Diễn ngôn lịch sử trong tiểu thuyết Sương mù tháng giêng của Uông Triều - Pdf 44

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN

======

VŨ THỊ MINH THU

DIỄN NGÔN LỊCH SỬ TRONG
TIỂU THUYẾT SƯƠNG MÙ THÁNG GIÊNG
CỦA UÔNG TRIỀU
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lý luận văn học
Người hướng dẫn khoa học

PGS.TS. PHÙNG GIA THẾ

HÀ NỘI - 2017


LỜI CẢM ƠN
Em xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành, sâu sắc tới các thầy cô giáo trong
khoa Ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, đặc biệt là PGS.TS Phùng
Gia Thế đã trực tiếp tạo mọi điều kiện, giúp đỡ, chỉ bảo tận tình cho em trong
suốt thời gian nghiên cứu, hoàn thành khóa luận này.
Do còn hạn chế về thời gian cũng như kiến thức của bản thân nên khóa
luận không thể tránh khỏi những thiếu sót. Kính mong nhận được sự góp ý từ
thầy cô và các bạn sinh viên.
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 4 năm 2017
Tác giả khóa luận


1.1.1. Khái niệm diễn ngôn từ ngôn ngữ học đến văn học .............................. 7
1.1.2. Vấn đề diễn ngôn trong văn học ......................................................... 11
1.1.3. Diễn ngôn lịch sử trong khoa học lịch sử ............................................ 15
1.1.4. Diễn ngôn tiểu thuyết lịch sử - một bình diện quan trọng của diễn ngôn
trong sáng tác và nghiên cứu văn học ........................................................... 16
1.1.4.1. Tính đối thoại của diễn ngôn tiểu thuyết .......................................... 17
1.1.4.2. Diễn ngôn tiểu thuyết lịch sử là diễn ngôn về cuộc sống đang tiếp
diễn chưa có hồi kết ..................................................................................... 20
1.1.4.3. Lịch sử được “nhào nặn” bằng các thủ pháp của khuynh hướng hậu
hiện đại......................................................................................................... 21
1.2. Hành trình sáng tạo của Uông Triều ...................................................... 23
1.2.1. Sáng tác của Uông Triều trong bối cảnh văn học đương đại ............... 23
1.2.2. Tiểu thuyết Sương mù tháng giêng - điểm nhấn trong sáng tác của Uông
Triều............................................................................................................. 25


CHƯƠNG 2: DIỄN NGÔN LỊCH SỬ TRONG SƯƠNG MÙ THÁNG GIÊNG
TỪ GÓC NHÌN NHÂN VẬT....................................................................... 27
2.1. Các kiểu loại nhân vật trong tác phẩm ................................................... 27
2.1.1. Kiểu nhân vật đa nhân cách ................................................................ 27
2.1.2. Kiểu nhân vật cô đơn ...................................................................................... 28
2.1.3. Kiểu nhân vật bản năng, tự nhiên........................................................ 31
2.2. Nghệ thuật xây dựng nhân vật .......................................................................... 35
2.2.1. Từ diện mạo đến tính cách .................................................................. 35
2.2.2. Nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật ..................................................... 37
CHƯƠNG 3: DIỄN NGÔN LỊCH SỬ TRONG SƯƠNG MÙ THÁNG GIÊNG
CỦA UÔNG TRIỀU NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN NGÔN TỪ VÀ GIỌNG
ĐIỆU ............................................................................................................ 41
3.1. Về phương diện tổ chức ngôn từ ............................................................ 41
3.1.1. Ngôn từ đậm chất tiểu thuyết .............................................................. 41

cũng xuất hiện một bộ tiểu thuyết lịch sử nổi tiếng là Hoàng Lê nhất thống chí
của nhóm Ngô gia văn phái. Sang đầu thế kỷ XX, Trùng Quang tâm sử của
Phan Bội Châu thật sự mang tính chất của của tiểu thuyết lịch sử (dù nó vẫn
mang kiểu cấu trúc chương hồi của tiểu thuyết Minh - Thanh, Trung Quốc).
Theo thời gian, tiểu thuyết lịch sử trở thành một dòng chảy liên tục không thể
thiếu trong lịch sử văn học Việt Nam với hàng trăm tác phẩm của các nhà văn
nổi tiếng như Nguyễn Huy Tưởng, Hà Ân, Nguyễn Xuân Khánh, Hoàng Quốc

1


Hải, Nguyễn Mộng Giác… Trong dòng chảy thể loại, tiểu thuyết Sương mù
tháng giêng của Uông Triều đã khẳng định được chỗ đứng vững chắc trên văn
đàn Việt Nam. Uông Triều cũng là một trong số ít các nhà văn trẻ được đánh
giá là có nhiều triển vọng trong đời sống văn học đương đại, đặc biệt là ở
mảng đề tài lịch sử.
1.3. Nghiên cứu một tiểu thuyết lịch sử của một tác giả đương đại, tác
giả khóa luận còn có tham vọng khắc phục một phần sự chia cắt giữa văn học
nhà trường với đời sống văn học đương đại.
Đó là các lí do chủ yếu khiến chúng tôi lựa chọn việc nghiên cứu “Diễn
ngôn lịch sử trong tiểu thuyết Sương mù tháng giêng của Uông Triều”
làm đề tài khóa luận tốt nghiệp đại học của mình.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Sương mù tháng giêng là tác phẩm tiêu biểu cho tư tưởng thẩm mĩ của
Uông Triều. Tác phẩm đã góp phần không nhỏ trong việc tạo dựng nên tên
tuổi của tác giả trên văn đàn nghệ thuật. Cho đến nay, ý nghĩa tư tưởng cũng
như những cách tân về mặt nghệ thuật của cuốn tiểu thuyết vẫn là lời thách đố
đầy quyến rũ và trở thành đề tài cho nhiều công trình nghiên cứu khoa học.
Có thể kể đến một số bài viết tiêu biểu sau đây:
Trong bài: “Trong Sương mù tháng giêng” in trên báo Nhân Dân ra ngày

“Uông Triều không viết lại lịch sử, nhà văn cũng không coi lịch sử như cái
móc áo để khoác trên đó những quan điểm của cá nhân mình. Anh coi trọng
chân lí lịch sử, coi trọng những tín niệm của cộng đồng dân tộc. Bằng cái nhìn
hiện đại, anh để cho các nhân vật lịch sử tự lên tiếng nói với người hôm nay
về những gì đã làm” [19].
Có thể nhận thấy, các bài nghiên cứu nói trên ít nhiều đã sơ bộ nói đến
diễn ngôn lịch sử trong Sương mù tháng giêng. Tuy nhiên, chưa có công trình
nào đi sâu phân tích, tìm hiểu vấn đề này. Trên cơ sở đó, chúng tôi lựa chọn
và triển khai nghiên cứu đề tài: Diễn ngôn lịch sử trong tiểu thuyết Sương mù

3


tháng giêng của Uông Triều.
3. Mục đích nghiên cứu
Với tính chất nghiên cứu lý thuyết ứng dụng, khóa luận sẽ góp phần làm
sáng tỏ lý thuyết diễn ngôn ở thể tài tiểu thuyết lịch sử và phân tích đặc điểm
diễn ngôn lịch sử qua tiểu thuyết Sương mù tháng giêng của Uông Triều. Nếu
hoàn thành tốt, khóa luận sẽ là nguồn tư liệu khả tín cho những ai quan tâm
đến vấn đề này.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
4.1. Tìm hiểu và làm rõ cơ sở lý luận về lý thuyết diễn ngôn, vận dụng lý
thuyết diễn ngôn để tìm hiểu diễn ngôn trong tiểu thuyết lịch sử.
4.2. Chỉ ra được sự tương đồng và dị biệt trong diễn ngôn lịch sử với
diễn ngôn tiểu thuyết lịch sử, từ đó đề nghị một cách hiểu rộng hơn về lịch sử.
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5.1 Đối tượng nghiên cứu
Diễn ngôn lịch sử trong tiểu thuyết Sương mù tháng giêng của Uông
Triều.
5.2 Phạm vi nghiên cứu

được giải thích một cách cặn kẽ. Nhiều nhà khoa học xác nhận đó là khái
niệm còn bỏ ngỏ, mỗi người nghiên cứu sử dụng theo cách hiểu riêng của
mình, người đọc phải dựa vào ngữ cảnh để hiểu cách dùng trong từng trường
hợp cụ thể. Vì thế, việc tìm cách xác định nó vẫn là một đòi hỏi bức thiết của
khoa học. Tuy nhiên, nghiên cứu khoa học, dù trực tiếp hay gián tiếp, đều
hướng đến mục đích là trả lời cho câu hỏi: diễn ngôn là gì và diễn ngôn trong
văn bản có đặc điểm gì? Tùy theo khuynh hướng nghiên cứu mà người ta
nhận được nhiều cách diễn giải khác nhau về khái niệm diễn ngôn.
Theo khảo chứng của Manfred Frank, từ diễn ngôn (discourse) bắt nguồn
từ tiếng La tinh: Discoursus, mà từ này có gốc động từ là “discurere” có nghĩa
là “tán láo chơi, nói huyên thuyên”. Như vậy, diễn ngôn là một lối nói, cách
nói, hoặc là một lượt nói có độ dài không xác định, sự triển khai không bị hạn
định bởi chủ ý nghiêm ngặt. Trong tiếng Pháp, “diễn ngôn” rất gần với tán
gẫu, nói chuyện phiếm, kể chuyện,… Còn theo tác giả Roland Barthes thì
diễn ngôn được hiểu với những hàm nghĩa sau: “Thứ nhất là sự giao tiếp bằng
lời, nói chuyện, hội thoại. Thứ hai là sự triển khai một vấn đề nào đấy bằng
cách nói hoặc viết theo một trật tự. Thứ ba, các nhà ngôn ngữ học thường sử
dụng thuật ngữ diễn ngôn để chỉ một đơn vị của văn bản - đơn vị ngôn ngữ
lớn hơn câu” [4;1].
Các ý nghĩa khác xa nhau, xung đột, mâu thuẫn nhau, do đó chưa có
một nội hàm thuật ngữ khoa học xác định. Sự phân hóa phức tạp về nghĩa của

6


thuật ngữ khi xuất hiện trong những khung lý thuyết khác nhau đã dẫn đến sự
chồng chéo của các tầng nghĩa, gây nên nhiều khó khăn cho các nhà nghiên
cứu. Có lẽ vì thế, việc làm cần thiết nhất đối với chúng ta khi tiếp cận thuật
ngữ này là đặt nó vào những bối cảnh sử dụng khác nhau, từ đó nghiên cứu
xem trong mỗi bối cảnh sử dụng khác nhau nét nghĩa nào của thuật ngữ diễn

một số nhà ngữ học nhận thấy sự thiên lệch trong nghiên cứu của Saussure,
họ thấy cần thiết phải nghiên cứu lời nói, nghiên cứu văn bản, nghiên cứu
diễn ngôn và diễn ngôn được đề xuất như đối tượng mới của ngôn ngữ học.
David Nunan khi giải quyết lí thuyết phát ngôn đã sử dụng một cách
nhất quán thuật ngữ “discourse” có tính truyền thống đối với ngôn ngữ học
Pháp theo ý nghĩa mới như là đặc điểm của lời nói do người nói nhận biết.
Nhà nghiên cứu này đã đối lập diễn ngôn với hệ thống ngôn ngữ khi ông
khẳng định: “Câu, một sáng thể phong phú vô hạn, là hành động nói của con
người trong đời sống hằng ngày. Từ điều này, chúng ta có thể kết luận rằng:
Với câu, chúng ta chuyển từ khu vực ngôn ngữ như một hệ thống các ký hiệu
sang một vũ trụ khác, khu vực ngôn ngữ như một công cụ giao tiếp mà hình
thức diễn ngôn tả của nó là diễn ngôn” [16;4].
Khái niệm diễn ngôn văn học trong quan niệm của R. Bathes là “lối viết
là một hành động liên kết lịch sử (…), lối viết là một chức trách, nó là một
quan hệ giữa sáng tạo và xã hội; nó là hình thức bị bắt chộp trong ý đồ có tính
người của mình và gắn liền với những khủng hoảng lớn của lịch sử” [4;49].
Trong công trình Thi pháp văn xuôi [18;26], Tz. Todorov xem diễn ngôn
được hiểu là lời nói; kiểu diễn ngôn được tác giả đồng nhất với lời nói. Bài
viết đặc biệt chú ý đến chủ ý của diễn ngôn, đến địa vị và thái độ của chủ thể
diễn ngôn. Nghiên cứu cấu trúc của diễn ngôn, Todorov cho rằng mọi lý
thuyết về ngữ nghĩa, về các bộ phận diễn ngôn đều phải dựa trên sự phân biệt
giữa miêu tả và định danh, hai chức năng này của ngôn ngữ được phân phối
chủ yếu thành các đơn vị động từ và tính từ, ngoài ra có thể viện đến các

8


phạm trù thức, giọng, thì, dạng.
Trên đây, các nhà cấu trúc luận đã vận dụng mô hình ngôn ngữ để hiểu
diễn ngôn văn học. Họ xếp mọi hình thức diễn ngôn vào hệ thống ký hiệu.

thể, hoàn cảnh lịch sử, ngữ cảnh,… đều không có ý nghĩa quan trọng trong
việc quy định nghĩa của diễn ngôn thì Bakhtin cho rằng, ý nghĩa diễn ngôn,
phương thức diễn ngôn (cách dùng từ gì, cụm từ gì…) không chỉ do cấu trúc
ngôn ngữ hay do cá tính người phát ngôn quy định mà còn do ngữ cảnh, do
các mối quan hệ nói trong xã hội quy định. Diễn ngôn gắn liền với ký hiệu
nên gắn liền với xã hội, nó mang tính xã hội. Con người phải nói theo các quy
tắc ngôn ngữ nhất định nếu muốn tồn tại trong xã hội.
Như vậy, đối với Bakhtin, diễn ngôn không phải là ngôn ngữ; hai khái
niệm này có nội hàm khác nhau, nền tảng tư tưởng khác nhau: Ngôn ngữ là
đối tượng của ngôn ngữ học truyền thống, còn diễn ngôn là đối tượng của
khoa học xã hội nhân văn. Trong ngôn ngữ học truyền thống, ngôn ngữ là
hình thức, công cụ còn tư tưởng là nội dung, có thể độc lập với hình thức.
Trong lí luận diễn ngôn, nội dung và hình thức cùng quan hệ của chúng như
cách hiểu truyền thống không còn có ý nghĩa nữa. Hay nói cách khác, chúng
ta không thể nào phân biệt nội dung và hình thức của diễn ngôn. Nội dung của
diễn ngôn tức là hình thức và hình thức tức là nội dung. Cái gọi là chỉnh thể
ngôn ngữ mà Bakhtin hay dùng thực chất là diễn ngôn. Sự phân cách ngôn
ngữ của Bakhtin thực chất là phân tích diễn ngôn, tác giả nghiên cứu cái phần
mà ngôn ngữ học không nghiên cứu - phần nội dung, ý nghĩa và sức mạnh do
ngôn ngữ mang lại. Bakhtin nêu xu hướng nghiên cứu ngôn ngữ học, tức lấy
diễn ngôn (lời nói, văn bản) làm đối tượng nghiên cứu, hình thành khuynh
hướng “diễn ngôn học”, mở ra một hướng mới trong cách tiếp cận ngôn từ
văn học. Với tác giả, diễn ngôn là ngôn ngữ trong chỉnh thể sống động, cụ
thể, ngôn ngữ trong sử dụng, có tư tưởng, có tính hoạt động xã hội, tức tính
thực tiễn. Diễn ngôn là bất cứ lời nói nào được phát ra trong thực tế chứ

10


không phải là ngôn ngữ trong từ điển, nó không thể tách rời ý thức chủ quan

ngôn ngữ, các phương tiện tu từ đều gắn với những nội dung văn hóa, tư
tưởng nhất định. Đồng thời, diễn ngôn văn học gắn chặt với lịch sử tư tưởng,
nó là một bộ phận của hệ tư tưởng, chịu sự chi phối của các hình thái ý thức
xã hội, của ý thức hệ, văn hóa, thẩm mỹ. Mỗi thời đại với tư tưởng khác nhau,
ý thức hệ khác nhau, tôn giáo khác nhau, thị hiếu thẩm mỹ khác nhau,… sẽ
tạo nên tri thức khác nhau, từ đó sẽ tạo nên diễn ngôn khác nhau và điều này
cũng chính là vấn đề “phong cách thời đại”. Văn học sử thi thời kỳ cách
mạng (Liên Xô, Việt Nam, Trung Quốc,..) diễn tả chủ yếu là cái hùng, nếu có
miêu tả cái bi thì cái bi này cũng là cái bi hùng, bi tráng chứ không phải là bi
lụy. Nó đòi hỏi văn học phải luôn mang trong mình một niềm tin vào cuộc
chiến đấu anh dũng của dân tộc, niềm tin vào cuộc sống tươi sáng ở ngày mai,
theo đúng “phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa”. Chẳng hạn,
trong các sáng tác của M. Gorki, A. Tolsoy, M. Cholokhov,… của văn học
Xô-viết; Tố Hữu, Hữu Mai, Nguyễn Khải, Anh Đức, … của Việt Nam; Khúc
Ba, Dương Mạt, Lương Bân,… của Trung Quốc, v.v… đều có chung một tinh
thần, cảm hứng sáng tác như thế. Thế nhưng, ngày nay quan niệm về văn học
sử thi đã nhạt dần nhường chỗ cho văn học thế sự, nhấn mạnh hơn cái “tôi” cá
nhân, đi sâu hơn những “vùng tối”, “góc khuất”, “điểm mờ” của hiện thực
cũng như trong con người. Quan niệm này đã làm xuất hiện một số diễn ngôn
mang đặc trưng mới như: Đoạn đầu đài (Tsinghiz Aitomatov), Chuyện
thường ngày ở huyện (V. Auvetskin),… ở Nga; Linh sơn (Cao Hành Kiện),
Cao lương đỏ (Mạc Ngôn), Thiếu nữ đánh cờ vây (Sơn Táp),… ở Trung
Quốc; Rừng Na-uy, Nhảy nhảy nhảy (Haruka Murakami),… ở Nhật Bản; Thời
xa vắng (Lê Lựu), Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh), Biết đâu địa ngục thiên
đường (Nguyễn Khắc Phê),… ở Việt Nam.
Có thể hiểu một cách ngắn gọn diễn ngôn trong văn học “là những quy
tắc phát ngôn, thường ẩn chìm trong vô thức cộng đồng quy định lối nói, cái gì

12



của chủ thể sáng tác. Từ đó, nó tạo ra một thế giới khả hữu, cung cấp tri thức
cũng như mở rộng hiểu biết và quan niệm của chúng ta về thực tại.
Diễn ngôn văn học được “lạ hóa”. Bản chất của hoạt động văn học là
không ngừng đổi mới và sáng tạo. Tuy nằm trong bộ khung tri thức của thời
đại nhưng với tính đặc thù vốn có, văn học luôn có xu hướng vượt thoát, phá
vỡ những khuôn khổ, hướng tới những chân trời mới. Đây chính là lí do khiến
diễn ngôn văn học được “lạ hóa”. Lạ hóa để tìm những giá trị vượt thời đại,
tìm kiếm những khung tri thức mới - không lặp lại, không lệ thuộc một cách
cứng nhắc các diễn ngôn đã tồn tại trước đó. Chẳng hạn như: Nguyễn Huy
Thiệp, Bảo Ninh, Hồ Anh Thái,… Sở dĩ, họ trở thành những “hiện tượng văn
học” là do họ sáng tác với ý thức vượt thoát, nhờ đó không những họ luôn cố
gắng vươn lên trong nỗ lực tạo ra sự khác biệt với các tác giả khác mà hơn thế
là khả năng làm mới chính mình, “lạ hóa” chính bản thân chủ thể sáng tạo.
Diễn ngôn văn học mang tính phỏng nhại. Diễn ngôn văn học không chỉ
có khả năng dung chứa, hấp thụ trong nó các tổ chức diễn ngôn của các lĩnh
vực khác như: lịch sử, văn hóa, triết học,… diễn ngôn văn học còn hướng tới
nhận diện, phân biệt và đối thoại với các diễn ngôn khác. Thuộc tính này đã
dẫn tới tính chất phỏng nhại của diễn ngôn văn học được biểu hiện trong từng
giai đoạn. Chẳng hạn, giai đoạn 1945 - 1975, diễn ngôn văn học được “chính
trị hóa” do chịu sự chỉ đạo và chi phối bởi tư tưởng cách mạng (sử dụng tràn
ngập ngôn từ chính trị trong văn bản văn học: đồng chí, chất vấn, ý kiến, cách
mạng, phấn đấu,…). Tuy nhiên, biểu hiện của tính phỏng nhại trong diễn
ngôn văn học khá phong phú: Phỏng nhại về phong cách, thể loại, nội dung tư
tưởng,… Ví dụ, ta có thể tìm thấy trong rất nhiều sáng tác truyện ngắn, tiểu
thuyết của Nguyễn Huy Thiệp có hiện tượng nhại phong cách của diễn ngôn
thơ, ca dao, hò, vè…
Tóm lại, diễn ngôn trong văn học là lối nói, là qui tắc phát ngôn được qui

14

15


của chiến công hoặc là những “tội nhân” của lịch sử. Các nhân vật lịch sử
xuất hiện gắn với những việc mà họ đã làm và sử quan chỉ quan tâm những
việc làm đó của họ có can dự vào tiến trình phát triển của lịch sử hay không.
Ngoài ra, tất cả các biểu hiện thuộc về đời sống tâm lí và thế giới nội tâm của
họ đều nằm ngoài phạm vi quan tâm của chính sử. Nói tóm lại, nhân vật lịch
sử là những con người của lịch sử.
Thứ tư, ngoài các lời bàn của sử quan được viết theo điểm nhìn sử quan
dưới một số sự kiện, thì điểm nhìn của diễn ngôn khoa học lịch sử là điểm
nhìn bên ngoài, khách quan, trung tính. Người chép sử tường thuật lại diễn
biến lịch sử theo ngôi thứ ba, đứng ngoài sự kiện, không can dự vào cũng như
không bày tỏ thái độ cá nhân trước những sự kiện ấy. Ví dụ, sự kiện Ích Tắc
dưới thời nhà Trần đầu hàng giặc được Đại Việt sử kí toàn thư chép như sau:
“Thượng vị Văn Chiêu hầu là Lộng đầu hàng Thoát Hoan, rồi sau Chiêu Quốc
vương là Ích Tắc và bọn Phan Cự Địa, Lê Diễn, Trịnh Long đều đem cả nhà
đầu hàng nhà Nguyên” [28;508]. Rõ ràng, ở đây, sử quan chỉ đơn thuần đóng
vai trò là người tường thuật sự việc mà hoàn toàn không kèm theo thái độ,
đánh giá. Nếu có đánh giá thì cũng thường phải đánh giá theo quan điểm
chính thống của giai cấp cầm quyền chứ không được phép theo quan điểm cá
nhân.
Như vậy, diễn ngôn khoa học lịch sử là một loại diễn ngôn dùng trong
chuyên ngành khoa học lịch sử. Các đặc trưng của nó là nguyên tắc mà người
chép sử phải tuân thủ và ngược lại mọi hoạt động của người chép sử trong việc
tạo lập nên một văn bản lịch sử chính là việc tạo nên một loại diễn ngôn - diễn
ngôn khoa học lịch sử.
1.1.4. Diễn ngôn tiểu thuyết lịch sử - một bình diện quan trọng của diễn
ngôn trong sáng tác và nghiên cứu văn học
Tiểu thuyết lịch sử đương nhiên là loại tiểu thuyết viết về đề tài lịch sử.

chuyện tranh luận, buộc họ phải nghiền ngẫm, chiêm nghiệm cùng khám phá

17


ra bề sâu của cuộc đời và con người.
Đối thoại với lịch sử, các nhà tiểu thuyết muốn xác lập tiếng nói riêng
của mình trong việc lật lại những vấn đề mà khoa học lịch sử cho rằng “đã
xong”, đã có thể nói lời kết cho nó. Với tư duy hậu hiện đại, con người không
còn đặt niềm tin vào những điều được cho là bất biến, thậm chí người ta còn
phủ nhận thuyết “tuyệt đối” bằng việc đưa ra thuyết “tương đối”. Với lịch sử
cũng vậy, cần nhìn nhận nó trong sự vận động liên tục chứ không phải là một
cái gì đó bất biến, đông cứng và tĩnh tại. Các nhà văn - những người thức
nhạy với tư duy dân chủ - không “vừa lòng” với sự phán xét về lịch sử cũng
như không tin vào những niềm tin xưa cũ. Do đó, họ trăn trở đi tìm một lời
giải hay đúng hơn là đưa ra những giả định có thể có từ sự hấp thụ vốn tri
thức lịch sử, văn hóa dân tộc, để từ đó xác lập vị thế quan điểm, lập trường và
tiếng nói cá nhân về lịch sử và tâm thức cộng đồng.
Có thể thấy rõ điều ấy qua tiểu thuyết Sương mù tháng giêng của Uông
Triều. Với tác phẩm này, nhà văn Uông Triều đã mời bạn đọc vào cùng một
trường đối thoại xung quanh nhân vật Trần Khánh Dư. Nhân Huệ vương Trần
Khánh Dư, tướng tài lừng lẫy, được phong Phiêu kỵ tướng quân, quyền chức
phán thủ nhưng vì mối tình ngang trái với công chúa Thiên Thụy mà phải về
đất Chí Linh kiếm sống. Chính sử coi việc buôn bán của ông là hèn mọn, xem
ông là kẻ “có tính tham lam, thô bỉ” [28;508] nhưng Uông Triều lại cho rằng:
“ngài chỉ bạo liệt và không khéo” [31;148]. Tác giả đối thoại với Khánh Dư
để Nhân Huệ vương bày tỏ lòng mình rằng “dân đen hay tướng soái cũng phải
sống thôi(…). Ta không tin lời sáo rỗng, gian dối. Làm người, ai chẳng phải
nghĩ đến mình, cứ cho rằng việc buôn bán là hèn hạ, nhiều khi chăm chăm giữ
mình quá, hóa ra không phải kẻ thức thời” [31;147]. Nhà văn đã rất tỉnh táo

lịch sử thì nhân tố quyết định đến thành công của tác phẩm nằm ở khả năng
làm mới lịch sử của mỗi nhà văn. Đôi khi người đọc quan tâm đến một tác
phẩm nào đấy cũng chỉ vì muốn xem nhà văn đó đối thoại với lịch sử như thế

19


nào.Và xét đến cùng, độc giả hiện nay đọc tiểu thuyết lịch sử với mục đích
chính là thử xem nhà văn xử lí chất liệu cũ như thế nào, có gì mới lạ trong tư
duy, quan niệm và cách đánh giá về lịch sử của nhà văn ấy hay không. Do đó,
đối thoại trở thành “phẩm chất” đầu tiên của một tác phẩm tiểu thuyết lịch sử.
1.1.4.2. Diễn ngôn tiểu thuyết lịch sử là diễn ngôn về cuộc sống đang tiếp
diễn chưa có hồi kết
Nếu diễn ngôn sử thi quan tâm đến một thế giới thuộc về quá khứ tuyệt
đối, là thế giới của khởi nguyên, của cha ông thì diễn ngôn tiểu thuyết lại
hướng đến cuộc sống đời thường, hướng đến con người với những bề bộn, sự
vận động của xã hội. Những nhân vật này mang trong mình một diễn ngôn
riêng. Phần lớn các diễn ngôn tiểu thuyết lịch sử thường kết thúc trong trạng
thái mở nên đòi hỏi độc giả phải có thái độ tiếp nhận một cách tích cực, chủ
động, phải có một vốn văn hóa nhất định để có thể diễn dịch được tác phẩm
một cách phong phú. Ngay cả khi viết về quá khứ, với cách nói, cách triển
khai ngôn ngữ của mình, các nhà tiểu thuyết cũng tạo cho người đọc cảm giác
như mình đang chứng kiến một câu chuyện của thì hiện tại. Điều này có thể
thấy rõ qua những diễn ngôn lịch sử như Giàn thiêu (Võ Thị Hảo), Minh sư
(Thái Bá Lợi),… Tiếp xúc với các tiểu thuyết này, chúng ta thấy lịch sử
không phải là quá khứ đông đặc, chết cứng mà là sống động, vận động đang
còn dang dở. Lịch sử không phải là cái đã qua, đã an bài mà nó hòa với hiện
tại, bị/được hiện đại hóa. Lịch sử đã được nhào nặn lại trong một cảm hứng
hết sức mới mẻ về những vấn đề đang được quan tâm như khát vọng tự do, bi
kịch của sự cách tân,… Người đọc ít có tâm thế yên ổn, bình thản khi nghe


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status