TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC MẦM NON
======
LÊ THỊ HUYỀN
THẾ GIỚI NHÂN VẬT TRONG TÁC PHẨM
BỎ TRỐN CỦA PHAN THỊ THANH NHÀN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Văn học thiếu nhi
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học
TS. DƢƠNG THỊ THÚY HẰNG
HÀ NỘI - 2017
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn sâu sắc tới TS. Dƣơng Thị Thúy Hằng ngƣời
đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành Khóa luận.
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới gia đình, bạn bè đã quan tâm
động viên, khích lệ, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu.
Mặc dù đã nỗ lực cố gắng song do thời gian không nhiều, năng lực bản
thân có hạn nên khóa luận chắc chắn còn nhiều thiếu sót. Kính mong nhận đƣợc
sự lƣợng thứ và góp ý chân thành của các thầy cô giáo và các bạn để đƣợc học
hỏi và rút kinh nghiệm cho những công trình sau.
Hà Nội, ngày 26 tháng 4 năm 2017
Sinh viên
1.2.1. Những kiếp ngƣời bất hạnh....................................................................... 10
1.2.2. Những nhân vật giàu lòng nhân ái ............................................................ 19
1.2.3. Những nhân vật tha hóa về nhân cách ..................................................... 25
CHƢƠNG 2 NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG NHÂN VẬT TRONG TÁC PHẨM
BỎ TRỐN ............................................................................................................ 31
2.1. Nghệ thuật miêu tả ngoại hình ..................................................................... 31
2.2. Nghệ thuật miêu tả hành động ..................................................................... 34
2.3. Nghệ thuật miêu tả nội tâm .......................................................................... 38
2.4. Nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ nhân vật ....................................................... 40
2.4.1. Nghệ thuật đối thoại .................................................................................. 40
2.4.2. Ngôn ngữ độc thoại ................................................................................... 46
KẾT LUẬN ......................................................................................................... 49
TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................................................. 50
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. M. Gocki đã từng nói “Văn học là nhân học”. Văn học đóng vai trò là
chiếc chìa khóa mở cánh cửa đƣa con ngƣời tới những chân trời rộng lớn. Hơn
thế nữa, những tác phẩm văn học chân chính còn đóng góp một phần to lớn
trong việc bồi đắp, nuôi dƣỡng tình cảm trong tâm hồn con trẻ. Trên thực tế, trẻ
em lớn lên không chỉ bằng những câu hát ru “À ơi” ngọt ngào đằm thắm, hay
những câu chuyện cổ tích với những yếu tố kì ảo, huyền bí. Trẻ còn cần đƣợc
tiếp xúc với những câu chuyện mang nội dung gần gũi, đời thƣờng, quen thuộc
tồn tại ngay trong cuộc sống xung quanh trẻ. Những câu chuyện này có thể đến
với trẻ thông qua con đƣờng mẹ đọc con nghe, bà đọc cháu nghe… Từ đây, thế
giới tinh thần của trẻ sẽ đƣợc mở rộng và phong phú hơn.
1.2. Tác giả Phan Thị Thanh Nhàn trƣởng thành trong kháng chiến chống
Mỹ cùng thời với Xuân Quỳnh, Lâm Thị Mĩ Dạ,Ý Nhi... Tên tuổi bà gắn với bài
thơ nổi tiếng Hương thầm đã đƣợc phổ nhạc. Bên cạnh đó, bà còn đƣợc biết
Việt Nam nói riêng.
Giá trị của tác phẩm Bỏ trốn đã đƣợc khẳng định ngay khi mới ra đời
bằng giải A (một trong ba giải A) ở Cuộc vận động sáng tác cho thiếu nhi 1993
-1995 (nhà xuất bản Kim Đồng). Sau đó, tác phẩm đã đƣợc dựng thành phim Bỏ
trốn - một bộ phim ít ỏi thành công về đề tài trẻ em.
Việc tìm hiểu thế giới nhân vật trong tác phẩm Bỏ trốn sẽ giúp chúng tôi
hiểu sâu hơn về thế giới nghệ thuật của tác phẩm, đồng thời phục vụ một phần
cho quá trình công tác sau này của chúng tôi.
Trên cơ sở đó, chúng tôi lựa chọn đề tài khóa luận: “Thế giới nhân vật
trong tác phẩm Bỏ trốn của Phan Thị Thanh Nhàn”.
2. Lịch sử nghiên cứu
Từ khi bắt đầu cầm bút cho đến giờ, dù đã thất thập lai hi, nhìn chung,
Phan Thị Thanh Nhàn luôn nhận đƣợc sự trìu mến, ƣu ái từ phía độc giả và giới
phê bình. Cũng dễ hiểu, dù ở thơ hay truyện, dù viết văn hay làm báo, chúng ta
đều dễ dàng bắt gặp một ngòi bút thông minh và đôn hậu, ân tình; một tâm hồn
2
dung dị, dễ cảm, dễ thấu. Tác giả Vũ Quần Phƣơng đã rất sâu sắc khi cho rằng:
“Tình cảm chín dần trong nỗi thấm thía nội tâm. Bước tiến của Thanh Nhàn
song hành với sự lịch lãm từng trải và sự lao động kiên trì của bà. Thanh Nhàn
ngày càng lặn sâu vào lòng mình, mạnh dạn mà cũng khá nhuần nhuyễn bộc lộ
nỗi riêng tư rất cá thể trước cuộc đời”.
Bàn về văn xuôi Phan Thị Thanh Nhàn, dù số lƣợng bài viết ít ỏi hơn
nhƣng các nhà nghiên cứu, phê bình, các độc giả cũng đã dành cho bà một tình
cảm trân trọng, trìu mến không kém. Chúng tôi xin điểm qua một số những bài
viết, ý kiến tiêu biểu hơn cả.
Trên báo Văn nghệ quân đội, nhà nghiên cứu Lã Thị Bắc Lý đã dành
những tình cảm đặc biệt đối với tác phẩm Bỏ trốn của Phan Thị Thanh Nhàn.
Tác phẩm đƣợc liệt kê là một trong những thành công lớn trong mảng văn học
đến nay, trong số các công trình nghiên cứu chúng tôi tập hợp, chƣa có một
công trình nào tìm hiểu sâu về những vấn đề cụ thể trong tác phẩm Bỏ trốn.
Trên cơ sở đó, chúng tôi đi vào tìm hiểu thế giới nhân vật trong tác phẩm này,
với quan niệm cho rằng việc khám phá về thế giới nhân vật sẽ là tiền đề quan
trọng để khám phá thế giới nghệ thuật của tác phẩm.
3. Mục đích nghiên cứu
Trong phạm vi khóa luận, chúng tôi bƣớc đầu chỉ ra những đặc điểm cơ
bản về thế giới nhân vật của truyện dài Bỏ trốn. Từ đây, chúng tôi muốn khẳng
định rằng, thế giới nhân vật là một trong những yếu tố quan trọng góp phần làm
nên thành công của tác phẩm. Thông qua thế giới nhân vật, giá trị giáo dục của
tác phẩm cũng đƣợc thể hiện.
4. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Khóa luận tìm hiểu thế giới nhân vật trong tác phẩm Bỏ trốn của Phan
Thị Thanh Nhàn.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của khóa luận là truyện dài Bỏ trốn của Phan Thị
Thanh Nhàn.
4
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Một số phƣơng pháp đƣợc chúng tôi sử dụng chủ yếu trong khóa luận
nhƣ sau:
Phƣơng pháp thống kê, phân loại.
Phƣơng pháp phân tích, tổng hợp.
Phƣơng pháp đối chiếu, so sánh.
6. Bố cục khóa luận
Ngoài Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, nội dung khóa luận Thế giới
ngƣời lớn. Với trẻ em, cô Nhàn, bà Nhàn cũng rất thân thiết với bài thơ Làm
anh và một số bài thơ khác. Không dừng lại ở đó tình cảm thân thiết đó, tác giả
còn viết nhiều tác phẩm gần gũi với cuộc sống sinh hoạt thƣờng ngày của trẻ
em. Những tác phẩm tiêu biểu, có thể kể tên: Xóm dê ngày ấy, Tuổi trăng rằm,
Bỏ trốn, Cậu học trò lớp chín.
Từ năm 2000 đến nay, tác giả Phan Thị Thanh Nhàn tham gia làm giám
6
khảo nhiều cuộc thi của trẻ em, nổi bật nhất là cuộc thi Viết thư Quốc tế
UPU dành cho thiếu nhi do Việt Nam tổ chức. Qua hơn 15 năm liên tục tham
gia cuộc thi với cƣơng vị là giám khảo, Phan Thị Thanh Nhàn cùng một số nhà
văn nổi tiếng khác nhƣ Tạ Duy Anh, Lê Phƣơng Liên, Phong Điệp... đã góp
phần không nhỏ trong việc giúp học sinh Việt Nam thể hiện tài năng, bản lĩnh
của mình trên trƣờng quốc tế với 11 giải Quốc tế do UPU và UNESCO trao
tặng trong hơn 25 năm Việt Nam tham gia.
Các tác phẩm chính:
Thơ: Tháng giêng hai (Văn học, 1969, in chung với Thúy Bắc và Hoàng
Thị Minh Khanh); Hương thầm (Văn học, 1973); Chân dung người chiến
thắng (Tác phẩm mới, 1977); Bông hoa không tặng (Tác phẩm mới, 1987);
Nghiêng về anh (Hội nhà văn, 1992); Bài thơ cuộc đời ( Hà Nội, 1999); Thơ
với tuổi thơ (Kim Đồng, 2002).
Văn xuôi: Xóm đê ngày ấy (tái bản ba lần, Kim Ðồng - 1975, Hà Nội,
1982, Kim Đồng - 1999); Hoa mặt trời (Phụ nữ, 1981); Ánh sáng của anh
(Kim Đồng, 1978); Tuổi trăng rằm (Kim Đồng, 1982); Bỏ trốn (Kim Đồng,
1995 - 1996 - 1999).
Phan Thị Thanh Nhàn đã nhận đƣợc các giải thƣởng văn học:
Giải nhì cuộc thi thơ báo Văn Nghệ 1969
Giải A của Hội Liên hiệp văn học nghệ thuật Hà Nội các năm 1974 và
1980.
do cảnh bác dâu “khác máu tanh lòng”. Sự hiểu nhầm về hai chỉ vàng đã khiến
bé Thi bỏ nhà ra đi, theo một đám tang, đến bên mộ bà ngoại, cuối cùng rơi vào
cuộc sống của “cƣ dân nghĩa trang”...
Vốn là một nhà báo, Phan Thị Thanh Nhàn không ngần ngại dùng ngòi
bút của mình miêu tả chân thực câu chuyện về những mảnh đời bất hạnh, đau
thƣơng, những kiếp ngƣời lay lắt với những kế sinh nhai đến khó tin lại tồn tại
ngay giữa thủ đô Hà Nội. Câu chuyện đƣợc tác giả kể một cách tự nhiên, có lúc
dồn nén, có lúc khiến ngƣời đọc hồi hộp chờ đợi… Tác giả đã dẫn dắt bạn đọc
đi qua nhiều cung bậc cảm xúc để rồi với một cái kết có hậu trong nỗi ân hận
của ngƣời lớn và tình cảm khoan dung của đứa trẻ ngoan. Tác phẩm Bỏ trốn
8
mang bóng dáng phảng phất một câu chuyện dân gian truyền thống, nhắc nhở
ngƣời đời gìn giữ lấy tình cảm vốn có tƣởng chừng đã cũ càng rồi nhƣng ở hiện
đại vẫn ám ảnh đâu đó cuộc sống giống với nhân vật bé Thi.
Truyện dài Bỏ trốn hiện vẫn là một trong những cuốn sách bán chạy.
Bạn đọc nhỏ tuổi tìm đến cuốn sách không chỉ bởi sự đồng cảm, sự sẻ chia, xót
thƣơng những số phận của những trẻ em không may mắn mà còn bởi sự mến
mộ tài quan sát tỉ mỉ, cách miêu tả nội tâm nhân vật sinh động, chân thực của
tác giả cùng với nghệ thuật xây dựng thế giới nhân vật, xây dựng một lúc nhiều
tuyến nhân vật. Số lƣợng nhân vật tuy nhiều nhƣng các nhân vật đều đƣợc nhà
văn khắc họa một cách rõ nét về ngoại hình, tâm lý, hành động, đặt nhân vật vào
hoàn cảnh sống điển hình để làm nổi bật nét tính cách riêng của họ.
Đọc tác phẩm Bỏ trốn, ta không hề cảm thấy bàn tay đẽo gọt của nhà văn
mà chỉ thấy nổi lên cái đẹp thuần pháp, tinh tế thông qua cái nhìn tỉ mỉ của nhà
văn. Dƣờng nhƣ, tác giả đã hóa thân vào nhân vật trẻ thơ, bởi vậy mỗi trang văn
của Phan Thị Thanh Nhàn có nhiều góc nhìn, góc chiếu đa dạng nhiều chiều.
Tóm lại Bỏ trốn ngay từ khi ra đời đã khẳng định chỗ đứng và chiếm
đƣợc nhiều tình cảm, sự mến mộ của bạn đọc. Nó là thành công nổi bật của
phúc. Tính chất công việc nhà báo và sự độc lập của ngƣời mẹ, cộng với những
xích mích, mâu thuẫn gia đình, tất cả đã khiến Thi phải sống thiếu vắng sự che
chở, bao bọc, yêu thƣơng của ngƣời cha. Bố mẹ Thi li hôn, ngƣời cha đi theo
một hạnh phúc khác, cô bé sống với mẹ từ lúc mới hơn mƣời tháng tuổi. Có lẽ,
không có điều gì đáng thƣơng hơn là cuộc sống thiếu thốn tình cảm, thiếu vắng
tình yêu thƣơng của ngƣời bố trong gia đình. Đây là một điều thiệt thòi khiến
Thi khác với những đứa trẻ khác cùng trang lứa. Bé chín chắn, dạn dĩ hơn so với
tuổi thực của em.
Đọc tác phẩm, ta nhìn thấy một cô bé vô cùng ngoan ngoãn, rất yêu
thƣơng mẹ và những ngƣời thân trong gia đình, biết nhƣờng nhịn, ngậm ngùi,
chịu đựng sự ghẻ lạnh của ngƣời bác dâu. Thi là một cô bé kiên cƣờng, có tấm
lòng vị tha, khoan dung thật đáng trân trọng. Dƣới ngòi bút chân thực, tài quan
sát tỉ mỉ, tác giả đã đƣa bạn đọc đi theo nhân vật Thi qua từng cung bậc cảm xúc
có lúc hồi hộp, có lúc dồn nén, có lúc nghẹn ngào, có lúc vỡ òa trong hy vọng...
10
Cảm xúc ấy đƣợc thể hiện sâu lắng trong tác phẩm, để rồi một lần nữa
độc giả phải xót xa, cảm thƣơng trƣớc cảnh mẹ Thi đi công tác xa. Thi đƣợc gửi
ở nhà với bà và Bác Mai. Đáng lẽ khi đƣợc sống cùng bà, đƣợc chơi với hai anh
chạc tuổi mình, đặc biệt là đƣợc đi học với anh Quang, đƣợc anh Quang dạy học
bài cô bé phải cảm thấy vui vẻ, hớn hở bởi bấy lâu nay Thi chỉ sống một mình
với mẹ. Trạng thái tâm lí của Thi đƣợc tác giả miêu tả bằng một loạt những
hành động “Cái Thi nép sau lưng bà, nhìn mẹ nó, nước mắt rưng rưng: “Con ứ
ở đây đâu! cho con đến nhà cô Thanh bạn mẹ cơ!” [1, 12]. Rõ ràng hành động
sợ sệt, rƣng rƣng nƣớc mắt của Thi cho thấy cô bé ý thức đƣợc sự không thoải
mái, thái độ ghẻ lạnh của bác Mai đối với nó. Nhà văn đã rất thành công khi
miêu tả thành công thế giới nội tâm của nhân vật bé Thi. Cô bé sẵn sàng đòi mẹ
đƣa sang ở cùng với một ngƣời bạn xa lạ của mẹ hơn là đƣợc ở cùng với những
ngƣời thân trong gia đình mình. Tiếp đến, từ trạng thái tâm lí lo sợ, rƣng rƣng
Thật khó tin khi một đứa trẻ mới chỉ mới mƣời tuổi đã suy nghĩ thấu đáo
đến nhƣ vậy. Thi chỉ có thể hôn nhiên vô tƣ, kể liến láu tất cả mọi chuyện duy
nhất khi có hai bà cháu. Chỉ khi bên cạnh bà, Thi mới trở về với chính con
ngƣời thật của mình, đúng hơn bà mới là niềm vui cuộc sống của cô bé. Đọc tác
phẩm, ta thấy rất rõ tình cảm yêu thƣơng vô bờ bến của Thi dành cho bà bởi
không ai khác bà chính là điểm tựa duy nhất mà cô bé có thể dựa vào. Bà là
cuộc sống, là ngƣời thân, là vũ trụ vĩ đại của Thi.
Nhân vật bé Thi đƣợc tác giả khắc họa vô cùng sống động, với nhiều
cung bậc tình cảm và những rối ren trong trạng thái tâm lí. Cô bé không những
là ngƣời con ngoan ngoãn mà còn là ngƣời cháu hiếu thảo biết quan tâm, chăm
sóc bà “Tối ấy bà đi nằm sớm, kêu đau lưng, nhức đầu. Thi đấm lưng, bóp đầu,
bóp tay cho bà” [1, 21]. Chẳng những vậy cô bé còn rất ý tứ, biết bác Mai vốn
không ƣa mình, Thi chẳng những không dám ngồi chung bàn học với anh
Quang vì sợ những cái lƣờm nguýt mà bác Mai sẽ ném cho mình. Bé lủi thủi
ngồi dƣới chân giƣờng của bà học bài. Thật tội nghiệp và đáng thƣơng trƣớc
tình cảnh trớ trêu đó. Đáng lẽ, cô bé phải nhận đƣợc sự yêu thƣơng, sẻ chia của
bác bởi cuộc sống của Thi đã vô cùng khó khăn, bất hạnh từ khi mới mƣời
tháng tuổi. Nhƣng không, ngƣời bác ấy chẳng những ghẻ lạnh mà còn hẹp hòi,
12
với những toan tính nhỏ nhặt. Trẻ con chơi với nhau, giúp đỡ nhau trong học tập
là điều nên làm, nhƣng bác Mai cũng nổi giận, mắng mỏ “Học hành gì lạ thế?
Cái gì cũng hỏi. Không còn cho nó làm gì nữa. Anh mày chứ có phải thầy giáo
của mày đâu! Cái loại cha mẹ bỏ nhau lớn lên lại chẳng hư sớm. Báu lắm đấy!”
[1, 14]. Những lời nói cay độc giáng xuống đầu một đứa trẻ nghe sao mà chua
xót thế! Tác giả đã rất tài tình khi miêu tả rất thành công thế giới nội tâm của
nhân vật bé Thi. Xuyên suốt trong tác phẩm là những giọt nƣớc mắt trong cam
chịu khiến bạn đọc không những thƣơng cảm, xót xa.
Số phận của Thi càng trở nên bất hạnh, đáng thƣơng khi mẹ Thi đột qua
phú thác mọi trách nhiệm cho bố Thi, cô bé cảm nhận rất rõ khuân mặt nặng nề
của bác Mai khi bố Thi bối rối, xấu hổ phải từ chối việc nuôi nấng con mình. Cô
Thanh mặc dù rất yêu quý Thi, nhƣng cô cũng đang ở cùng nhà chồng, rất khó
khăn để cô có thể chăm sóc cho Thi đƣợc. Lúc này đây, chỉ có bà là yêu thƣơng
Thi và sẵn sàng che chở, chăm sóc cho cô bé. Trƣớc thái độ chì chiết của bác
Mai, bà nghẹn ngào vừa nói vừa khóc “- Ơ hay, nó là cháu tôi, là em thằng
Quang, thằng Qúy. Bác Quốc nó và tôi nhất định không để nó đi đâu hết. Chị
Mai không muốn thì để tôi với cháu ăn riêng, ở riêng ra...” [1, 27].
Cuộc sống của Thi trở bất hạnh hơn bao giờ hết kể từ hôm mẹ mất. Thi
bắt đầu cuộc sống với ngƣời bác ruột. Bà ngoại vì quá đau buồn chuyện của mẹ
Thi, phần cũng vì suy nghĩ thƣơng xót đứa cháu gái tội nghiệp nên ngày càng
yếu đi. Chỉ có Thi gần gũi và chăm sóc bà, cô bé rót nƣớc, lấy khăn mặt, quần
áo bẩn của bà đi giặt. Thi không những làm thay tất cả công việc chăm sóc bà
vốn dĩ đó là trách nhiệm của ngƣời con dâu đối với mẹ chồng; cô bé còn phải
vừa đi học vừa lo toan công việc nội trợ trong gia đình. Có những chi tiết trong
tác phẩm khiến cho bạn đọc phải ngậm ngùi rơi nƣớc mắt, xót thƣơng trƣớc
hoàn cảnh bất hạnh của Thi. Phải sống chung với ngƣời bác vốn dĩ không yêu
thƣơng gì mình, Thi cố gắng chăm chỉ dọn dẹp nhà cửa, chăm sóc bà, đi chợ,
nấu cơm, giặt giũ lo liệu mọi công việc nội trợ trong gia đình; âm thầm chịu
đựng sự mắng nhiếc, chì chiết của bác Mai “Mày có mồm không mà nấu canh
mặt chát thế này?. Hôm qua thì cơm nát như cám, bảo cho ít nước thôi thế là lại
khô như rang. Ai sống nổi với mày không?”[1, 29]. Từng câu, từng chữ bác Mai
14
rít lên khiến đứa trẻ tội nghiệp ấy chỉ biết tủi phận, lặng lẽ, chịu đựng. Có những
lúc cô bé tƣởng chừng cuộc sống của mình bế tắc trong vô vọng chỉ biết quay
mặt đi lau những giọt nƣớc mắt tủi nhục, chịu đựng “Lại còn khóc hả? Oan ức
lắm hả? Con gái không học làm học ăn, muốn trèo lên bàn thờ cho người ta thờ
hả? [1, 30]. Dƣới ngòi bút chân thực của tác giả, chúng ta có thể cảm nhận một
lời chì chiết cay độc mà bác Mai dành cho nó, nó mới bất giác hiểu ra mọi
chuyện “Những đứa không cha không mẹ thì cháy cũng không có mà ăn đâu!”
[1, 41]. Những ngày tháng khổ đau, tủi nhục nhất lại bắt đầu với cô bé, Thi
không còn đƣợc bác Mai đèo tới trƣờng nhƣ mọi hôm nữa, cũng chẳng còn
những bữa ăn sáng đầy đủ nhƣ những ngày bác Quốc ở nhà thay vào đó cô bé
còn bị cắt nốt phần ăn vào buổi sáng.
Trang văn ấy càng trở nên khắc khoải, sâu lắng hơn bởi không biết từ bao
giờ Thi đã trở thành ngƣời ở, là cái gai trong mắt của ngƣời bác vô nhân tính đó.
Chi tiết Thi phải dậy sớm để đun nƣớc ấm cho bác và các anh rửa mặt đánh
răng, tới bữa ăn Thi bị đối xử không khác gì kẻ hầu ngƣời hạ. Cô bé chẳng
những không dám ăn cùng cả nhà mà còn lặng lẽ lủi thủi chờ mọi ngƣời ăn
xong mới dám ngồi vào ăn. Bởi lẽ Thi biết rằng bác Mai coi mình nhƣ kẻ ăn
nhờ ở đậu đâu có thể xếp ngang hàng với con trai bác. Có thể nói chỉ bằng một
vài chi tiết nhỏ nhƣng vô cùng đắt giá trong tác phẩm đã khiến trái tim bạn đọc
phải thổn thức, xót thƣơng, cảm thông trƣớc nhân vật bất hạnh mà nhà văn xây
dựng vô cùng thành công đó.
Đọc tác phẩm, có lẽ chúng ta đều tự hỏi: tại sao một đứa trẻ chỉ mới
mƣời tuổi lại có thể hiểu chuyện, biết suy nghĩ thấu đáo, biết tự an ủi bản thân,
kiên cƣờng vƣợt qua mọi bất hạnh trong cuộc sống đến nhƣ vậy? Phải chăng vì
cuộc sống tự lập, thiếu vắng sự chăm sóc của ngƣời cha từ nhỏ đã rèn luyện nên
một bé Thi mạnh mẽ, chịu đựng vƣợt qua mọi sóng gió của cuộc sống nhƣ vậy
sao? Càng đi sâu vào tác phẩm, chúng ta càng khâm phục sự nghị lực, luôn suy
nghĩ mọi chuyện theo chiều hƣớng tích cực, không gục ngã trƣớc số phận bất
hạnh, tự biết an ủi mình của cô bé có trái tim giàu lòng nhân hậu ấy.
Tiếp nối dòng cảm xúc đó, bạn đọc sẽ vô cùng thƣơng xót trƣớc cảnh cô
bé bất hạnh ngã sấp xuống đất bởi cái tát nảy lửa bác Mai giáng vào mặt chỉ vì
16
hiểu lầm về hai chỉ vàng bà cho Thi trƣớc khi mất. Cô bé không chỉ bị coi là kẻ
Thi trong đó có cả bác Mai lại khiến cô bé càng muốn trốn chạy thật xa bởi
trong Thi giờ đây đã mất hết niềm tin, sự hy vọng vào ngƣời bác ấy.
Phan Thị Thanh Nhàn đã rất thành công khi khắc họa vô cùng tinh tế
nhân vật Thi, có thể nói nhân vật hiện lên là một nhân vật điển hình cho những
kiếp ngƣời bất hạnh trong xã hội. Với những trang văn xuất phát từ trái tim khi
xây dựng nhân vật bé Thi, tác giả đã nhận đƣợc sự thán phục từ phía độc giả,
cùng những giọt nƣớc mắt cảm động, sẻ chia, đồng cảm trƣớc nhân vật bất hạnh
mà tác giả xây dựng.
Mẹ Thi cũng là một điển hình của những con ngƣời bất hạnh trong xã hội.
Mẹ Thi hiện lên là một ngƣời phụ nữ hiền lành, tốt bụng, năng động, nhanh
nhẹn, tháo vát lại vô cùng hiếu thảo nhân hậu. Vậy mà ngƣời phụ nữ đó không
những không có đƣợc hạnh phúc gia đình, mà còn phải một mình tần tảo khuya
sớm chăm lo cho đứa con gái bé bỏng. Có lẽ điều bất hạnh nhất của ngƣời phụ
nữ trong bất kỳ thời đại nào chính là sự cô đơn thiếu vắng sự sẻ chia, đồng hành
của ngƣời bạn đời. Nuốt vào trong mọi nỗi bất hạnh đó là sự hy sinh của một
ngƣời mẹ tần tảo dành cho Thi. Chính bởi đƣợc sống trong vòng tay hiền dịu,
nhân hậu của mẹ từ nhỏ nên Thi cũng thấm nhuồn những đức tính tốt đẹp từ mẹ.
Mặc dù điều kiện kinh tế còn nhiều khó khăn nhƣng cô luôn đặt chữ hiếu lên
hành đầu, chăm sóc chu đáo cho mẹ khi thì quà bánh khi thì củ sâm... Thêm vào
đó là sự lan rộng tình cảm, xót thƣơng, chia sẻ trƣớc những hoàn cảnh đáng
thƣơng ngoài xã hội. Với tấm lòng nhân hậu, cô luôn dành tình cảm yêu thƣơng,
giúp đỡ những trẻ em tội nghiệp, ngƣời già cơ nhỡ lang thang trên đƣờng.
Những tƣởng một ngƣời phụ nữ tốt bụng, nhân hậu nhƣ vậy sẽ gặp mọi may
mắn trong cuộc sống. Nhƣng không cuộc đời thật lắm nghịch lí khi cô Tâm (mẹ
Thi) không may mắn trở thành nạn nhân xấu số trong một vụ tai nạn giao thông.
Đây không chỉ là sự bất hạnh đối với số phận của mẹ Thi mà còn để lại biết bao
nỗi đau cho những ngƣời thân bên cạnh nhƣ Thi, bà ngoại, bác Quốc, cô
Thanh...
Tác phẩm ra đời khi đất nƣớc đang bƣớc sang một thời kì mới cùng với
nguồn suối ngọt ngào có ở nơi ta. “Quà tặng phải đưa vào tận con tim chứ
không phải chỉ trên đôi tay” (Paul Claudel). Nhờ vậy, đi tới đâu ta cũng dễ cảm
19
thấy tình yêu đang chờ đợi mình, đang chào đón mình.
Nhƣ ở trên có nói, Bỏ trốn ra đời khi cả nƣớc đang tƣng bừng hòa chung
không khí đoàn tụ, sum họp, cùng nhau xây dựng đất nƣớc nhƣng vẫn còn nhiều
thân phận xứng đáng đƣợc hƣởng hạnh phúc lại bị đói rách đọa đày, ngƣời thân
đối xử tệ bạc quá! Tuy vậy họ vẫn tồn tại và phát triển bởi “Sự sống chẳng bao
giờ chán nản”, bởi trên đời này còn rất nhiều ngƣời tốt sẵn sàng sẻ chia, giúp
đỡ khi họ gặp khó khăn, hoạn nạn. Đó là cái Hảo, thằng Quang, là cô Thanh, là
những nhân vật lam lũ tìm kế sinh nhai trong nghĩa trang thành phố. Trên hết là
hình tƣợng ngƣời bà lung linh tỏa sáng. Những đau tủi, buồn khổ của cô bé đơn
côi giữa cảnh đời bất hạnh, nhờ có bà, đã vơi bớt phần nào. Bà luôn mở rộng
vòng tay che chở, cƣu mang cô cháu gái tội nghiệp đáng thƣơng. Có thể nói
trong bất kì hoàn cảnh nào bà luôn bên cạnh bênh vực, xoa dịu những đau
thƣơng, tủi khổ mà Thi đang phải gánh chịu. Bà ân cần, lặng lẽ chia sẻ với Thi
từng khó khăn này đến bất hạnh khác. Bà nghiêm khắc, lớn giọng chỉnh đốn con
dâu khi biết vừa hắt hủi, đay nghiến cháu gái bà. Vẫn là bà thƣơng yêu, hiền hậu
bao dung sẵn sàng cƣu mang, vỗ về cô cháu gái tội nghiệp vƣợt qua nỗi đau bất
hạnh mất mẹ. Qủa thực, từ chuyện mẹ Thi đi công tác xa đến chuyện tai nạn đột
ngột cƣớp đi ngƣời mẹ yêu quí của Thi, vẫn chỉ có bà sẵn sàng dang rộng cánh
tay ôm ấp Thi vào lòng. Bà luôn cố gắng nén nỗi đau mất con trong mình để
làm chỗ dựa, san sẻ phần nào nỗi đau thƣơng bất hạnh cho cháu. Không một lời
than đến não lòng quặn ruột nào đƣợc thoát ra nơi cửa miệng thay vào đó là ánh
mắt buồn rầu, ƣớt đẫm nƣớc mắt bà nén lại trong lòng bởi bà còn một nỗi lo
lắng suy nghĩ cho cháu gái đáng thƣơng của bà. Phải chăng để có thể hiểu và
thông cảm cho nỗi đau của ngƣời khác trong khi bản thân cũng bị những vết
thƣơng hành hạ thì chắc hẳn con ngƣời đó cũng là con ngƣời thấm đẫm tình
những đau khổ, nghiệt ngã, bất hạnh mà cô bé đang phải chịu đựng bà đều
muốn san lấp, đền bù, an ủi cho Thi. Phải chăng vƣợt lên trên tất cả, chỉ có tình
yêu thƣơng máu mủ, ruột thịt mới có thể khỏa lấp, san sẻ mọi nỗi buồn tủi, khổ
đau trong cuộc sống? Tấm lòng bao dung, nhân ái, yêu thƣơng cháu vô điều
kiện của bà nhƣ ngọn lửa sƣởi ấm trái tim lạnh giá, gỉ máu trong Thi.
Bên cạnh cái nhìn sắc lạnh, tỉnh táo khi phản ánh hiện thực Phan Thị
21