm của Nam Cao.
Để thấy được nét riêng làm nên chỗ đứng của truyện ngắn Nam Cao trong lòng
bạn đọc, chúng tôi sẽ so sánh tác phẩm của ông với các nhà văn khác: Ngô Tất Tố,
Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Nguyên Hồng...
Phương pháp phân tích, chứng minh
Đây là phương pháp sử dụng tương đối nhiều trong luận văn, phân tích, chứng
minh để làm sáng rõ những khía cạnh của con người tha hóa trong truyện ngắn Nam
Cao.
Phương pháp diễn dịch, quy nạp
Phương pháp mở rộng: liên hệ thực tế,…
Ngoài ra, tùy từng trường hợp cụ thể mà chúng tôi sử dụng những phương
pháp hổ trợ phù hợp khác.
4. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn gồm ba chương:
Chương 1: “Con người tha hóa” trong truyện ngắn Nam Cao trước 1945 - một
cái nhìn khái quát.
Chương 2: “Con người tha hóa” trong truyện ngắn Nam Cao trước 1945- nhìn
từ phương diện nội dung.
Chương 3: “Con người tha hóa” trong truyện ngắn Nam Cao trước 1945- nhìn
từ phương diện nghệ thuật.


8

NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: “CON NGƯỜI THA HÓA”

cách mị dân ở thành thị. Phong trào Âu hóa, vui vẻ trẻ trung ở thành thị với các trò
đua thể thao, thi sắc đẹp, cải cách y phục…càng bộc lộ chân tướng của chúng và tạo
nên bao nghịch cảnh trong xã hội.


9

Xã hội Việt Nam thời kì này tồn tại những mâu thuẫn gay gắt giữa dân tộc
Việt Nam với thực dân Pháp và bọn tay sai của chúng, giữa các tầng lớp nhân dân
mà chủ yếu là nông dân với giai cấp địa chủ phong kiến. Từ năm 1940, phát xít
Nhật nhảy vào Đông Dương, nhân dân ta lại phải chịu thêm một tầng áp bức . Trong
thời kì chiến tranh thế giới thứ hai, thực dân Pháp và phát xít Nhật càng ra sức vơ
vét phục vụ cho cuộc chiến dẫn tới nạn đói khủng khiếp năm 1945, cướp đi hàng
triệu sinh mạng của đồng bào ta. Sự kiện đau lòng này đã trở thành đề tài chủ yếu
trong những sáng tác của các nhà văn đương thời. Tình cảnh đói nghèo cùng với
những cái chết thảm thương đã được không ít nhà văn phản ánh sinh động vào trong
tác phẩm của mình.
1.1.2. Về văn hóa, tư tưởng
Cùng với sự thay đổi về kinh tế, chính trị, đất nước ta giai đoạn này cũng có
những biến đổi to lớn và sâu sắc về mặt văn hóa, tư tưởng. Đó là những xung đột
giữa cái “cũ” và cái “mới” trong tư tưởng, lố sống diễn ra gay gắt và cái “mới” đã tỏ
rõ sự ưu thắng, đặc biệt là trong tầng lớp thanh niên thành thị đương thời.
Hệ tư tưởng phong kiến mà nòng cốt là Nho giáo đã mất dần địa vị thống trị.
Hệ tư tưởng tư sản từ phương Tây đã du nhập và ngày càng có ảnh hưởng rộng rãi
đối với tầng lớp trí thức, thị dân. Bên cạnh đó là sự tác động của tư tưởng dân chủ
khoa học của các nhà khai sáng Pháp và tư tưởng
Như vậy, nếu nhìn một cách tổng quát, bức tranh xã hội Việt Nam giai đoạn
1930 – 1945 là một bức tranh được phân thành hai mảng màu trái ngược nhau, một
là ở thành thị với những màu sắc mới mẻ của phong trào “ vui vẻ trẻ trung” của bọn
thống trị nhằm hướng xã hội và cả văn học đi vào những tình cảm cá nhân, hưởng

Lúc đầu, chủ nghĩa hiện thực xuất hiện như một kẻ đồng minh với chủ nghĩa
lãng mạn. Nhưng từ những năm 40, chủ nghĩa hiện thực đoạn tuyệt hẳn với chủ
nghĩa lãng mạn và mang một cảm hứng mới trong khuynh hướng phát triển, cảm
hứng phân tích phê phán trong sự cảm thụ và mô tả thực tại. Từ đây chủ nghĩa
hiện thực có thêm tên mới : Chủ nghĩa hiện thực phê phán.
Ở Việt Nam, trào lưu văn học hiện thực phê phán xuất hiện vào những năm
30 của thế kỉ XX, trong một hoàn cảnh xã hội đặc biệt (như đã trình bày ở trên). (Ở
Việt Nam, người ta thường dùng thuật ngữ “trào lưu” thay cho “chủ nghĩa”). Nó đã
có những đóng góp tích cực vào sự nhận thức với tinh thần phân tích phê phán bản
chất thối nát, phản động của các quan hệ xã hội đương thời, nhen nhóm sự bất bình
đối với thực tại xã hội đen tối, biểu thị lòng thương cảm đối với số phận của những
người cùng khổ.
Bằng những tác phẩm xuất sắc của mình, các nhà văn hiện thực phê phán tiêu
biểu như Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Nguyên Hồng, Nam
Cao,…đã góp phần đáng kể vào việc phát triển văn học hiện đại nước nhà.
Văn học hiện thực phê phán ở Việt Nam phát triển qua ba chặng. Nếu như
Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Ngô Tất Tố,… là những đại diện tiêu biểu
cho hai chặng đường phát triển trước thì Nam Cao là đại biểu ưu tú nhất cho trào
lưu văn học hiện thực phê phán ở chặng đường cuối cùng. Qua những sáng tác viết
về người nông dân, Nam Cao đã dựng nên bức tranh chân thực về nông thôn Việt
Nam những năm 1940 – 1945. Với việc khai thác những chuyện đời tư vặt vãnh
hàng ngày, Nam Cao đã viết sâu sắc về hình ảnh người nông dân và người trí thức,
đặc biệt là sự tha hóa của con người trước những tác động của hoàn cảnh.


11

1.2. “Con người tha hóa” trong sáng tác của một số nhà văn cùng thời
1.2.1. Khái niệm tha hóa
Trước khi khái niệm giá trị thặng dư được hình thành, lần đầu tiên trong bản

Theo từ điển tiếng Việt, Hoàng Phê chủ biên, NXB Đà Nẵng 1996, “tha hóa”
nghĩa là biến thành cái xấu đi, biến thành cái khác đối nghịch lại.


12

Trong hệ thống triết học phương Tây hiện đại, “tha hóa” (tiếng AnhAlienation) chỉ “mối quan hệ chủ thể và chức năng nào đó của nó khiến cho bản
chất của chủ thể trở nên nghèo nàn và dẫn đến sự thay đổi (theo từ điển NXB Khoa
học xã hội, Hà Nội, 1996).
Khái niệm “con người tha hóa” mà chúng tôi đang đề cập đến trong khóa
luận này, mang nét nghĩa: con người thay đổi theo hướng tiêu cực, mất dần phẩm
chất đạo đức do nhiều nguyên nhân khác nhau.
1.2.2. “Con người tha hóa” – đối tượng phản ánh chính của một số nhà
văn
Nhìn chung vấn đề “con người tha hóa” được các nhà văn của trào lưu văn
học hiện thực phê phán 1930-1945 đưa vào tác phẩm của mình một cách sinh
động, phong phú với những cách tiếp cận khác nhau. Qua quá trình tìm hiểu và
nghiên cứu, chúng tôi xin trình bày một số nội dung tiêu biểu liên quan đến vấn đề
này của một vài nhà văn. Từ đó có cái nhìn đối sánh với hình tượng “con người tha
hóa” trong truyện ngắn của Nam Cao.
Quan tâm đến mối quan hệ giữa con người và hoàn cảnh trong trạng thái đầy
biến động của xã hội, Vũ Trọng Phụng đặc biệt quan tâm đến “con người tha hóa”.
Vấn đề “con người tha hóa” trở thành nỗi ám ảnh và mối quan tâm đặc biệt trong
sáng tác của Vũ Trọng Phụng.
Các nhân vật trong tiểu thuyết của Vũ Trọng Phụng đều được miêu tả trong
sự ám ảnh của môi trường, hoàn cảnh sống theo một quan điểm bất di bất dịch.
Trong quan niệm của ông, những “ông chủ, bà chủ”, tầng lớp thượng lưu trí thức
sống trong các môi trường trưởng giả, đã độc ác, bất nhân, giả dối ngày càng trở
nên độc ác, bất nhân, giả dối hơn. Những con người bản chất vốn lương thiện như
Mịch, Long trong Giông tố, một khi đã rơi vào môi trường sống lầm than thì y như

nuôi cô được độ ba năm, bác đánh giậm đã thấy nản lòng. Cái cảnh túng bán nó
thường đẩy người ta vào chốn bùn nhơ, nó thường buộc người ta vào vòng tội
lỗi…ác hơn, nó làm bác bỏ cả lương tâm”. Cũng vì miếng ăn mà bác gái đã quát
bà lão: “Hết rồi..! Còn đâu nữa mà chìa mãi bác ra..Đến tôi đây quần quật suốt
ngày, đã ốm cả xác mà cũng chỉ được có ba lưng thôi đấy.. Bà không phải làm gì,
ngồi nhà ăn ít cũng được”. Qủa thật cái đói đã khiến con người ta quên mất mình
là một con người, mà đã là con người thì phải có lương tâm, có tình thương. Cũng
vì nghèo đói mà người anh cả của Xuân đã chống nạng lên đường sinh chuyện với
bố mẹ vì chuyện đuổi thằng bé ra khỏi nhà và có những lời nói hỗn xược với bố
mẹ mình. Còn những con người trong truyện ngắn Bộ răng vàng đã đánh mất
lương tri và đạo lí làm người khi cha mới mất đã không lo tang lễ mà lại lao ngay
vào cuộc chia tài sản. Không những thế những đứa con bất hiếu còn cạy mồm
người chết để lấy bộ răng vàng. “Để một tay giữ trên đôi mắt người qua đời, còn
một tay nó bóp lấy hàm, cố vành cho được. Thấy hơi răn rắn nó liền dùng hết sức,
cố vành mồm kẻ chết móc ra cho được bộ răng vàng”. Ghê gớm hơn là người anh,
sau khi hiểu chuyện, miệng thì mắng vợ chồng đứa em “bất hiếu” nhưng tay thì
nhặt bộ răng vàng bỏ túi và đe: “Chú thím đã định lừa tôi như thế thì bộ răng này
sau khi bán được mong rằng chú thím đừng nhớ đến chuyện chia”.
Như vậy, trong ý thức thường trực của Vũ Trọng Phụng, hoàn cảnh xã hội
những năm 30 của thế kỉ trước, nếu không là miếng đất tốt để cho cái ác, cái xấu,
cái dâm, cái đểu, cái giả dối phát triển thì cũng là môi trường làm tha hóa, làm thui


14

chột những bản chất tốt đẹp của con người. Nói cách khác, trong quan niệm của
Vũ Trọng Phụng thì “hoàn cảnh” là nguyên nhân chủ yếu dẫn con người đến tình
trạng tha hóa về nhân cách.
Hình ảnh “con người tha hóa” còn được Nguyễn Công Hoan đề cập và miêu
tả một cách sinh động trong tác phẩm của mình. Nhìn hiện thực từ quan điểm giàu

sáng ); Hai thằng khốn nạn, Thật là phúc, Mất cái ví, Thằng điên,…đều là những


15

truyện đặc sắc nói về tính chất “khốn nạn” của bọn thống trị, bóc lột trong xã hội
cũ. Nguyễn Công Hoan đã đứng trên lập trường dân tộc và dân chủ để phê phán để
phê phán quyết liệt những kẻ ức hiếp, áp bức, bóc lột những người nghèo khổ. Ông
đặc biệt có ác cảm và khinh bỉ sâu sắc đối với bọn quan lại “ôm chân đế quốc để
mưu cầu phú quý trên lưng những người nghèo hèn”.
Trong thế giới nhân vật của Nguyễn Công Hoan, ta dễ dàng nhận ra hai kiểu
nhân vật : nhân vật chính diện và nhân vật phản diện. Đối với nhân vật chính diện,
Nguyên Công Hoan luôn tỏ thái độ bênh vực, bảo vệ và đứng về phía họ. Ngược
lại ở nhân vật phản diện, ông đã vạch trần những trò bịp bợm, những tội ác không
thể thể dung tha. Và những nhân vật phản diện là những con người trong quá trình
tha hóa, lưu manh hóa. Từ thế giới nhân vật phản diện, toát lên quan niệm nghệ
thuật của Nguyễn Công Hoan về con người: Con người tha hóa – vật hóa.
Như vậy, một điều nổi rõ trên những trang viết của Nguyễn Công Hoan đó là
tiếng cười trào phúng, châm biếm, đả kích mạnh mẽ, sâu cay vào những kẻ xấu xa,
bỉ ổi, những tên sâu mọt, đục khoét, làm hại người nông dân . Điều này gần giống
với phong cách của Vũ Trọng Phụng. Tiếng cười trào phúng đầy cay đắng và căm
uất của Nguyễn Công Hoan thể hiện một thái độ phủ nhận tất cả, hạ bệ tất cả
những kẻ giàu có, quyền thế cũng như những bọn thanh niên, nam nữ đua đòi, chạy
theo lối sống Âu hóa một cách lố lăng, kệt cỡm. Phê phán chế độ thực dân phong
kiến ở phương diện xã hội ( qua xung đột giàu – nghèo) và nhất là trên phương
diện đạo đức. Trong quá trình đó có hình ảnh những con người đang dần mất đi
bản chất tốt đẹp vốn có của mình. Đồng thời Nguyễn Công Hoan đã thể hiện khá
rõ ràng quan điểm, lập trường của mình trong vấn đề đấu tranh giai cấp, bảo vệ
người dân lao động.
Những thói hư tật xấu, những mặt trái của xã hôi không chỉ đến thời Nguyễn

trở ra, Nam Cao tham gia đoàn công tác thuế nông nghiệp vào vùng địch hậu khu III
với dự định kết hợp lấy thêm tài liệu để viết cuốn tiểu thuyết về quê hương chiến
đấu. Không may ông đã hi sinh trên đường làm nhiệm vụ tại Miễu Giáp, Hoàng
Đan, Ninh Bình vào ngày 30/11/1951 khi tài năng đương độ chín, khi bao dự định
sáng tạo còn dang dở.
Nam Cao là người có tấm lòng nhân đạo sâu sắc, có ý thức gắn bó thủy chung
với nhân dân, có một tâm hồn biết lắng nghe, một tiếng nói tha thiết biết an ủi và vỗ
về từ bên trong để chia sẻ lòng mình đến với những cảnh đời nghèo khổ, trước hết
là những người thân trong gia đình. Đó là bà ngoại ở góa từ năm 22 tuổi một đời vất
vả nuôi con cháu. Đó là người mẹ hiền lam lũ, người vợ chịu thương, chịu khó,
người dì bế ẳm nhà văn từ tấm bé…Hình ảnh những con người ấy nhiều lần trở đi,
trở lại trong các trang viết của nhà văn (Một bữa no, Nghèo, dì Hảo,…)
Nam Cao là một người rất đặc biệt, một người thường không nhất quán giữa
hình thức bên ngoài và tâm hồn, tính cách bên trong. Con người ấy bề ngoài có vẻ
lạnh lùng – ông tự chế giễu là “cái mặt tôi lạng như đá và ngượng nghịu và vô
duyên” (Cái mặt không chơi được) – nhưng bên trong thì luôn luôn sôi sục một
cuộc vật lộn âm thầm mà quyết liệt giữa cái phàm tục và cái cao thượng, giữa cái
thói giả dối và tính chân thực, giữa chủ nghĩa ích kỉ và lòng nhân ái, giữa thái độ
hèn nhát và tinh thần dũng cảm,…
Nam Cao có gương mặt “không được duyên”, tính tình thì hơi nhút nhát.
Chính cái bộ mặt lạnh lùng, cái bộ mặt “ trông… nó làm sao ấy” [12, 6] và cái tính


17

rụt rè của mình đã cản trở ông rất nhiều trong cuộc sống và sinh hoạt hàng ngày.
Những tâm sự ấy được Nam Cao giải bày một cách giản dị, chân thành trong “Cái
mặt không chơi được, Truyện tình, Những truyện không muốn viết”. Ông thường
lấy luôn cái “tôi” đầy ưu tư của mình ra mà chế biến thành những Hộ, những Điền,
những Hài,những Thứ,…trong truyện ngắn và truyện dài của ông…Đủ để chúng ta

Mang theo nhiều ước mơ xa xôi và những nổi buồn vẩn vơ của lứa tuổi học sinh


18

chịu ảnh hưởng của sách báo lãng mạn, Nam Cao trong tuổi trẻ không khỏi có lúc:
“Tâm hồn tan tác thành trăm mãnh; Vương vấn theo ai bốn góc trời” [1, 255].
Tuy nhiên tận sâu trong suy nghĩ, nhà văn vẫn luôn trăn trở, luôn dò dẫm để
tìm một lối đi, một con đường đi đúng đắn, phù hợp và quan trọng hơn là đúng với
mong ước của một nhà văn chân chính. Và cuối cùng ông cũng đã tìm được mãnh
đất tốt tươi để ươm mầm nghệ thuật, đó là sống theo thực tế, viết dựa vào thực tế.
Nam Cao nhanh chóng thoát khỏi thế giới mộng tưởng để trở về với cuộc đời thực.
Nam Cao dần nhận ra rằng thứ văn chương đó rất xa lạ với đời sống của bản thân,
với cuộc sống đói nghèo, cơ cực của người lao động. Từ đó ông đoạn tuyệt với nó
để tìm đến con đường nghệ thuật hiện thực vị nhân sinh. Nam Cao đã dõng dạc phát
biểu : “Nghệ thuật không cần phải là ánh trăng lừa dối, không nên là ánh trăng lừa
dối, nghệ thuật có thể chỉ là tiếng đau khổ kia thoát ra từ những kiếp lầm than” [6,
85]. Sự chuyển biến ấy thực ra không dễ dàng, đơn giản chút nào, nó thực sự là một
quá trình khó khăn, gian khổ nhưng dứt khoát và sự thay đổi này có lẽ phù hợp với
hoàn cảnh xuất thân cũng như một tâm hồn nhạy cảm, nhiều ưu lo như Nam Cao.
Trong quan niệm nghệ thuật về con người, Nam Cao không phát biểu thành lời
quan niệm của mình về vấn đề con người tha hóa. Nhưng qua việc đọc, tìm hiểu và
nghiên cứu những tác phẩm của Nam Cao trước Cách mạng tháng Tám 1945, chúng
tôi nhận thấy một điều là đa phần trong những sáng tác của giai đoạn này, Nam Cao
đều lấy hình ảnh người nông dân và người trí thức tiểu tư sản làm nhân vật trung
tâm cho tác phẩm của mình. Và một điều đặc biệt là những con người ấy đều là nạn
nhân của xã hội thuộc địa nửa phong kiến, của sự bóc lột, tàn nhẫn và bất công.
Sống trong bầu không khí ngột ngạt, u ám của sưu cao, thuế nặng, của dịch bệnh,
của tệ nạn xã hội, con người nghèo đói lại càng nghèo đói thêm, tội lỗi lại càng tội
lỗi thêm, vô tình họ đã biến mình thành những kẻ tha hóa, biến chất, làm mất đi vẻ

mình, như chúng ta đã biết làng Vũ Đại quê ông là một bức tranh thu nhỏ của xã hội
nông thôn Việt Nam thời kì trước 1945. Ở đó xuất hiện biết bao gia đình, bao số
phận cơ cực, tủi hờn, sống một cuộc sống mà sự sống cận kề với cái chết, danh dự,
lòng tự trọng của con người lại đem ra so sánh với chuyện miếng ăn. Ranh giới giữa
chúng thật mong manh, thường đặt con người vào những sự lựa chọn, miếng ăn hay
là danh dự (Trẻ con không được ăn thịt chó, Tư cách mỏ, Một bữa no…), nhân
phẩm hay là cái chết (Chí Phèo, Lão Hạc…).
Ở đề tài người trí thức, Nam Cao mô tả chân thực tình cảnh “áo cơm ghì sát
đất của anh giáo nghèo, nhà văn, học sinh thất nghiệp: Sống mòn, Đời thừa, Trăng
sáng, Nước mắt,…Hơn thế nữa, nhà văn còn đi sâu phân tích tấn bi kịch tinh thần
của họ. Trong quan niệm của Nam Cao, họ là những người luôn ý thức về giá trị
của sự sống, nhân phẩm, muốn nâng cao ý nghĩa cuộc đời nhưng do nghèo đói,
hoàn cảnh xã hội ngột ngạt đã làm họ chết mòn, “sống mòn”, sống cuộc “đời thừa”.
Vì vậy, khi nhận ra sự thay đổi đó, hầu hết nhân vật của Nam Cao đều day dứt, dằn
vặt, đau khổ.
Là một nhà văn hiện thực nhất trong những nhà văn hiện thực thời bấy giờ,
Nam Cao không thể đứng nhìn những việc xảy ra bằng đôi mắt của một người dân
bình thường mà phải nhìn bằng đôi mắt, bằng trái tim, bằng lương tâm của người
cầm bút. Chứng kiến không ít những chuyện xảy ra ở xung quanh mình, Nam Cao
chạnh lòng, đau xót nhưng không làm gì được. Ông nhặt nhạnh, thu gom, chắt lọc
những chuyện đời thường như vậy qua lăng kính chủ quan của một nhà văn để đưa


20

vào tác phẩm của mình một cách sinh động và sâu sắc. Vì thế những nhân vật trong
truyện ngắn của Nam Cao nhiều khi “thật hơn cả con người thật”.
Mặt khác, con người trong quan niệm của Nam Cao chịu sự ảnh hưởng và tác
động sâu sắc của hoàn cảnh xã hội và cuộc sống hàng ngày. Hoàn cảnh thay đổi làm
cho con người đổi tâm, đổi tính (Sao lại thế này). Trước sự đè nén của xã hội, của

truyện ngắn của ông đều do nợ áo cơm mà nên.


21

Tuy nhiên, một điều đáng chú ý là, khi miêu tả cảnh đói nghèo của người lao
động kể cả khi họ bị vùi dập, làm cho tha hóa, Nam Cao đã cố gắng đi sâu, tìm hiểu,
khám phá và khẳng định bản chất tốt đẹp của họ. Và những nhân vật bị đầu độc tâm
hồn, lưu manh, biến chất, Nam Cao đã nhận thấy rằng họ không buông xuôi theo số
phận, để rơi vào vực thẳm sa ngã mà cố đấu tranh vươn lên để giành lấy sự sống,
bảo vệ nhân phẩm, giữ vững lẽ sống của mình. Dù đau đớn nhưng Hộ sẵn sàng vứt
bỏ sự nghiệp để giữ lấy vơi con, dù mắc sai lầm là đánh vợ, đuổi con nhưng Hộ ở
cuối tác phẩm là người biết ăn năn, hối lỗi, quyết giữ vững lẽ sống, tình thương.
Bên trong con người lưu manh Chí Phèo, Nam Cao đã phát hiện và khẳng định bản
chất lương thiện tốt đẹp. Trên đường tìm về với sự sống nhưng không được xã hội
chấp nhận, Chí Phèo đã tự thủ tiêu đời mình để bảo toàn danh dự, nhân phẩm.
Là “người thư ký trung thành của thời đại”, với một bút pháp riêng đầy tính
sáng tạo, Nam Cao đã đặt trước người đọc hàng loạt vấn đề : những cảnh đời éo le,
những con người nhỏ bé, những bi kịch đau dớn, vật vả. Thông qua đó, Nam Cao
phản ánh không khí ngột ngạt, tăm tối và bế tắc của xã hội Việt Nam trước Cách
mạng tháng Tám. Ông tỏ thái độ vừa xót thương vừa trân trọng đối với những số
phận nghiệt ngã - nạn nhân của xã hội tàn bạo bấy giờ. Như vậy, Nam Cao luôn đòi
hỏi nghệ thuật phải trở về với đời sống hiện thực, phải phản ánh chân thực hiện thực
cuốc sống, phải là “những tiêng đau khổ thoát ra từ những kiếp lầm than”.
Rõ ràng, Nam Cao đã định hình cho mình một phong cách riêng, gắn liền với
chủ nghĩa hiện thực sâu sắc. Nếu vậy có gì mâu thuẫn với việc xuất hiện một cách
thường xuyên, có hệ thống những nhân vật tha hóa trong truyện ngắn của Nam Cao
trước 1945? Phải chăng trong tư tưởng và quan niệm nghệ thuật về con người có sự
mâu thuẫn giữa chủ nghĩa hiện thực và chủ nghĩa tự nhiên, giữa chủ nghĩa nhân đạo
và sự mạt sát con người?

no, cuối cùng bà cái tí đã chết vì bội thực ( Một bữa no), có những hành động vũ
phu, dã man, Trương Rự đã một lần giết chết cả mẹ và vợ (Nửa đêm), Chí Phèo đã
tự kết liễu đời mình sau khi giết chết Bá Kiến, người đã cướp đi phần người của
hắn…Vì nghĩ đến tương lai sau này của đứa con trai duy nhất mà Lão Hạc nhịn ăn
rồi bán cậu Vàng và tìm đến cái chết. Tuy nhiên, Lão Hạc và cái cái chết của lão là
một trường hợp ngoại lệ, một con người độc đáo trong thế giới nhân vật của Nam
Cao.
Quan niệm nghệ thuật của Nam Cao về con người nói chung, về vấn đề “con
người tha hóa” nói riêng, thể hiện sự già dặn của một cây bút luôn muốn tìm tòi,
khám phá, phát hiện những vấn đề liên quan đến con người trong sáng tác của mình.
Tiểu kết
Chương 1 là chương trình bày những vấn đề mang tính khái quát, giúp người
đọc có cái nhìn bao quát nhất về những vấn đề liên quan đến nội dung đề tài. Trong
chương này, chúng tôi đã trình bày theo cách đi từ “diện” đến “điểm”, từ những vấn
đề chung đến nội dung cụ thể. Giai đoạn 1930 -1945 là giai đoạn có nhiều biến đổi
về kinh tế, chính trị; văn hóa tư tưởng và tình hình văn học, đặc biệt là sự phát triển
của trào lưu văn học hiện thực phê phán 1930-1945. Xã hội xáo trộn, con người
cũng bị kéo theo guồng quay nghiệt ngã ấy, đó là tình trạng con người mất dần
những phẩm chất đạo đức vốn có, bị biến chất, tha hóa. Bên cạnh việc trình bày vấn
đề “con người tha hóa” trong sáng tác của một số nhà văn cùng thời với Nam Cao,
chúng tôi còn trình bày quan niệm nghệ thuật về con người, từ đó có cái nhìn liên hệ


23

đến hình ảnh “con người tha hóa” trong truyện ngắn Nam Cao. Như vậy, nội dung
chương 1 là cơ sở ban đầu để chúng tôi khai triển nội dung của chương tiếp theo –
một chương quan trọng trong khóa luận này.



những cuộc đời hoặc đần độn, ngu ngơ hoặc điên loạn, cuồng dại như trong sáng
tác của Nam Cao. Ấy là hàng loạt nhân vật Chí Phèo, Thị Nở (Chí Phèo), là mụ
Lợi, Lang Rận (Lang Rận), là Trạch Văn Đoành (Đôi móng giò), là Trương Rự,
Đức, Nhi (Nửa đêm),…
Một trong những nhân vật tha hóa về ngọai hình trước tiên là Chí Phèo. Sau
bảy, tám năm ngồi tù, Chí Phèo về làng, một cuộc hồi hương đầy căm hận và
người ta không còn nhận ra hắn nữa, hắn “trông đặc như thằng sắng cá ! cái đầu


25

thì trọc lóc, cái răng cạo trắng hớn, cái mặt thì đen mà rất cơng cơng, hai mắt
gờm gờm trông gớm chết ! Hắn mặc quần nái đen với cái áo tây vàng. Cái ngực
phanh, đầy những nét chạm trổ rồng, phượng với một ông tướng cầm chùy, cả hai
cánh tay cũng thế. Trông gớm chết!” [6, 21] nhưng vẫn là khuôn mặt người. Thời
gian sau, khuôn mặt hắn giống như một con vật lạ, không còn bộ dạng của một con
người nữa. “Cái mặt hắn không trẻ cũng không già ; nó không còn phải là mặt
người : nó là mặt một con vật lạ, nhìn mặt những con vật có bao giờ biết tuổi? cái
mặt hắn vàng vàng mà lại muốn sạm màu gio ; nó vằn dọc, vằn ngang, không thứ
tự, biết bao nhiêu là sẹo…” [6, 37]. Nhìn khuôn mặt đã thấy Chí Phèo ngày càng
tuột dốc, sa đọa, ngày càng có những biểu hiện khác đi, trái ngược với trước đó.
Nam Cao không tả chi tiết, tỉ mỉ, ông chỉ phác họa những nét cơ bản, tiêu
biểu như đầu tóc, răng, gương mặt, mắt, những hình xăm,…nhiêu đó thôi đủ để
người đọc hình dung chân dung nhân vật đầy phức tạp này. Nhìn bộ dạng khủng
khiếp của Chí, ai nấy trong làng đều sợ hắn, xa lánh hắn. Trong con mắt của họ,
Chí Phèo là “con quỹ dữ”, là tên lưu manh của làng Vũ Đại ngày ấy.
Nam Cao đã không bỏ qua phương diện miêu tả về ngoại hình của nhân vật
để thấy sự tha hóa bước đầu của con người. Xã hội ấy không chỉ lăng nhục, hủy
hoại nhân tính mà con cướp đi nhân hình, nhân dạng của con người, biến họ thành
những dị nhân.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status