luận văn thạc sĩ Thế giới nghệ thuật trong tiểu thuyết của vi hồng - Pdf 41

Header Page 1 of 166.

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
------------- O0O ----------

DƯƠNG THỊ XUÂN

THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT
TRONG TIỂU THUYẾT CỦA VI HỒNG
CHUYÊN NGÀNH : VĂN HỌC VIỆT NAM
MÃ SỐ : 60. 22. 34

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học: TS. Đào Thuỷ Nguyên

Thái Nguyên - 2009

Footer Page 1 of 166.


Header Page 2 of 166.

LỜI CẢM ƠN!
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến TS. Đào Thủy Nguyên
đã tận tình giúp đỡ và tạo điều kiện tốt nhất cho tôi trong suốt thời gian
làm luận văn tốt nghiệp.
Tôi xin chân thành cảm ơn gia đình thầy giáo Vi Hồng, các thầy cô
giáo khoa Ngữ Văn, cùng gia đình, bạn bè người thân đã tạo điều kiện
giúp tôi hoàn thành luận văn này.



9

5. Mục đích nghiên cứu

9

6. Phương pháp nghiên cứu

9

7. Cấu trúc luận văn

10

NỘI DUNG
Chương 1: Cảm hứng nghệ thuật gắn với thế giới nhân vật trong tiểu
thuyết của Vi Hồng

11

1.1. Khái niệm cảm hứng nghệ thuật và thế giới nhân vật.

11

1.2. Cảm hứng nghệ thuật gắn với thế giới nhân vật trong tiểu thuyết
của Vi Hồng

13



1.2.3. Cảm hứng châm biếm, mỉa mai những con người vô học tối tăm
và lên án phê phán, những con người xảo trá, tàn bạo

35

1.2.3.1. Cảm hứng châm biếm mỉa mai những con người vô học tối tăm

35

1.2.3.2. Cảm hứng phê phán, lên án những người có chức, có quyền
bất tài, tráo trở, độc ác, vô nhân tính

39

Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Footer PageSố3hóaofbởi166.




Header Page 4 of 166.
Chương 2. Không gian nghệ thuật trong tiểu thuyết của Vi Hồng.

46

2.1. Khái niệm không gian nghệ thuật.

46


85

3.2. Thời gian nghệ thuật trong tiểu thuyết của Vi Hồng.

86

3.2.1. Thời gian sự kiện.

86

3.2.1.1. Thời gian sự kiện lịch sử.

86

3.2.1.2. Thời gian sự kiện đời tư.

91

3.2.2. Thời gian tâm lí.

99

3.2.2.1. Thời gian hiện tại.

100

3.2.2.2. Thời gian quá khứ.

103


1.1. Vi Hồng là một cái tên được nhiều người biết đến trong đội ngũ nhà
văn là người dân tộc thiểu số Việt Nam. Trong hành trình lao động nghệ thuật gần
40 năm, ông có số lượng sáng tác khá đồ sộ: 15 cuốn tiểu thuyết, 8 truyện ngắn, 6
tập sưu tầm truyện cổ Tày, Nùng và các công trình nghiên cứu về Sli lượn, khảm
hải, dân ca nghi lễ... trong đó, có nhiều tác phẩm dành được nhiều giải thưởng có
giá trị. Ông trở thành một trong những cây bút tiêu biểu của nền văn xuôi các dân
tộc thiểu số Việt Nam hiện đại, để lại dấu ấn sâu sắc và một tình cảm nồng thắm
nơi trái tim người đọc.
1.2. Vi Hồng sáng tạo trên nhiều thể loại: truyện ngắn, truyện vừa, tiểu
thuyết, truyện viết cho thiếu nhi, các công trình nghiên cứu Sli lượn, Khảm hải...
Ở thể loại nào nhà văn cũng thể hiện tài năng và một phong cách riêng rất rõ rệt.
Tuy nhiên, thể loại tiểu thuyết là nơi mà ông tập trung nhiều tâm huyết và tinh lực
nhất. Nhiều nhà nghiên cứu đã có những nhận xét khẳng định sự thành công của
ông ở thể loại này. Yếu tố quan trọng làm nên sự thành công ấy chính là thế giới
nghệ thuật. Vì vậy, tìm hiểu thế giới nghệ thuật là một việc làm không thể thiếu
khi nghiên cứu sáng tác của Vi Hồng ở thể loại tiểu thuyết.
1.3. Là một sinh viên đã được nhà giáo Vi Hồng giảng dạy trong những
năm học ở trường Đại học Sư phạm Việt Bắc, người viết ước vọng qua những
trang nghiên cứu này giúp người đọc hiểu hơn về con người, về cuộc đời, đặc biệt
là tài năng của Thầy - một nhà văn dân tộc thiểu số tiêu biểu. Qua đó, góp phần
khẳng định vị trí của nhà văn trong nền văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam
hiện đại.
Từ những lí do trên chúng tôi chọn đề tài: Thế giới nghệ thuật trong tiểu
thuyết của Vi Hồng

Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Footer PageSố5hóaofbởi166.




[14, 53], “Bản sắc dân gian trong tiểu thuyết của Vi Hồng” (luận văn tốt nghiệp
Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Footer PageSố6hóaofbởi166.




Header Page 7 of 166.
của Đỗ Thuỳ Liên 2007), “Tính dân tộc trong tiểu thuyết của Vi Hồng” (Luận
văn thạc sĩ của Hoàng văn Huyên 2003), “Tính dân tộc trong tiểu thuyết Tháng
năm biết nói, Chồng thật vợ giả, Núi cỏ yêu thương của Vi Hồng” (Luận văn tốt
nghiệp Đại học của Nông Thị Quỳnh Trâm 2004), “Đặc điểm ngôn ngữ trong
tiểu thuyết của Vi Hồng” (Luận văn tốt nghiệp Đại học của Nguyễn Thị Thu
Hương 2008), “Thế giới nhân vật trong tiểu thuyết của Vi Hồng” (Luận văn
thạc sĩ của Ma Thị Ngọc Bích 2004), “Chất thơ trong tiểu thuyết của Vi Hồng”
(Vũ Minh Tú - Đề tài nghiên cứu khoa học của sinh viên 2009)
Nhìn chung ở những công trình trên, các nhà nghiên cứu đã có những đánh
giá về những thành công và hạn chế trong sự nghiệp sáng tác của Vi Hồng. Tác
giả Hoàng Thi trong cuốn Văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam khẳng định
thành tựu sáng tác của Vi Hồng chủ yếu tập trung ở thể loại tiểu thuyết: “Nói
chung mặc dù ông rất tâm huyết với thơ và cả kịch nữa, nhưng ông vẫn chưa đạt
được kết quả như ý muốn. Chỉ khi đến với truyện ngắn đặc biệt là thể loại tiểu
thuyết thì nhà văn mới phát huy được hết những tiềm năng của mình, ông mới
thực sự được chú ý và chiếm được tình cảm nơi trái tim người đọc” [115,148].
Dương Thuấn trong bài “Nhìn lại văn học dân tộc Tày” (Tạp chí nghiên
cứu Văn học số 5 – 2006) đánh giá: Vi Hồng là “Tác giả đáng chú ý nhất trong
nền văn học thiểu số Việt Nam hiện đại”
Nhà phê bình Lâm Tiến trong cuốn Văn học các dân tộc thiểu số Việt
Nam hiện đại (Nxb Văn hoá dân tộc – 1995) và cuốn Văn học và miền núi - phê
bình và tiểu luận (Nhà xuất bản Văn hóa dân tộc – 2002) đã có cái nhìn khái quát

vật đó.” [14, 17].
Nhận xét về nhân vật trong sáng tác của Vi Hồng, Hoàng Thi viết: “phải
tha thiết yêu quê hương làng bản, yêu những con người cụ thể của dân tộc, Vi
Hồng mới thành công như vậy khi xây dựng nhân vật của mình. Đó chính là
những con người quê hương anh... Họ đều là những người nói tiếng nói của quê
hương, tiếng nói giầu hình ảnh, nhạc điệu của người Tày, người Dao. Có độc giả
người dân tộc thiểu số nào ở Việt Bắc khi đọc Vi Hồng lại không cảm thấy mình
đang sống lại, đang trở về với cội nguồn của mình” [15, 149]. Hoàng Thi đã đánh
giá cao sự thành công của Vi Hồng khi xây dựng nhân vật. Dường như toàn bộ
đối tượng sáng tác của ông đều là những con người miền núi. Họ mang những nét
tiêu biểu nhất của những con người nơi họ sinh ra và lớn lên. Chính vì vậy mỗi
người, nhất là những người dân tộc, khi đọc tiểu thuyết của Vi Hồng đều có thể

Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Footer PageSố8hóaofbởi166.




Header Page 9 of 166.
tìm thấy mình và cuộc sống của mình. Điều đó làm nên nét riêng khó lẫn trong
sáng tác của Vi Hồng.
Nhân vật trong tiểu thuyết của Vi Hồng đa dạng, phong phú, và thường
được khám phá ở hai bình diện đối lập, đó là nhận định của nhà giáo Cao Xuân
Thử:“ Vi Hồng đã bước đầu nhận ra, nhìn thấy khá rõ hai phương diện khác
nhau, trái nhau, đối lập nhau ở một con người”. Và khi nhận thấy điều đó thì:
“Nhà văn thừa nhận sự tồn tại của cái xấu, cái ác, cái chưa hoàn thiện trong con
người, nhà văn trình bày nó để nó tồn tại như là sự tất yếu cùng với cái tốt và cái
thiện” [14, 88].
Đọc tiểu thuyết của Vi Hồng, Hồ Thuỷ Giang phát hiện ra rằng: “Vi Hồng

tràn ngập chất thơ. Chất thơ ấy được toát ra từ thiên nhiên, con người và cuộc
sống miền núi. Qua việc khảo sát chất thơ trong tiểu thuyết của Vi Hồng, tác giả
khẳng định: “Trong tiểu thuyết của ông, chất thơ của hồn núi rừng, làng bản cứ
tuôn chảy lấp lánh, dạt dào từ ngòi bút có nghề” [41].
Khác với các nhà nghiên cứu trên, Hoàng Thi lại thấy: “Vi Hồng đã dẫn
dắt người đọc trở về quê hương miền núi, về với bản làng mình sau những ngày
đi xa, những cảnh vật quen thuộc (một cánh đồng, một dòng suối, một cây mận
đang ra hoa…) một tiếng “úp lều” trâu húc nhau cùng với những con người xiết
bao gần gũi mến yêu với những kỉ niệm êm đẹp từ thủa ấu thơ đến những ngày
khôn lớn… Tất cả như đồng hiện kéo ta trở về cội nguồn” [15, 148]. Như vậy,
theo Hoàng Thi không gian trong tiểu thuyết của Vi Hồng lại vô cùng quen thuộc,
mộc mạc mà gần gũi thân thương đối với mỗi con người. Đó chính là cội nguồn
nơi ta sinh ra và lớn lên.
Về bối cảnh xã hội trong sáng tác của Vi Hồng, cũng có một số nhận xét
thật xác đáng. Nhà giáo Cao Xuân Thử đã nhận thấy: “Vi Hồng là người am hiểu
văn hoá Tày, anh say đắm Si lượn. Anh hiểu cặn kẽ phong tục, tập quán, lề thói,
tập tục đến lễ hội, đến cái ăn, cái uống, sự mặc, việc dựng nhà cửa... nghĩa là tất
cả nề nếp sinh hoạt của đời sống vật chất và tinh thần của dân tộc anh. Đặc biệt
anh cảm nhận thấu đáo, cảm nhận được cái tinh tuý, minh triết trong sự lựa chọn
và ứng xử của mỗi con người trong đời sống cá nhân, đời sống xã hội, đời sống
cộng đồng Tày”. [14, 85].
Trong bài Cách viết tiểu thuyết của nhà văn Vi Hồng, Lâm Tiến khẳng
định: “Vi Hồng cũng thành công trong việc viết về những phong tục, tập quán của
dân tộc Tày. Những ngày hội mùa thật náo nhiệt trong Núi cỏ yêu thương, đám

hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Footer PageSố10
of 166.



chỉ là những nhận định có tính khái quát, chung chung, chưa có một cái nhìn tổng
thể, có tính hệ thống về toàn bộ thế giới nghệ thuật trong tiểu thuyết của Vi Hồng.
hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Footer PageSố11
of 166.




Header Page 12 of 166.
Thực tế đó đã gợi ý cho chúng tôi lựa chọn đề tài: Thế giới nghệ thuật trong tiểu
thuyết của Vi Hồng.
3. Giới thuyết về thế giới nghệ thuật.
Nhà văn Seđrin đã nói: “Tác phẩm văn học là một vũ trụ thu nhỏ, mỗi sản
phẩm nghệ thuật là một thế giới khép kín trong bản thân nó”. Như vậy, một tác
phẩm toàn vẹn phải xuất hiện như một thế giới nghệ thuật. Bêlinxki cũng đã từng
nhận xét: “Mọi sản phẩm nghệ thuật đều là một thế giới riêng mà khi đi vào đó
thì ta buộc phải sống theo các quy luật của nó, hít thở không khí của nó”.
Từ những nhận xét trên ta có thể hiểu thế giới nghệ thuật là sản phẩm sáng
tạo của người nghệ sĩ. Nó là kiểu tồn tại đặc thù vừa trong chất liệu, vừa trong
cảm nhận của người thưởng thức, vừa là sự thống nhất giữa nội dung và hình thức
trong chỉnh thể thẩm mỹ của tác phẩm.
Theo Từ điển thuật ngữ văn học thì thế giới nghệ thuật là: “khái niệm chỉ
tính chỉnh thể của sáng tạo nghệ thuật (một tác phẩm, một loại hình tác phẩm,
sáng tác của một tác giả, một trào lưu). Thế giới nghệ thuật nhấn mạnh rằng
sáng tác nghệ thuật là một thế giới riêng được tạo ra theo các nguyên tắc tư
tưởng và nghệ thuật (…). Khái niệm thế giới nghệ thuật giúp ta hình dung tính
độc đáo về tư duy nghệ thuật của người nghệ sĩ ” [16, 251].
Thế giới nghệ thuật có tính độc lập tương đối so với thế giới tự nhiên hay
thực tại xã hội. Đó chính là sự thừa nhận quyền sáng tạo của người nghệ sĩ.

Tuy nhiên, khi nghiên cứu chúng tôi tập trung chú ý vào những tác phẩm
tiêu biểu nhất của Vi Hồng.
4.2. Phạm vi nghiên cứu.
Luận văn không đi sâu vào nghiên cứu tất cả những vấn đề thi pháp mà chỉ
tập trung vào một số phương diện cơ bản trong thế giới nghệ thuật của tiểu thuyết
Vi Hồng. Đó là: Cảm hứng nghệ thuật gắn với thế giới nhân vật, thời gian nghệ
thuật và không gian nghệ thuật.
5. Mục đích nghiên cứu.
Nghiên cứu một số vấn đề thi pháp trong tiểu thuyết của Vi Hồng, chúng
tôi nhằm mục đích làm rõ hơn những nét riêng trong thế giới nghệ thuật của tiểu
thuyết Vi Hồng. Từ đó, có cái nhìn đầy đủ và toàn diện hơn về những đóng góp
của Vi Hồng trong nền văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại.
6. Phương pháp nghiên cứu.
Để hoàn thành nhiệm vụ của đề tài, chúng tôi sử dụng những phương pháp
cơ bản sau:
- Phương pháp thống kê, khảo sát.
hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Footer PageSố13
of 166.




Header Page 14 of 166.
- Phương pháp hệ thống.
- Phương pháp khái quát, tổng hợp.
- Phương pháp đối chiếu, so sánh.
- Phương pháp nghiên cứu tác giả văn học.
- Phương pháp phân tích tác phẩm theo đặc trưng thể loại.
7. Cấu trúc luận văn.

giá về mặt cảm xúc.
Có thể nói: "Cảm hứng nghệ thuật là một tình cảm mạnh mẽ, mang tư
tưởng và là một ham muốn tích cực đưa đến hành động, là niềm say mê khẳng
định chân lí, lí tưởng, phủ định sự giả dối và mọi hình tượng xấu xa tiêu cực, là
thái độ ngợi ca đồng tình với nhân vật chính diện, là sự phê phán tố cáo thế lực
đen tối, các hiện tượng tầm thường" [25, 43].
Như vậy cảm hứng nghệ thuật là một phương diện đặc thù của tác phẩm
văn học, bao gồm trong nó cả hai mặt chủ quan và khách quan. Nó xuất phát từ
nhu cầu nội tại bên trong của người nghệ sĩ trước hiện thực khách quan. Cảm
hứng phải là một trạng thái tình cảm sâu sắc mãnh liệt thể hiện tư tưởng của nhà
văn trong sự chiếm lĩnh và khám phá bản chất cuộc sống.
Các nhà nghiên cứu cho rằng : Cảm hứng nghệ thuật có thể có những biến
thể khác nhau như cảm hứng cảm thương, cảm hứng ngợi ca, cảm hứng hài hước,
hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Footer PageSố15
of 166.




Header Page 16 of 166.
châm biếm... Các biến thể ấy vừa mang những đặc trưng riêng, đồng thời cũng có
những mối quan hệ bổ sung và tương hỗ lẫn nhau. Trong từng tác phẩm, cảm
hứng này có thể trở thành một phương diện của cảm hứng kia.
Cảm hứng nghệ thuật là một tình cảm xã hội được ý thức, nó đem đến cho
tác phẩm một không khí cảm xúc nhất định, tác động mạnh mẽ đến người đọc.
Cảm hứng nghệ thuật thống nhất tất cả các cấp độ và yếu tố nội dung cũng như
hình thức của tác phẩm như: cốt truyện, kết cấu, xung đột, nhân vật, giọng điệu,
ngôn ngữ trong đó nhân vật là nơi biểu hiện rõ nhất và trọn vẹn nhất cảm hứng
nghệ thuật của nhà văn.

tăm và những kẻ xảo trá, tàn bạo.
1.2. Cảm hứng nghệ thuật gắn với thế giới nhân vật trong tiểu thuyết
của Vi Hồng.
Nhà văn Vi Hồng sinh ra trong một gia đình nông dân nghèo dân tộc Tày ở
bản Phai Thin xã Đức Long huyện Hoà An tỉnh Cao Bằng. Từ nhỏ, ông đã gắn bó
với quê hương, được tiếp xúc với rất nhiều con người và những cảnh đời khác
nhau. Có lẽ vì thế mà Vi Hồng có điều kiện thể hiện hình ảnh những đồng bào
của mình trên trang viết một cách sâu sắc.
Thế giới nhân vật trong tiểu thuyết của Vi Hồng rất đa dạng, phong phú.
Trong thế giới ấy có nhân vật phụ nữ, trẻ em, thanh niên, người già, bác sĩ, kỹ sư,
giáo viên, thày mo, chẩu mường, quan Tây... Mỗi nhân vật có một tính cách
riêng, hoàn cảnh riêng, nhưng họ đều là những người con của núi rừng Việt Bắc.
Có thể nói, nguồn suối văn học dân gian cũng ảnh hưởng không nhỏ đến tư
duy sáng tạo nghệ thuật của Vi Hồng. Ngay từ nhỏ ông đã được tắm mình trong
môi trường văn hoá dân gian, được nghe những bài dân ca trữ tình Tày, Nùng và
những điệu hát then của gia đình, quê hương. Trưởng thành, ông lại được làm cán
bộ giảng dạy văn học dân gian ở trường đại học hơn 30 năm. Trong văn học dân
gian trắng - đen, thiện - ác được phân biệt một cách rõ ràng. Nhân vật trong tiểu
thuyết của Vi Hồng cũng được phân chia thành hai nhóm rõ rệt: chính diện và
phản diện, cao đẹp và tầm thường, thánh thiện và gian ác.
Tuyến nhân vật chính diện thường là những con người đại diện cho cái
đẹp, cái thiện. Họ có những suy nghĩ, hành động cao cả mang đầy tính nhân văn.
Tuyến nhân vật phản diện thường là những nhân vật xấu xa, đại diện cho cái ác
trong xã hội. Hai tuyến nhân vật này được đặt cạnh nhau, đấu tranh với nhau. Và
cuối cùng phần thắng sẽ thuộc về cái tốt, cái thiện. Tuy nhiên để có được chiến
thắng, nhân vật chính diện phải trải qua rất nhiều khó khăn, đau khổ thậm chí cả
sự hi sinh nữa. Sáng tạo hai tuyến nhân vật chính diện và phản diện trong tiểu
hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Footer PageSố17
of 166.

cuồn cuộn, giỏi nghề săn bắt, đối mặt với hổ, gấu, chó sói mà không hề khiếp sợ.
Mi Tráng trong Mùa hoa Bioóc Loỏng “ khoẻ như một con gấu ngựa... Những
bắp chân, bắp tay với những thớ thịt đỏ au nổi lên cuồn cuộn. Tấm ngực rộng
thênh như như võ sĩ trên màn ảnh”. Vẻ đẹp đó là kết tinh của những gì là tinh tuý,
hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Footer PageSố18
of 166.




Header Page 19 of 166.
sự hoà quyện của núi rừng. Hình ảnh: “bộ ngực rất khoẻ của anh cũng nổi lên
cuồn cuộn trong lần áo” khiến người đọc có thể cảm nhận được sức khoẻ dẻo dai,
bền bỉ của người lao động. Anh xuất hiện trong trò chơi bắt vịt ở lễ hội Lồng tồng
của mường Khoang Đông trước sự thán phục của mọi người. Trong khi mọi
người “lặn đến đứt hơi” mà không bắt nổi một con thì anh chỉ cần một hơi đã bắt
được tới ba con vịt. Không những thế Mi Tráng còn là người giật giải nhất trong
các cuộc đua ngựa. “Cũng như mọi người khác, anh quắp lấy bụng con Mạ Lài,
rạp người xuống nắm lấy bờm con Mạ Lài. Mạ Lài chạy rất êm và tốc độ không
thay đổi”. Hình ảnh đó khiến Mi Tráng hiện lên như một kị binh thời trung cổ với
sức mạnh bạt núi băng rừng, chiến thắng tất cả.
Với một thân hình cao lớn, khoẻ mạnh, Tập Tạng trong Vào hang đã “đi
săn gấu khắp núi rừng Cao – Bắc – Lạng, Thái – Tuyên – Hà. Ông đi khắp sáu
tỉnh ngày ấy” bắt gấu, bắt hổ bằng tay không mà chưa hề thất bại.
Nhân vật Cốc trong Núi cỏ yêu thương hiện lên với một thân hình khoẻ
đẹp như một tượng đồng: “Cốc đen như mầu đồng đúc tượng, đậm chắc, những
thớ thịt ở bắp chân, bắp tay xoắn cuộn với nhau như những thớ lõi gỗ nghiến, gỗ
lim”. Được phân công thuần hoá hai con trâu khoẻ nhất, dữ nhất của trại chăn
nuôi, nhiều lúc chúng húc nhau chí tử. Khi ấy anh phải dùng sức của “hai bắp tay

bông trên các mái đại ngàn”. Thu Lạ quả là một bông hoa rừng ngào ngạt
hương sắc.
Không gian miền núi thường là nơi sinh ra những con người kết tinh vẻ
đẹp diệu kì. Hạ Chi cũng là một cô gái mang vẻ đẹp thần tiên như thế: “Hạ chi từ
trong nhà tắm bước ra, mặt mũi tươi rói mới mẻ như một nàng tiên vừa qua lò
luyện mĩ nhân trong một truyện cổ” khiến Mi Tráng ngắm nhìn Hạ Chi mà tưởng
như đang ngắm nhìn “một pho tượng tuyệt sắc của trời đất... Choáng cả rừng
xanh, lấp cả mọi thung lũng. Một kì công vĩ đại”. Tạo hoá không chỉ ban tặng cho
miền núi một không gian đẹp đẽ trong lành mà như để hài hoà với cảnh, tạo hoá
lại gửi đến đó những con người đẹp như nàng tiên lạc lối xuống trần gian và
những chàng trai khoẻ mạnh tràn đầy sức sống.
Cũng bằng bút pháp ước lệ tượng trưng, lấy vẻ đẹp của thiên nhiên làm
chuẩn mực cho vẻ đẹp của con người, nhân vật Ngọc trong Tháng năm biết nói
của Vi Hồng mang vẻ đẹp riêng có của người phụ nữ Việt Bắc: “Xinh đẹp mà lại
khoẻ mạnh. Thân hình tròn chắc..., nước da trắng như cây chuối bóc, mịn và
thơm như bột nếp nhuyễn, má hồng như cánh hoa mạ vách núi, eo như lưng con
ong mật, lông mày đen, sắc như con chim hoạ mi, cặp mắt cũng cặp mắt hoạ mi,
cặp môi là quả nhót chín mọng”.
hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Footer PageSố20
of 166.




Header Page 21 of 166.
Nhiều nhân vật phụ nữ khác trong tiểu thuyết của Vi Hồng, cũng mang vẻ
đẹp giầu tính lí tưởng và ước lệ như thế: Xinh Xông trong Mùa hoa Bioóc
Loỏng, Lả trong Lòng dạ đàn bà, Thu Lú trong Chồng thật vợ giả, La Bội Hoan
trong tiểu thuyết Đoạ đầy, Băng trong Tháng năm biết nói... Họ gần nhau ở nét



Header Page 22 of 166.
dành chồng từ trong nanh vuốt của chúa sơn lâm. Một người đàn bà dám hy sinh
cả tính mạng của mình để bảo vệ chồng, đáng lẽ phải được hưởng tình yêu, hạnh
phúc từ người chồng ấy, nhưng chị đã bị Nghít đối xử tàn tệ. Vì say mê sắc đẹp
của Mã Thả An, Nghít đã quên đi tình nghĩa vợ chồng. Anh vô tình với người vợ
thuỷ chung, nhân hậu, quan hệ với Mã Thả An ngay trong nhà mình. Lả hết lời
khuyên can nhưng không có kết quả. Đau đớn và thất vọng, chị đã tìm đến dòng
nước Sông Trong gửi mình cho hà bá, thuồng luồng để quên đi tất cả. May mắn
thay chị không chết mà đã được Tu và Ban cứu giúp.
Sống trong rừng sâu nhưng chị vẫn luôn hướng về gia đình, chồng con.
Nhờ vậy, Lả đã cứu được Nghít thoát khỏi bàn tay độc ác của kẻ lòng lang dạ thú
định hãm hại anh bằng thuốc độc. Hơn một tháng trời Lả hết lòng chạy chữa,
chăm sóc tận tình, Nghít mới hồi phục, nhưng lại bị mù cả hai mắt. Anh chàng
Nghít trẻ trung, đẹp trai tràn đầy sức sống, giờ đây phải sống trong cảnh đêm tối,
đó phải chăng là đòn trừng phạt của ông trời vì những việc làm tội lỗi mà Nghít
đã gây ra cho Lả. Nhưng Lả lại không coi là thế. Chị tận tình cứu chữa cho Nghít
và chăm lo cuộc sống cho ba bà cháu trong cái vỏ của người đàn bà khác. Sự ân
hận, hối cải của Nghít đã khiến Lả xúc động. Nhiều lần Lả muốn nói thật nhưng
rồi chị lại kìm nén được. Chị quyết định dành dụm tiền để đưa Nghít xuống bệnh
viện tỉnh chữa mắt. Chị không ngần ngại dành con mắt phải của mình để hiến
tặng cho Nghít, cứu Nghít ra khỏi cảnh mù loà, tăm tối. Nếu không có một tình
yêu sâu sắc, một trái tim nhân hậu lớn lao thì Lả không thể có được hành động
cao cả như vậy. Cuối cùng sự hy sinh ấy đã được đền bù xứng đáng. Nghít đã
nhìn thấy “bá tiên đen” lại trở thành cô Lả xinh đẹp ngày xưa. Họ cùng trở về
ngôi nhà hạnh phúc của mình.
Nếu tình yêu thương của Lả làm xúc động bao trái tim người đọc thì tình
bạn trong sáng và sự giúp đỡ tận tình xuất phát từ tình yêu thương của Tu và Ban
cũng thật cảm động. Bị khước từ tình yêu, Tu vô cùng đau đớn, nhưng không vì

lẽ tích cóp những đồng tiền bằng mồ hôi nước mắt của cái nghề sông nước vốn đã
khó khăn, và hy vọng một ngày nào đó sẽ đem đến cho Thu Khoan. Anh cố ý
không để Thu Khoan biết để mong cứu cô thoát khỏi cơn hoạn nạn. Và hôm nay
số tiền ấy đã thực sự cứu giúp được Thu Khoan. Nhờ có tình thương ấy mà Thu
Khoan đã thoát khỏi cuộc sống nhục nhã. Cô tràn ngập trong hạnh phúc, để rồi
kết quả của tình yêu và hạnh phúc ấy là một đứa con xinh đẹp đã ra đời. Nhưng
hạnh phúc của những con người nhân hậu ấy không được trọn vẹn, vì Kin Xa
ngày càng nghiện nặng, trở thành kẻ ăn mày rách rưới với nước da bủng beo chỉ
còn nằm chờ chết. Kim Công giục vợ đi thăm kẻ thù và sắm sanh quà cáp chu đáo
hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Footer PageSố23
of 166.




Header Page 24 of 166.
để Thu Khoan mang cho Kin Xa. Hành động cao cả của Kim Công mà anh gọi là
“tấm lòng làm người của chúng ta” ấy thật là cảm động. Cảm động hơn nữa khi
cặp vợ chồng Thu Khoan và Kim Công còn chấp nhận thêm một nỗi đau khi nàng
phải đánh đổi cả nhân phẩm của mình cho quan phủ Trần Hồi (mặc dù nàng rất
ghê tởm) đổi lấy những viên thuốc kí ninh chữa bệnh sốt rét cho Kin Xa. Hai trái
tim nhân hậu đã gặp nhau để rồi bùng lên ngọn lửa sưởi ấm những tâm hồn cô
đơn bất hạnh giúp Kin Xa thoát khỏi cái chết vì những cơn sốt rét hoành hành,
đang dần lấy đi tính mạng của hắn, đưa hắn trở về với cuộc đời. Có được những
tấm lòng như thế thật đáng quý, đáng trân trọng biết bao.
Cứu giúp người trong hoạn nạn là phẩm chất thường thấy ở nhân vật trong
tiểu thuyết của Vi Hồng. La hay chính là The trong Vãi Đàng là một cô gái thông
minh, xinh đẹp, sinh ra trong một gia đình nghèo, bố nghiện ngập phải bán hết cả
ruộng nương cho Tổng Nhự, thậm chí bán cả cô cho hắn. Khi đã trở thành bà

những nhà văn, nhà báo có tình yêu nghề nghiệp sâu sắc, có khát vọng sáng tạo
mãnh liệt nhưng chỉ vì gánh nặng cơm áo tầm thường mà khát vọng của họ không
sao thực hiện được, lương tâm nghề nghiệp bị vẩn đục, tài năng bị xói mòn. Họ
cảm nhận rõ thân phận mình cứ “mốc lên, rỉ ra, mòn đi” không lối thoát mà
không thể làm gì.
Ba mươi năm chiến tranh cách mạng, do ưu tiên viết về quần chúng công –
nông – binh nên nhân vật trí thức chưa được chú ý nhiều. Sau chiến tranh, nhất là
từ những năm 1986 trở đi, khi đất nước bước sang thời kì đổi mới, khi nhân vật trí
thức trở thành nơi gửi gắm thích hợp sự tự ý thức của nhà văn thì nhân vật người
trí thức lại xuất hiện nhiều trong tác phẩm. Điều này dễ nhận thấy trong sáng tác
của Nguyễn Minh Châu, Ma văn Kháng, Nguyễn Khải... Vi Hồng là một trong số
ít nhà văn người dân tộc thiểu số viết về người trí thức. Nhân vật trí thức trong
tiểu thuyết của Vi Hồng phần lớn là những nhà giáo, kỹ sư, bác sĩ... mẫu mực, có
tài, tâm huyết với nghề nghiệp, có ý thức trách nhiệm về bản thân, về cuộc sống.
Họ vượt lên mọi hoàn cảnh và những cám dỗ tầm thường, để đến với khoa học
bằng chính trí tuệ và lòng nhiệt tình của mình.
Đọc tiểu thuyết Gã ngược đời chúng ta không thể quên người thày giáo
giỏi, người kỹ sư nông nghiệp tài năng và đầy nhiệt huyết – Hà Thế Quản.
Quản sinh ra đã không được hưởng tình yêu thương của người cha, chỉ có
hai mẹ con anh côi cút sống trong rừng, vất vả, khổ cực nuôi nhau. Rồi mẹ anh lại
bỏ anh mà đi, Quản sống được là nhờ vào tình thương của những người tốt bụng
trong mường. Vất vả thiếu thốn là thế nhưng Quản vẫn học giỏi. Anh thi đỗ vào

hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Footer PageSố25
of 166.





Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status