Luận văn thạc sĩ THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT TRONG TRUYỆN NGẮN TẠ DUY ANH - Pdf 34

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI

TRƢƠNG THỊ ÁNH

THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT
TRONG TRUYỆN NGẮN TẠ DUY ANH
Chuyên ngành:

Văn học Việt Nam hiện đại

Mã số:

60.22.01.21

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS. Nguyễn Văn Long

Hà Nội- 2014


Lêi c¶m ¬n
Em xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS. Nguyễn Văn Long –
ngƣời đã tận tình hƣớng dẫn, quan tâm và giúp đỡ em trong quá trình thực
hiện và hoàn thành luận văn này.
Em xin cảm ơn các thầy giáo, cô giáo trong tổ văn học Việt Nam hiện
đại cùng tập thể các thầy cô giáo trong khoa Ngữ Văn - Trƣờng Đại học Sƣ
phạm Hà Nội đã nhiệt tình giảng dạy và giúp đỡ em trong quá trình học tập.
Nhân đây, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành của mình đến gia
đình, bạn bè đã luôn động viên tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện

not defined.
2.1.2. Nhân vật bị giam hãm trong thù hận, định kiến. .. Error! Bookmark not
defined.
2.1.3. Những nhân vật bị ám ảnh trong nỗi sự hãi .......................................... 29
2.1.4 .Nhân vật ngƣời phụ nữ - biểu tƣợng cho niềm khát khao cái đẹp ........ 34

1


2.1.2.3. ............................................................................................................. 40
2.1.2.4. ............................................................................................................. 45
2.2. Không gian nghệ thuật trong truyện ngắn Tạ Duy Anh .......................... 49
2.2.1. Giới thuyết chung về không gian nghệ thuật ....... Error! Bookmark not
defined.
2.2.2. Không gian nghệ thuật trong truyện ngắn Tạ Duy Anh ................ Error!
Bookmark not defined.
2.2.2.1. Không gian thiên nhiên. ..................................................................... 50
2.2.2.2. Không gian xã hội .............................................................................. 53
2.3. Thời gian nghệ thuật trong truyện ngắn Tạ Duy Anh .............................. 63
2.3.1. Giới thuyết chung về thời gian nghệ thuật ........... Error! Bookmark not
defined.
2.3.2. Thời gian nghệ thuật trong truyện ngắn Tạ Duy Anh Error! Bookmark
not defined.
2.3.2.1. Thời gian đan xen giữa quá khứ và hiện tại ....................................... 64
2.3.2.2. Thời gian kéo dài qua nhiều biến cố thăng trầm của sự kiện ............ 68
2.3.2.3. Thời gian tâm tƣởng ........................................................................... 69
CHƢƠNG 3: MỘT SỐ PHƢƠNG DIỆN NGHỆ THUẬT ĐẶC SẮC
TRONG THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT TRUYỆN NGẮN TẠ DUY ANH . 71
3.1. Ngôn ngữ nghệ thuật ................................................................................ 71
3.1.1. Sự phối hợp đa dạng các sắc thái ngôn ngữ .......................................... 72

mọi yếu tố đa dạng trong tác phẩm”.[66;47]
Thế giới nghệ thuật có không gian, thời gian riêng, có quy luật tâm lý
riêng, có quan hệ xã hội riêng, có quan hệ đạo đức, thang bậc giá trị riêng.
Cốt lõi để tạo nên thế giới nghệ thuật là mô hình về con ngƣời và thế giới
trong mối liên hệ nhất định với thực tại. Tìm hiểu tác phẩm văn học qua góc
nhìn thế giới nghệ thuật sẽ tránh đƣợc cách đánh giá theo lối đối chiếu giản
đơn giữa các yếu tố hình tƣợng với những sự thực đời sống riêng lẻ, mà phải
đánh giá trong chỉnh thể của tác phẩm, xem xét tính chân thực của chỉnh thể
tác phẩm so với chỉnh thể hiện thực. Hƣớng nghiên cứu này sẽ giúp chúng ta
khám phá đƣợc tính độc đáo riêng biệt của tác phẩm văn chƣơng từ nội dung
đến hình thức nghệ thuật - phân biệt nó với các loại hình nghệ thuật cũng nhƣ
các dạng văn bản ngôn từ khác.
2. Luồng gió của công cuộc đổi mới đã đem đến cho văn học bầu
không khí tự do dân chủ đó là đƣợc “nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự
thật, nói rõ sự thật” (Báo cáo chính trị Đại hội Đảng toàn quốc lầ thứ VI).
Bầu không khí đó trở thành nguồn cổ vũ lớn lao cho các văn nghệ sĩ, họ đƣợc
nhìn nhận cuộc sống theo cách của mình, từ đó đã làm xuất hiện nhiều hiện
tƣợng mới lạ gây sự chú ý của dƣ luận nhất là trong văn xuôi từ cuối những

1


năm 80 đến những năm 90. Những cây bút tạo đƣợc chú ý trên văn đàn thời
kỳ đó nhƣ: Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Võ Thị Hảo, Nguyễn Bình
Phƣơng, Nguyễn Thị Thu Huệ, Nguyễn Ngọc Tƣ ... Trong số đó không thể
không nhắc đến tên tuổi của Tạ Duy Anh- một cây bút đƣợc xem là hiện
tƣợng nổi bật, với những thể nghiệm văn chƣơng
Tạ Duy Anh thực sự xuất hiện trên văn đàn, gây tiếng vang lớn bằng
truyện ngắn Bước qua lời nguyền. Cùng với Lũ vịt giời, ông đã giành đƣợc
giải trong cuộc thi viết về nông nghiệp nông thôn do tuần báo Văn Nghệ, báo

dòng văn học bước qua lời nguyền (Hoàng Ngọc Hiến). Tiếp đó, Tạ Duy Anh
liên tiếp cho ra một số tập truyện, trong đó nhiều truyện có tiếng vang và đã
giành đƣợc khá nhiều giải thƣởng (giải thƣởng truyện ngắn nông thôn của
Báo Văn Nghệ, Nông nghiệp và Đài tiếng nói Việt Nam; giải thƣởng truyện
ngắn của tạp chí Văn nghệ Quân đội; giải thƣởng truyện viết cho thiếu nhi của
Nhà xuất bản Kim Đồng của báo Thiếu niên Tiền phong).
Về tiểu thuyết, sau tiểu thuyết đầu tay Khúc dạo đầu (1991) trình làng
không gây đƣợc tiếng vang thì đến năm 1992 tiểu thuyết Lão Khổ đƣợc một
số nhà phê bình có uy tín đánh giá cao.Trên tạp chí Văn học số 4/1995, Hoàng
Ngọc Hiến viết: “Tạ Duy Anh Bước qua lời nguyền để đi đến Lão Khổ. Đây là
một cuốn tiểu thuyết rất quan trọng… thêm một giả thuyết văn học về bản
chất và thân phận người nông dân Việt Nam”. Năm 2002 Đi tìm nhân vật
xuất bản rồi bị thu hồi và dƣờng nhƣ điều đó lại khiến cái tên Tạ Duy Anh
đƣợc nhắc tới nhiều hơn. Khi Thiên thần sám hối ra đời (năm 2004), Giã biệt
bóng tối (năm 2007) các ý kiến khen chê lại bùng lên sôi nổi nhƣ bài viết của
Hoàng Cẩm Giang – Lý Hoài Thu "Một cách nhìn về tiểu thuyết hậu hiện
đại ở Việt Nam", Phùng Gia Thế với bài viết " Sự bế tắc của một lối viết",
“Khuynh hướng lạ hóa trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại – một số bình
diện tiêu biểu" của Nguyễn Thành... Đã xuất hiện công trình nghiên cứu có
quy mô, đầy đặn về tiểu thuyết nhƣ cuốn sách" Phi lý hậu hiện đại và trò
chơi" tập hợp ba luận văn của ba tác giả : Cao Tố Nga - Đoàn Thanh Liêm -

3


Phạm Thị Bình, đã giới thiệu ba trong nhiều cách đọc tác phẩm Tạ Duy Anh.
Ngoài ra còn một số luận văn thạc sĩ về tác phẩm Tạ Duy Anh, có thể kể nhƣ:
Nông thôn trong sáng tác của Tạ Duy Anh của Nguyễn Thị Mai Loan,
ĐHSPHN, 2004- nghiên cứu những đổi mới của Tạ Duy Anh về mặt tƣ tƣởng
và nghệ thuật trong những sáng tác về đề tài nông thôn; Thế giới nghệ thuật

ngắn đƣơng đại.
4. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ nghiên cứu chúng tôi sử dụng một số
phƣơng pháp nghiên cứu sau:
- Phƣơng pháp phân tích: Đi vào thế giới nghệ thuật của tác giả, luận văn
sử dụng phƣơng pháp phân tích tác phẩm để tìm ra đặc điểm riêng, giá trị, ý
nghĩa của tác phẩm ở các cấp độ khác nhau, từ đó làm sáng tỏ những luận
điểm của luận văn.
- Phƣơng pháp hệ thống: Từ phân tích cụ thể coi sáng tác Tạ Duy Anh nhƣ
một hệ thống từ đó khái quát đặc điểm truyện ngắn Tạ Duy Anh trên các phƣơng
diện
- Phƣơng pháp so sánh: Để khẳng định nét tiêu biểu và những nét thuộc
phong cách truyện Tạ Duy Anh chúng tôi sử dụng phƣơng pháp đối chiếu, so
sánh để thấy điểm giống và khác của ông với các nhà văn cùng thời.
Cấu trúc luận văn:
Chƣơng 1: Truyện ngắn của Tạ Duy Anh trong bức tranh chung của
truyện ngắn thời kì đổi mới
Chƣơng2: Thế giới nhân vật , không gian, thời gian nghệ thuật trong
truyện ngắn Tạ Duy Anh
Chƣơng 3: Một số phƣơng diện nghệ thuật trong thế giới nghệ thuật
truyện ngắn Tạ Duy Anh

6


CHƢƠNG 1. TRUYỆN NGẮN TẠ DUY ANH TRONG DÒNG CHẢY
TRUYỆN NGẮN THỜI KÌ ĐỔI MỚI
1.1. Truyện ngắn thời kì đổi mới
1.1.1. Bối cảnh xã hội
Lịch sử đại thắng mùa xuân 1975 đất nƣớc hoàn toàn thống nhất, cả dân

Tất cả tình hình đó đã đẩy đất nƣớc đến cuộc khủng hoảng kinh tế - xã
hội ngày càng nặng nề ở nửa đầu những năm 80. Từ đó, đời sống của đại bộ
phận quần chúng nhân dân gặp nhiều khó khăn, nhiều lao động chƣa có việc
làm, nhiều nhu cầu chính đáng và tối thiểu về vật chất và văn hóa chƣa đƣợc
đảm bảo. Mặt khác, các hiện tƣợng tiêu cực trong xã hội phát triển, công bằng
xã hội bị vi phạm. Những hành vi lộng quyền, tham nhũng của một số cán bộ
chƣa bị trừng trị nghiêm khắc, kịp thời. Thực trạng kinh tế, xã hội đó đã làm
lay động dữ dội tƣ tƣởng, tình cảm, niềm tin của mọi tầng lớp nhân dân, đúng
nhƣ nhận xét của nhà văn Nguyễn Khải: “Chiến tranh ồn ào, náo động mà lại
có cái yên tĩnh, giản dị của nó. Hòa bình yên tĩnh, thanh bình mà lại chứa
chấp những sóng ngầm, những gió xoáy bên trong”.[48;34]. Có thể nói, bối
cảnh lịch sử xã hội đất nƣớc sau hòa bình có nhiều phức tạp. Điều này đã tác
động không nhỏ đến nền văn học nƣớc nhà, đó là điều kiện thuận lợi cho các
nhà văn mở rông đề tài, đề cập đến nhiều vấn đề của đời sống hiện thực.
Mặt khác, bƣớc sang thế kỉ XXI, chúng ta có điều kiện để mở rộng giao
lƣu và hội nhập thế giới. Đúng với tinh thần “hòa nhập nhưng không hòa
tan”, nền văn hóa của ta đã tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa nhân loại
đồng thời kết hợp hài hòa văn hóa truyền thống tạo nên một nền văn hóa tiên
tiến tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Vì vậy, nền văn hóa Việt Nam cũng ngày
một khởi sắc. Môi trƣờng văn hóa mở rộng đó chính là mảnh đất thuận lợi để
thúc đẩy văn học phát triển và thay đổi diện mạo. Sự phát triển mạnh mẽ của
khoa học kĩ thuật và công nghệ thông tin, đặc biệt sự ra đời của Internet đã đi
vào đời sống văn học làm rút ngắn khoảng cách giữa nhà văn và bạn đọc.
1.1.2. Sự phát triển của văn xuôi

8


Ở nội dung này chúng tôi đi vào tìm hiểu sự phát triển của văn xuôi giai
đoạn từ sau 1975 để từ đó có cái nhìn tổng thể, toàn vẹn truyện ngắn trong

đạo đức xã hội, tiêu cực trong quản lí sản xuất, nhận thức lại những vấn đề
trong quá khứ. Những năm sau chiến tranh, xã hội bắt đầu tỏ rõ sự trì trệ, yếu
kém và có phần bế tắc. Những vấn đề bức xúc của đời sống kinh tế xã hội thời
kì khủng hoảng cũng là mảng hiện thực nóng bỏng đƣợc văn học nhìn lai,
phơi bày. Cảm hứng thế sự đời tƣ trong văn xuôi có khả năng đi sâu vào ngõ
ngách tâm hồn con ngƣời, suy nghĩ cặn kẽ về các trạng thái nhân thế, nhất là
trong hoàn cảnh một xã hội từ trong chiến tranh ba mƣơi năm bƣớc sang cuộc
sống hòa bình đầy phức tạp và thử thách. Con ngƣời đời thƣờng đƣợc miêu tả
sâu sắc, các tác phẩm văn xuôi đã tập trung miêu tả những con ngƣời bất hạnh
với những bi kịch trong cuộc đời họ.
Bƣớc sang thời kì đổi mới, khuynh hƣớng nhận thức lại đƣợc phát triển
mạnh mẽ trong văn chƣơng. Đáp ứng chủ trƣơng của Đảng là nhìn thẳng vào
sự thật, nhiều cây bút đã nhìn lại hiện thực của giai đoạn đã qua, phơi bày
những mặt trái còn khuất lấp, lên án những thế lực, tƣ tƣởng, thói quen làm
cản trở sự đi lên của xã hội. Bên cạnh cảm hứng phê phán trong giai đoạn
này, ở một số cây bút còn xuất hiện cảm hứng bi kịch, những đau xót trƣớc
số phận con ngƣời trƣớc hoàn cảnh lịch sử, xã hội đó. Các tác phẩm đều tập
trung và việc nhận thức lại quan hệ giữa cá nhân và xã hội, giữa con ngƣời và
hoàn cảnh, nhƣng quan trọng hơn cả là con ngƣời tự nhận thức lại chính mình
Võ Văn Trực từng viết: “Viết lại chuyện cũ, tôi hoàn toàn không có ý đồ xấu
xa moi móc những sai lầm chúng ta vấp phải để rồi đổ lỗi cho người này hay
người kia mà cốt để chúng ta đừng lặp lại những sai lầm ấy” [79;5]. Có thể
nói trên lối đi mới này, các nhà văn đã đem lại cho bạn đọc những kiến giải
thú vị, có khả năng thanh lọc tâm hồn con ngƣời. Từ sự phản ánh hiện thực
đó, nhiều cây bút đã nâng lên thành sự nghiền ngẫm, lí giải hiện thực, đề xuất
những tƣ tƣởng mới, cách nhìn mới, đó chính là sự gia tăng yếu tố triết luận
trong nhiều sáng tác của giai đoạn này.

10


11


văn học giai đoạn này đã lấy những con ngƣời, những sự việc bình thƣờng
làm tiêu điểm. Truyện ngắn giai đoạn này, cũng hƣớng vào “những vui buồn
của đời người, là sự chiêm nghiệm về những gì được mất, là hồi ức về quá
khứ và dự cảm về tương lai, là trầm tư về lẽ tồn vong của con người trong
mối quan hệ xã hội, tự nhiên và vũ trụ”. [76 ;61]
Truyện ngắn Việt Nam thời kì đổi mới đã đối mặt với biết bao khó khăn,
thử thách với sự phức tạp bộn bề của cuộc sống thời hậu chiến đang diễn ra
theo nhiều chiều, nhiều hƣớng. Thực tế đó đã đòi hỏi phải có những tiếng nói
thể hiện nhu cầu phong phú, đa dạng, phức tạp trong đời sống tinh thần của
con ngƣời. Từ tâm lí tình cảm, đời sống riêng tƣ của từng cá nhân đến khát
vọng vƣơn tới trong xu hƣớng phát triển của xã hội Việt Nam thời hiện đại.
Tất cả những biểu hiện con ngƣời trong đời sống từ lĩnh vực kinh tế đến chính
trị, từ đạo đức xã hội đến phong tục tập quán, đến tình yêu hạnh phúc, đời
sống tâm linh đƣợc các nhà văn tập trung thể hiện. Vì vậy, từ một nền văn học
phản ánh con ngƣời trong mối quan hệ với cộng đồng, mang trong mình phẩm
chất anh hùng, kết tinh vẻ đẹp, sức mạnh của cộng đồng thì giờ đây truyện
ngắn đã thể hiện sự đổi mới trong cách thể hiện con ngƣời cụ thể là:
Thứ nhất : “Từ bỏ cách nhìn giản đơn, phiếm diện một chiều về con
người để đi đến cái nhìn con người trong tính phức tạp, đa chiều, luôn biến
động và khó nắm bắt” [55; 187]. Văn học trƣớc năm 1975 thƣờng có cái nhìn
về con ngƣời chia theo hai tuyến: thiện- ác, tốt- xấu, tiên tiến- lạc hậu,… đó là
cách nhìn con ngƣời mang tính tĩnh tại không có sự vận động, biến đổi. Đến
truyện ngắn thời kì đổi mới lại có cái nhìn mới đó là con ngƣời“ bất toàn”với
sự phức tạp, trong sự đan xen và xung đột giữa“ ánh sáng và bóng tối”, “rồng
phƣợng

lẫn

con người không chỉ được biểu hiện ở ý thức, tư tưởng, mà còn được khám
phá cả trong chiều sâu tiềm thức, vô thức, tâm linh [55;187]. Truyện ngắn
thời kì đổi mới đã đi sâu vào vùng chập chờn giữa ý thức và vô thức, vùng bí
ẩn của tâm linh. Con ngƣời tâm linh thƣờng hƣớng về những sức mạnh bí ẩn,
những đối tƣợng siêu thực ít hiện hữu và khó giải thích. Sự khám phá vào thế
giới này đã dẫn đến những phƣơng thức biểu đạt mới nhƣ: dòng ý thức, huyền
ảo trong các sáng tác của những cây bút trẻ: Tạ Duy Anh, Hồ Anh Thái,
Nguyễn Bình Phƣơng… Khám phá con ngƣời tiềm thức, vô thức, tâm linh là
đóng góp mới của truyện ngắn sau 1975, khẳng định cái nhìn đa chiều, giàu ý
nghĩa nhân bản về con ngƣời. Nội dung cuối cùng của sự đổi mới quan niệm
nghệ thuật về con ngƣời đó là sự đổi mới về mối quan hệ giữa con người và
hoàn cảnh. Theo PGS Nguyễn Văn Long: “giờ đây, trong các tác phẩm văn
xuôi hình thành một nhận thức khá phổ biến ở nhiều tác giả về những giới hạn
của khả năng con người, về sự chi phối nghiệt ngã của hoàn cảnh đến tính
cách và số phận của con người”[55; 203]. Nếu thời kì trƣớc đổi mới, văn học
luôn luôn đề cao khả năng của con ngƣời, luôn cho rằng con ngƣời có thể làm
chủ hoàn cảnh, luôn khắc phục hoàn cảnh thì giờ đây lại cho thấy con ngƣời dù
có sức mạnh của ý trí, nghị lực thì đôi khi con ngƣời cũng yếu đuối, bất lực
trƣớc hoàn cảnh. Nói nhƣ vậy để chúng ta có cái nhìn đúng đắn về sức mạnh,

13


khả năng của con ngƣời từ đó có hiểu biết thấu đáo và cảm thông với con
ngƣời trong nhiều hoàn cảnh.
1.1.3.2. Sự đổi mới về cốt truyện, nghệ thuật trần thuật và ngôn ngữ
* Cốt truyện: Có vai trò quan trọng trong truyện ngắn nói riêng và văn
xuôi nói chung, đặc biệt trong văn xuôi trƣớc đổi mới. Nhƣng sau 1975 thì cốt
truyện không còn đóng vai trò chủ đạo nữa vì truyện ngắn thời kì này đi sâu
vào những tình huống đời thƣờng, khám phá chiều sâu tâm hồn con ngƣời. Ở

xuồng xã, đời thƣờng. Điều này xuất hiện nhiều trong truyện ngắn của
Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Tạ Duy Anh… Mặt khác ngôn ngữ cũng
gia tăng tính tốc độ thông tin và triết luận. Tính tốc độ thể hiện ở cách diễn
đạt ngắn gọn, dồn nén thông tin. Ở phƣơng diện ngôn ngữ có thể thấy việc sử
dụng các thuật ngữ khoa học, chuyên ngành thậm chí cả tiếng nƣớc ngoài.
Lƣợng thông tin đạt đến mức tối đa nằm ở một thứ ngôn ngữ đa nghĩa, nhiều
ngụ ý. Mặt khác, khi sáng tác, nhà văn có khuynh hƣớng tìm kiếm ý nghĩa
triết học nhân sinh qua diễn tả đời sống cụ thể, điều đó đã làm cho tác phẩm
có ý vị triết lí. Đáp ứng yêu cầu này thì ngôn ngữ văn học cũng gia tăng tính
triết lý, khái quát.
Sự biến đổi về ngôn ngữ đi liền với sự biến đổi về giọng điệu. Truyện
ngắn sau 75 đã xuất hiện nhiều giọng điệu đa dạng, thậm chí đối lập nhau.
Nổi lên có các giọng điệu: Giọng tỉnh táo khái quát có khi có ý lạnh lùng,
nghiệt ngã; giọng xót xa thƣơng cảm, trầm buồn; giọng suy tƣ triết lí; giọng
trào lộng, giễu nhại. Sự đa dạng của giọng điệu thể hiện qua sáng tác của Tạ
Duy Anh, Hồ Anh Thái, Phan Thị Vàng Anh, Nguyễn Huy Thiệp…
Tóm lại: Sự vận động của truyện ngắn Việt Nam giai đoạn sau 1975 là
toàn diện và sâu sắc. Sự vận động ấy đã tạo nên sự cách tân của thể loại văn
học này.
1.1.3.3. Vài nét về thành tựu đạt được của truyện ngắn
Tinh thần dân chủ của thời kỳ đổi mới đã đem đến nguồn cổ vũ lớn lao
cho các văn nghệ sĩ, họ đƣợc nhìn nhận hiện thực cuộc sống một cách thoải
mái, hƣớng ngòi bút của mình vào mọi ngõ ngách của cuộc sống, mọi số phận

15


cá nhân… điều đó tạo nên một“thời kì phong phú của các hiện tượng văn
học" (Hoàng Ngọc Hiến).
Điều kiện xã hội thuận lợi đã tạo cho truyện ngắn xuất hiện nhiều tác

Quân Đội đã tổ chức hàng chục cuộc thi sáng tác, tạo một sân chơi bổ ích góp
phần phát hiện và khẳng định nhiều tài năng mới của truyện ngắn. Một dẫn
chứng để cho thấy sức sống mạnh mẽ của thể loại truyện ngắn: Cuộc thi truyện
ngắn 2001-2002 do tạp chí Văn Nghệ Quân Đội tổ chức nhƣ một sự bức phá
ngoạn mục với số lƣợng gần 2 000 tác phẩm dự thi, có 200 tác phẩm đƣợc lƣạ
chọn và cho in liên tiếp trên các tạp chí. Trƣớc sự thành công vƣợt trội của
cuộc thi, Ban giám khảo đã nhận định: Nhân nhắc đến chuyên nghiệp, có thể
nói rõ rằng, với những chuyện ngắn được giới thiệu trên tạp chí và đoạt giải
lần này, mặt bằng truyện ngắn trong văn học đương đại Việt Nam trong một
chừng mực nào đó có thể được nâng cao một bước [74].
Truyện ngắn giai đoạn này thực sự đã gặt hái đƣợc nhiều thành công
không chỉ về số lƣợng mà cả chất lƣợng. Mỗi nhà văn bằng những trải nghiệm
của mình đang dần xác lập một hệ tiêu chí mới, cho văn học gắn bó hơn với đời
sống. Chính nhu cầu cách tân, tái tạo lại chính mình đã đƣa đến cho truyện
ngắn Việt Nam trong giai đoạn đổi mới nhiều thành tựu đáng ghi nhận. Bên
cạnh việc khám phá con ngƣời trong cái nhìn đa diện thì truyện ngắn giai
đoạn này còn tập trung nghiên cứu thực trạng tinh thần xã hội sau chiến tranhđó là một hiện thực phức tạp, đa dạng, đan xen mặt sáng, mặt tối trong đời
sống, cũng nhƣ những đổi thay tất nhiên trong nhận thức và tình cảm của con
ngƣời. Truyện ngắn đi sâu vào vấn đề cuộc sống thƣờng nhật, từ những mất
mát của ngƣời lính trong chiến tranh bƣớc ra, đến những hận thù của dòng họ,
gia tộc, sự khắc nghiệt của cái đói, cái khổ, cô đơn …
Qua những thành tựu của truyện ngắn cho thấy truyện ngắn thực sự khởi
sắc so với tiểu thuyết, các nhà văn đã có những tìm tòi nghệ thuật để làm tăng
khả năng khái quát đời sống theo chiều sâu ở thể loại này. Chính vì vậy, nhà
nghiên cứu Bùi Việt Thắng đã nhận định: “Truyện ngắn 1975-2000 giống như
cô gái có nhan sắc đến độ chín, tuy không rực rỡ nhưng đằm thắm tròn đầy.

17




* Hành trình đến với văn chƣơng: Ông sinh ra và lớn lên tại một làng
quê hẻo lánh, đầy thù hận, định kiến và trong một gia đình có ngƣời cha rắn
như thép. Nhƣng ông lại là một cậu bé có nhiều ƣớc mơ với một cơ thể còi cọc,
mặt mũi đen đủi, xấu xí. Từ thời thơ ấu, Tạ Duy Anh luôn bị ngƣời cha của
mình nhạo báng bởi tâm hồn đầy mơ mộng, lãng mạn của ông . Sống trong môi
trƣờng đó cho thấy ông không hề đƣợc chuẩn bị gì để trở thành một nhà văn,
và con đƣờng đến với văn chƣơng của ông nhƣ một định mệnh. Bằng chính
những nỗ lực của bản thân ông đã vƣợt qua những rào cản của địa phƣơng, gia
đình trở thành cậu tú tài đầu tiên của làng Đồng và tiến xa hơn nữa sau này ông
trở thành một nhà văn tài năng.
Lớn lên trong hoàn cảnh ấy, Tạ Duy Anh đã sớm trở thành một cậu bé cô
đơn ngay trên chính quê hƣơng, gia đình mình. Chính vì vậy, cậu bé Tạ Duy
Anh đã sớm từ bỏ thế giới hồn nhiên của trẻ thơ và luôn sống trong thế giới
nội tâm của mình: “Tôi biến thân xác của tôi thành cái vỏ ốc để bao bọc tòa
lâu đài tôi xây bằng trí tưởng tượng. Và chỉ khi lọt thỏm trong thế giới của
tôi, tôi mới không thấy sợ đủ thứ, không bị ai chòng ghẹo, nhạo báng, vô hiệu
hóa mọi ngăn cấm của cha tôi. Tôi hoàn toàn tự do trong vương quốc do tôi
tạo ra” [13;3]. Với một trái tim đầy nhạy cảm và trí tƣởng tƣợng bay bổng,
Tạ Duy Anh luôn tƣởng tƣợng ra một cô bạn gái để đƣợc đối thoại, giãi bày.
Nhờ đó, ông có thể bộc lộ đƣợc tâm tƣ, tình cảm để vƣợt qua sự cô đơn lạc
lõng của mình. Nhờ vào các cuộc đối thoại qua trí tƣởng tƣợng của mình, nó
đã vô tình mở ra cánh cửa cho Tạ Duy Anh bƣớc vào thế giới văn chƣơng:
“đó là những cuộc đối thoại được nối với nhau bằng những sợi tơ ngũ sắc,
toàn những lời có cánh, thấm đẫm niềm say mê và tinh thần sả thân. Đó là sự
hiến mình của tôi cho cái sau này, tôi ý thức rõ ràng nó là văn chương nghệ
thuật” [13;5] . Khi nói về con đƣờng đến với văn chƣơng, ông đã tâm sự với
bạn đọc: Tôi không được chuẩn bị mảy may để trở thành nhà văn. Trừ cụ nội
bốn đời của tôi có ít chữ nghĩa nhưng lánh tục, còn lại tôi không được thừa


một tập tản văn trong 20 năm cầm bút.

20



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status