ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LÊ THỊ PHƢƠNG NGA
THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT TRONG KÝ
CỦA HÀ MINH ĐỨC
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 60 22 34
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS Đoàn Đức Phƣơng
Hµ néi - 2010
Lời cảm ơn
Tôi xin cảm ơn các thầy cô giáo khoa Văn học, Bộ môn Văn học Việt
Nam - Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà
Nội cùng gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi
cho tôi trong quá trình thực hiện luận văn. Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn
chân thành đến PGS.TS Đoàn Đức Phương - người đã tận tình giúp đỡ tôi
trong suốt quá trình hoàn thành luận văn này.
Xin chân thành cảm ơn.
Học viên
Lê Thị Phương Nga
Ch-ơng 3: Nghệ thuật ký Hà Minh Đức ............................... 52
3.1. Chất hiện thực và h- cấu trong các tác phẩm ký của Hà Minh Đức ... 52
3.1.1. Mối quan hệ giữa chất hiện thực và h- cấu trong thể loại ký ... 52
3.1.2. Biểu hiện của chất hiện thực và h- cấu trong ký của Hà Minh
Đức ........................................................................................................... 53
3.2. Về ngôn ngữ, giọng điệu .................................................................... 56
3.2.1. Ngôn ngữ, giọng điệu phê bình, bình luận ................................. 57
3.2.2. Ngôn ngữ, giọng điệu trữ tình, lãng mạn ................................... 58
3.2.3. Ngôn ngữ, giọng điệu dí dỏm, hài h-ớc ..................................... 62
3.3. Không gian, thời gian trong tác phẩm kí Hà Minh Đức .................. 66
Kết luận ................................................................................................... 71
1
Mở đầu
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Văn học Việt Nam từ sau năm 1975 có nhiều khởi sắc, đổi mới
về cả ph-ơng diện nội dung lẫn hình thức biểu hiện. ở hầu hết các thể loại
đều có những đổi mới, đóng góp vào sự phát triển chung của văn học dân
tộc. Đặc biệt, bối cảnh đất n-ớc đã hoàn toàn giải phóng không có nghĩa
là con ng-ời đã hết những mối lo và cuộc sống đã mất đi những điều thú
vị bất ngờ hay những hoàn cảnh éo le tác động đến chính bản thân con
ng-ời. Ng-ợc lại, trong hoàn cảnh đặc biệt này, cuộc sống của con ng-ời
càng trở nên đa dạng, nhiều màu vẻ. Nếu nh- trong thời kỳ tr-ớc, khi đất
n-ớc còn chìm trong cảnh khói lửa chiến tranh, cả dân tộc đều h-ớng đến
một mục tiêu cao cả nhất: đấu tranh giải phóng đất n-ớc thì sau khi giải
phóng, mỗi ng-ời lại trở về với cuộc sống riêng và những lo toan riêng của
mình. Bởi thế, nhu cầu mọi mặt của xã hội con ng-ời đã có nhiều thay đổi
và văn học đã nhanh chóng nắm bắt đ-ợc sự thay đổi đó.
đề tài khó về một đất n-ớc đa dạng, nhiều màu vẻ mà ai cũng có thể
hiểu phần nào, song để nắm bắt đ-ợc bản chất của nó thì d-ờng nh- là
điều không phải ai cũng có thể làm đ-ợc.
Nh- vậy, có thể nói, không chỉ thành công trên lĩnh vực nghiên cứu
văn học, Hà Minh Đức còn rất thành công trong vai trò là một tác giả sáng
tác. Tuy nhiên, điều này ngoài những ng-ời thực sự quan tâm đến văn học
hay nói đúng hơn là ngoài những chuyên gia, những nhà nghiên cứu, ít ai
biết đến. Chính vì vậy, mặc dù có giá trị lớn song các tác phẩm ký của ông
vẫn ch-a đ-ợc nghiên cứu, tìm hiểu và giới thiệu đến bạn đọc một cách có
hệ thống.
Với những lý do trên, chúng tôi lựa chọn đề tài Thế giới nghệ thuật
trong ký của Hà Minh Đức với mong muốn đóng góp một phần nhỏ bé
của mình vào việc khẳng định những giá trị cơ bản của tác phẩm ký Hà
Minh Đức trong sự vận động, phát triển của thể loại.
3
2. Lịch sử vấn đề
Những sáng tác kí của Hà Minh Đức thời kỳ này là sự kế thừa, tiếp
nối và góp phần hiện đại hóa một thể loại không còn xa lạ với độc giả nói
chung. Đây cũng là sự so sánh, đối chiếu với các tác giả cùng thời. Đồng
thời, những sáng tác kí của ông đã khắc phục những hạn chế mà thơ ca
hay văn xuôi không đáp ứng đ-ợc tr-ớc những nhu cầu ngày càng đa dạng
của cuộc sống con ng-ời.
Mặc dù vậy, nh- đã nói, các sáng tác kí của Hà Minh Đức còn khá
xa lạ với bạn đọc và các công trình nghiên cứu về các tác phẩm kí của ông
còn rất ít và ch-a có tính hệ thống. Hầu hết chỉ là những bài báo mang
tính chất giới thiệu, đánh giá về các tác phẩm khi mới ra đời. Chúng ta có
thể kể ra một số bài báo tiêu biểu đánh giá về các tác phẩm kí của Hà
bản chất của cuộc sống với lối viết giản dị, chân thực nh-ng cũng giàu
chất thơ. Tuy nhiên, sự nhìn nhận, đánh giá còn ch-a thật cụ thể và hệ
thống.
3. Mục đích và phạm vi nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Với việc chọn đề tài Thế giới nghệ thuật trong ký của Hà Minh
Đức, chúng tôi muốn đi vào việc tìm hiểu cuộc sống, con ng-ời đ-ợc phản
ánh trong các tác phẩm và nghệ thuật viết ký của ông. Từ đó, đóng góp
một phần nhỏ vào việc khám phá một khía cạnh mới của một tác giả từ lâu
đã quen thuộc trên lĩnh vực nghiên cứu, phê bình văn học. Đồng thời góp
phần tìm hiểu một cái nhìn mới về thể loại ký trong cảm quan của một nhà
phê bình văn học. Từ đó, có thể tìm hiểu một cách hoàn thiện và đầy đủ
hơn về thể loại ký trong thời hiện đại.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu là các tác phẩm ký của Hà Minh Đức. Tuy
nhiên, có sự so sánh, đối chiếu với các tác giả tr-ớc đây và các tác giả
cùng thời để có cái nhìn tổng thể và toàn diện hơn.
Các tập kí của Hà Minh Đức đ-ợc khảo sát trong luận văn:
5
- Vị giáo s- và ẩn sĩ đ-ờng (NXB Văn Học, 1999).
- Ba lần đến n-ớc Mĩ (NXB Văn Học, 2000).
- Tản mạn đầu ô (NXB Văn Học, 2002).
- Đi một ngày đàng (NXB Văn Học, 2004).
- Ng-ời của một thời (NXB Văn Học, 2009).
4. Ph-ơng pháp nghiên cứu
Khi tiến hành thực hiện đề tài này, chúng tôi đã sử dụng các ph-ơng
pháp nghiên cứu nh-: Ph-ơng pháp phân tích, tổng hợp; Ph-ơng pháp
hiện một thái độ thẩm mỹ với hiện thực, một cách cảm thụ, nhìn nhận, giải
minh thế giới và con ng-ời.
Từ tr-ớc đến nay, có rất nhiều quan niệm khác nhau khi xem xét
lịch sử phát triển của văn học. Trong đó, một số ý kiến cho rằng lịch sử
phát triển của văn học chính là lịch sử ra đời của các thể loại. Bởi vì mỗi
thời đại có những đặc điểm lịch sử khác nhau nên cũng đặt ra các yêu cầu
khác nhau với các tác giả sáng tác. Vì thế, không chỉ nội dung phản ánh
mà hình thức của các tác phẩm cũng phải thay đổi để phù hợp với nội
dung, cũng là đáp ứng những nhu cầu khác nhau của thời đại và con
ng-ời. ý kiến trên của Bakhtin cũng có thể nói là sự đồng ý với quan
điểm: lịch sử văn học là lịch sử ra đời của các thể loại. Chính vì vậy,
không thể khẳng định rằng thể loại nào hiện đại và quan trọng hơn thể loại
nào, mà chỉ có thể khẳng định rằng trong một giai đoạn lịch sử nhất định,
thể loại nào phù hợp hơn. Nh- vậy, có thể nói, mỗi thời đại đã sản sinh ra
dạng thức văn học mang đặc tính của nó. Trong đó, kí văn học là dạng
thức văn học mang đặc tính thời đại của chúng ta: bận rộn, đa dạng và
nhiều biến hoá.
Có thể nói, kí là tên một nhóm thể tài nằm ở phần giao thoa giữa
văn học và cận văn học (báo chí, chính luận, ghi chép t- liệu các loại), chủ
7
yếu là văn xuôi tự sự. Xét về mặt từ vựng, ký là sự ghi chép những điều
trông thấy, những điều đ-ợc chứng kiến, mắt thấy tai nghe hay những sự
thật, việc thật. Bởi vậy, xét về mặt lịch sử, ký ra đời từ rất sớm. Tr-ớc khi
có báo chí đã có các tác phẩm ký, chẳng hạn các tác phẩm ký của văn học
Trung Quốc hay với xã hội Nga vào giữa thế kỉ XIX có nhiều hỗn loạn,
chế độ nông nô sụp đổ, quý tộc suy đồi, tầng lớp hạ l-u bị bần cùng hoá,
ký là một trong những thể loại chủ đạo của văn học. Trong xã hội Anh đầu
từ. Tùy bút nghiêng hẳn về phía trữ tình với điểm tựa là cái tôi cá nhân của
tác giả.
Nh- vậy, có thể nói, mặc dù bao gồm nhiều tiểu loại khác nhau song
một điểm chung có thể thấy ở ký đó là những yêu cầu về chất hiện thực và
nhiệm vụ nắm bắt đ-ợc hơi thở của thời đại.
Tr-ớc đây, ký th-ờng bị xem nhẹ. Một số quan niệm cho rằng
những nghệ sĩ không thể sáng tác các thể loại khác thì mới đi vào viết ký.
Tuy nhiên, sự tồn tại và phát triển không ngừng của kí đã khẳng định điều
ng-ợc lại hoàn toàn. Trong quá trình viết ký, để viết đ-ợc hay là điều cực
kì khó khăn bởi vì tác giả vừa phải phản ánh một cách chân thực về hiện
thực đ-ợc chứng kiến, vừa phải tạo ra sự lôi cuốn, hấp dẫn cho độc giả.
Về đặc tr-ng nghệ thuật của ký cũng còn tồn tại nhiều quan điểm
khác nhau. Tuy nhiên, tựu trung lại, ký là một thể loại nằm giữa văn học
và báo chí. Chính vì vậy, nó vẫn bao gồm đặc tr-ng của cả hai thể loại
này. Có thể nói, ký có mối liên hệ chặt chẽ, sâu xa với hiện thực xã hội.
Nguyên tắc tiếp cận và phản ánh cuộc sống là cơ sở để tìm hiểu đặc điểm
của thể loại ký. Ký quan tâm đến đời sống ở nhiều chiều, nhiều đặc tính.
Nguyên tắc tôn trọng tính xác thực của đối t-ợng miêu tả là yêu cầu quan
trọng của thể loại này. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là kí loại bỏ
hoàn toàn sự h- cấu của tác giả. ở ký, sự h- cấu cần đ-ợc kiểm soát và
vận dụng có chừng mực, hợp lí. Giá trị của tác phẩm kí không nằm ở chỗ
tác phẩm đó h- cấu nhiều hay ít mà là việc tác giả vận dụng h- cấu đó nhthế nào để truyền tải t- t-ởng đến ng-ời đọc, ng-ời nghe. Chính vì những
9
đặc tr-ng hết sức quan trọng ấy, kí đã v-ợt qua báo chí, trở thành một thể
loại văn học vừa chính thống, vừa mang tính t- t-ởng cho thời đại. Đọc
các tác phẩm kí văn học, chúng ta có thể thu nhận đ-ợc nhiều hơn
những đặc tính của thời đại, của hiện thực xã hội đang diễn ra bởi khả
văn học trung đại Việt Nam, những tác phẩm ký tiêu biểu có thể kể đến đó
là: Th-ợng kinh kí sự (Hải Th-ợng Lãn Ông Lê Hữu Trác), Vũ trung tùy
bút (Phạm Đình Hổ)
Cùng với sự phát triển của văn học qua các thời kì lịch sử của dân
tộc, ký cũng không ngừng phát triển. Với tính chất là một thể loại coi
trọng tính khách quan và khả năng phản ánh hiện thực cuộc sống, một
điều tất yếu là ký luôn luôn gắn liền với những thăng trầm, đổi thay của
lịch sử dân tộc. Thời kỳ 1930 - 1945 đã chứng kiến sự phát triển mạnh của
thể loại phóng sự, đặc biệt là phóng sự về các tệ nạn xã hội. Đó là Tôi kéo
xe (Tam Lang), Cạm bẫy ng-ời, Kỹ nghệ lấy Tây (Vũ Trọng Phụng), Việc
làng, Tập án cái đình (Ngô Tất Tố). Đặc biệt là trong hai cuộc kháng
chiến vệ quốc vĩ đại chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, cùng với các thể
loại khác nh- tiểu thuyết, truyện ngắn, thơ ca, ký đã tạo nên một diện mạo
mới cho văn học Việt Nam hiện đại, nắm bắt đ-ợc một cách kịp thời,
chính xác những đổi thay cũng nh- hơi thở của thời đại. Thời kỳ này, các
tác phẩm ký đã xuất hiện với số l-ợng lớn, chất l-ợng cao nh-: Ký sự Cao
Lạng (Nguyễn Huy T-ởng, 1951), Truyện và ký sự (Trần Đăng, 1954),
Nhật kí ở rừng (Nam Cao, 1956). Trên văn đàn Văn học Việt Nam thời kỳ
này, đã khẳng định tên tuổi Nguyễn Tuân - một tác giả văn học xuất sắc,
một nghệ sĩ ngôn từ. Đặc biệt, ở thể loại tùy bút, những tác phẩm của ông
cho đến nay và mãi về sau này nữa, khó ai có thể v-ợt qua đ-ợc. Từ một
nhà văn lãng mạn thời kỳ tr-ớc Cách mạng tháng Tám, sau khi Cách mạng
thành công, ông đã tham gia phục vụ kháng chiến với những tác phẩm
xuất sắc, gắn liền với những chuyển biến của lịch sử dân tộc nh-: Bút kí
Đ-ờng vui (1949), Tình chiến dịch (1950), Hà Nội ta đánh Mỹ giỏi
(1972)...Sau ngày đất n-ớc hoàn toàn giải phóng, các tác phẩm của
11
tên
cho
dòng
sông
(1984)
Đây chính là những t- liệu quý giá không chỉ cho việc tìm hiểu một giai
đoạn lịch sử đáng nhớ của dân tộc mà còn đánh dấu cho nhu cầu tự thể
hiện của mỗi ng-ời nghệ sĩ.
Trong b-ớc phát triển chung đó của thể loại ký, cho đến cuối những
năm 90 của thế kỷ XX, bút ký và hồi ký lại có b-ớc tiến mạnh mẽ hơn cả.
Sở dĩ nh- vậy là vì hai tiểu loại này có -u thế lớn trong việc phản ánh hiện
12
thực. Với bút ký là sự ghi lại những điều mắt thấy tai nghe của nhà văn
trong những chuyến đi hay những câu chuyện, con ng-ời đ-ợc tiếp xúc
ngay trong cuộc sống th-ờng nhật. Với hồi ký là sự ghi lại những sự kiện
theo b-ớc chuyển của thời gian qua sự hồi t-ởng của con ng-ời. Các đề tài
đ-ợc quan tâm đến đó là những đề tài vĩ mô nh- tái hiện bức tranh hào
hùng của dân tộc qua hai cuộc chiến tranh vĩ đại hoặc ký ức về những sự
kiện, các biến động lớn của các dân tộc nh-ng mang tầm vóc và sự ảnh
h-ởng đến toàn cầu.
Bên cạnh việc khai thác các đề tài mang tầm vĩ mô về đất n-ớc, dân
tộc, các tác giả đã chuyển sang bám sát và phản ánh cuộc sống vi mô với
bài bút kí trong đó không thiếu những đoạn viết theo l ối phóng sự lẫn
hồi kí và có cả truyện ngắn [22; 45]. Điều này đã minh chứng cho sự
phát triển ngày càng linh hoạt và năng động của thể loại ký trong từng
thời điểm khác nhau.
Trong những năm gần đây, đã xuất hiện một số tác phẩm ký gây
đ-ợc sự chú ý, quan tâm của ng-ời đọc. Đó là tập nhật kí của nữ anh hùng
- bác sĩ Đặng Thùy Trâm hay của liệt sĩ Nguyễn Văn Thạc. Những tác
phẩm này đã không chỉ tái hiện một cách chân thực, sinh động một thời kỳ
lịch sử vẻ vang của dân tộc với những hình t-ợng con ng-ời bất khuất, anh
dũng và đầy lý t-ởng mà còn giúp thế hệ trẻ ngày nay tự nhìn nhận lại
mình trong mối quan hệ và trách nhiệm với quốc gia, dân tộc. Bên cạnh
đó, còn là những tập hồi kí của những ng-ời của công chúng cũng gây
đ-ợc sự tò mò, chú ý cho ng-ời đọc nh-: Lê Vân yêu và sống
Nh- vậy, có thể nói, ký là một thể loại văn học đặc biệt. Cũng giống
nh- các thể loại văn học khác, ký xuất phát từ cuộc sống và quay trở lại
phục vụ cuộc đời. Tuy nhiên, điểm đặc biệt khiến cho ký khác với các thể
loại khác đó chính là ký đòi hỏi cao về tính khách quan và khả năng phản
ánh hiện thực. Ký không hẳn hoàn toàn là một thể loại văn học mà còn có
sự giao thoa và mối quan hệ khăng khít với báo chí. Không thể phủ nhận
những ảnh h-ởng của báo chí đến ký, nh-ng không nên xem ký là kết quả
của sự thâm nhập của báo chí vào văn học. Điểm phân biệt giữa ký văn
học và kí báo chí chính là ở màu sắc trữ tình và sự h- cấu của tác giả. Tuy
14
nhiên, nói vậy không có nghĩa là ký văn học đ-ợc quyền h- cấu một cách
thoải mái, tự do. Sự h- cấu này vẫn phải có giới hạn, đảm bảo đặc tr-ng
riêng của thể loại. Chính vì vậy, việc tìm hiểu ký trong những sáng tác của
một tác giả cụ thể là việc làm cần thiết để mang lại cho chúng ta cái nhìn
Việt Nam, Hà Minh Đức còn đ-ợc biết đến trong vai trò là tác giả của các
tập thơ và kí đặc sắc về cả nội dung và nghệ thuật. Có thể kể đến một số
tập thở tiêu biểu của ông nh-: Đi hết một mùa thu (NXB Văn học, 1999),
ở giữa ngày đông (NXB Văn học, 2001), Những giọt nghĩ trong đêm
(NXB Văn học, 2002), Khoảng trời gió cát bay (NXB Văn học, 2007).
Không chỉ sáng tác thơ, ông còn sáng tác cả ở thể loại ký và đã tạo nên
một phong cách khá độc đáo, mới mẻ. Có thể nói, nếu các tác phẩm thơ là
những cảm xúc trong tâm hồn tác giả tr-ớc cuộc đời và con ng-ời với tất
cả những gì đang diễn ra thì kí lại là sự ghi nhận, tái hiện của tác giả về
hiện thực cuộc đời. Sự ghi nhận, tái hiện này không đơn thuần là sự ghi
chép một cách đơn giản chung chung mà cao hơn nữa, nó thể hiện sự chắt
lọc từ hiện thực những gì t-ởng nh- bình th-ờng, giản dị, đang hàng ngày
diễn ra để từ đó, tác giả gửi gắm những cảm nhận, suy nghĩ rất riêng và cả
những suy t-, trăn trở về cuộc đời và con ng-ời. Cho đến nay, tá c giả đã
cho xuát bản năm tập ký với những giá trị nội dung và nghệ thuật lớn.
Tr-ớc hết là tập ký Vị giáo s- và ẩn sĩ đ-ờng (NXB Văn Học, 1999) chủ
yếu viết về kỉ niệm với những ng-ời thầy, ng-ời bạn thân thiết, gần gũi
bên cạnh tác giả hoặc đã gắn bó với ông trong suốt một thời gian dài.
Đồng thời, tập kí này còn thể hiện cảm nhận về những miền đất đã qua và
những câu chuyện xung quanh những con ng-ời tác giả đã gặp và đ-ợc
tiếp xúc. Nội dung này tiếp tục đ-ợc triển khai trong các tập kí về sau
nh-: Tản mạn đầu ô (NXB Văn Học, 2002), Đi một ngày đàng (NXB
Văn Học, 2004), Ng-ời của một thời (NXB Văn Học, 2009). Riêng tập ký
Ba lần đến n-ớc Mĩ (NXB Văn Học, 2000), giống nh- tiêu đề, tập kí này
tái hiện ba cuộc hành trình của tác giả đến n-ớc Mỹ trong thời gian
khoảng 20 năm (1982 - 1999) đồng thời, thể hiện những cảm nhận rất
riêng, tinh tế về đất n-ớc này. Tập bút ký Ng-ời của một thời là tập bút
16
17
ông về khuynh h-ớng sáng tác kí của mình, đó là viết về những điều đơn
giản nhất, gần gũi nhất trong đời sống hàng ngày của con ng-ời. Đây
không phải là lần đầu tiên ông thể hiện những suy nghĩ, quan điểm của
mình về vấn đề này bởi vì trong cuốn Lí luận văn học (NXB Giáo dục,
2006) do ông chủ biên, và viết phần ch-ơng IV: Các thể kí văn học, ông
đã trình bày rất kỹ càng về thể loại này xét về mặt lí luận. Tuy nhiên, có
thể coi lời tựa cho Vị giáo s- và ẩn sĩ đ-ờng là quan điểm sáng tác cụ thể,
ngắn gọn, rõ ràng của Hà Minh Đức và đây cũng chính là sự định h-ớng
cho chúng ta trong sự tìm hiểu tất cả các tác phẩm kí của ông. Ng-ợc lại,
việc tìm hiểu các tác phẩm kí này cũng chính là sự hiện thực hóa những
vấn đề lí luận mà ông đã nêu trong các công trình nghiên cứu của mình.
Nh- vậy, tựu trung lại, có thể khẳng định thể loại kí với những tiểu
loại của nó không phải là một thể loại mới trong văn học. Với đặc tr-ng là
một thể loại đề cao sự khách quan, chính xác trong việc miêu tả và biểu
hiện, dù ở thời kì nào, kí cũng đóng vai trò quan trọng trong việc tìm hiểu
và khám phá cuộc sống con ng-ời. Tr-ớc đây, chúng ta đã từng quá quen
thuộc với tên tuổi Nguyễn Tuân - ng-ời đ-ợc xem là tác giả xuất sắc nhất
trong thể loại này - với những câu văn điêu luyện, giàu hình ảnh và mang
đậm bản sắc cái tôi cá nhân thì ngày nay, kí cũng ghi dấu ấn của rất nhiều
tác giả với những đặc tr-ng riêng về phong cách. Trong thời kỳ hiện đại,
cuộc sống càng có nhiều thay đổi, nhu cầu biểu hiện, khám phá và tìm
hiểu ngày càng cao, vai trò của kí ngày càng trở nên quan trọng. Và, hơn
lúc nào hết, những đặc tr-ng về thể loại càng đ-ợc chú trọng và nhấn
mạnh, phục vụ cho việc tìm hiểu và khám phá.
Có thể nói, hành trình sáng tác ký của Hà Minh Đức là hành trình
của một ng-ời nghệ sĩ tìm đến hiện thực cuộc đời với tất cả những biểu
hiện nhỏ bé, tinh vi của nó. Từ đó, để có cái nhìn hoàn thiện hơn, đa dạng
của nhà văn hiểu đúng nghĩa của nó là một chỉnh thể, đã là chỉnh thể
tất phải có cấu trúc nội tại theo những nguyên tắc thống nhất, cũng có
nghĩa là quan hệ nội tại giữa các yếu tố phải có tính quy luật [29;78].
Trong khi đó, theo quan điểm thi pháp học thì khái niệm thế giới nghệ
thuật chỉ chỉnh thể của sáng tác nghệ thuật (Một tác phẩm, một loại
hình tác phẩm, sáng tác của một tác giả hay một trào l-u văn học). Thế
giới nghệ thuật nhấn mạnh một thế giới riêng đ-ợc sáng tạo ra theo các
nguyên tắc t- t-ởng và nghệ thuật, khác với thế giới thực tại vật chất
hay thế giới tâm lý của con ng-ời mặc dù nó phản ánh thế giới ấy. Thế
giới nghệ thuật có không gian riêng, thời gian riêng, quy luật tâm lý
riêng, quan hệ xã hội, quan niệm đạo đức, những thang bậc giá trị
riêngchỉ xuất hiện một cách -ớc lệ trong sáng tác nghệ thuật mỗi
thế giới nghệ thuật ứng với một quan niệm về thế giới, một cách cắt
nghĩa về thế giới. Nh- vậy, khái niệm thế giới nghệ thuật giúp chúng ta
hình dung tính độc đáo về t- duy nghệ thuật của sáng tạo nghệ thuật có
cội nguồn trong thế giới quan, văn hóa chung, văn hóa mục đích và cá
tính sáng tạo của nghệ sĩ. [16; 201-202].
20
Nh- vậy, có thể nói, thế giới nghệ thuật xét đến cùng chính là thế
giới hình t-ợng hiện ra nh- một chỉnh thể sống động, chứa đựng một quan
niệm nhân sinh và thẩm mỹ nào đó, đ-ợc xây cất bằng vật liệu ngôn từ.
Chính vì vậy, cũng có thể khẳng định rằng cấu trúc của thế giới nghệ thuật
ở tác phẩm văn học chính là quan niệm nghệ thuật về cuộc đời và con
ng-ời trong không gian và thời gian đã đ-ợc tác giả xây dựng. Điều này
cũng đồng nghĩa với việc tìm hiểu thế giới nghệ thuật trong một tác phẩm
văn học chính là tìm hiểu về cuộc sống và con ng-ời đã đ-ợc nhà văn
khám phá và thể hiện. Qua đó, chúng ta cũng có thể có những hiểu biết
là đề tài gần gũi nhất trong cuộc đời tác giả cũng nh- trog cuộc sống của
mỗi chúng ta. Đối với bất kỳ một tác giả nào khi sáng tác ở thể loại này,
có thể gọi là dạng hồi ức, hồi ký về những ngày đã qua và về những ng-ời
thân thiết, gần gũi trong cuộc đời. Tuy nhiên, với tác giả Hà Minh Đức,
đây là một đề tài đặc biệt. Nó đặc biệt ở chỗ ông vốn là một giáo s-, là
một ng-ời có uy tín và thâm niên trong lĩnh vực nghiên cứu văn học.
Chính vì vậy, những tác giả, những ng-ời thầy, ng-ời bạn xuất hiện trong
hồi ức của ông cũng đều là những ng-ời đặc biệt quan trọng (Chúng ta có
thể dùng từ ngữ là những người nổi tiếng). Bởi vậy, họ không hề xa lạ
với độc giả, thậm chí, nếu chỉ cần đọc qua tác phẩm của Hà Minh Đức
một lần, ta có thể kể lại một cách dễ dàng và trôi chảy tên tuổi của những
nhân vật đã xuất hiện trong các trang viết của ông. Tên tuổi của những con
ng-ời ấy, chúng ta có thể bắt gặp hàng ngày trên các mặt báo hay trong
các bài nghiên cứu về văn học. Đặc biệt, với những ng-ời tham gia vào
những công việc liên quan đến lĩnh vực văn học, những t- t-ởng, quan
điểm của những con ng-ời ấy chính là sự định h-ớng, dẫn đ-ờng cho
chúng ta.
Chính vì những lý do trên mà đề tài này trong sáng tác của Hà Minh
Đức vừa là đề tài quen thuộc bình th-ờng, vừa là một đề tài mới lạ. Những
sáng tác của tác giả không đơn thuần chỉ là sự nhớ lại, hồi t-ởng hoặc làm
sống lại một miền ký ức đã qua hay tái hiện trong tác phẩm hình ảnh
những con ng-ời đã trở nên quen thuộc. Quan trọng hơn cả và cũng là điều