ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA
HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN
VĂN
===***===
ĐÀO THANH NGA
NGHỆ THUẬT TỰ SỰ
TRONG TRUYỆN NGẮN NAM CAO
TRƢỚC CÁCH MẠNG THÁNG 8 NĂM 1945
luËn v¨n th¹c sÜ
Chuyªn ngµnh V¨n häc ViÖt Nam
Hµ Néi - 2010
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong bản tự thuật Nam Cao gửi cho Ban tổ chức Hội văn nghệ Việt
Nam ngày 10/4/1950, cả một đời văn được tóm tắt như sau: "Bắt đầu viết từ
năm 1940. Ngoài những truyện ngắn đăng trên tờ Tiểu thuyết Thứ Bảy và một
số sách nhi đồng (Truyền Bá, Hoa Mai) không xuất bản được tác phẩm nào
đáng kể. Tuy nhiên, trong thời kỳ ấy đã viết được một số tiểu thuyết dài
nhưng vì bị kiểm duyệt bỏ hay vì dài quá không in được: Ngày lụt, Truyện
người hàng xóm, Sống mòn...(trừ bản thảo Sống mòn vẫn còn giữ được, còn
mất hết vì đã bán cho các nhà xuất bản cả rồi)"…[34, tr.11].
2.1.1. Quan niệm tự sự học
Tự sự học cần được phân biệt với trần thuật học, trần thuật học vốn là
một thuật ngữ của cú pháp học, các nhà lý luận cấu trúc đem mô hình trần
thuật của ngôn ngữ học vận vào tác phẩm văn học tự sự, xem các văn bản đó
như một loại câu, cho nên họ có xu hướng gọi đó là trần thuật học. Khuynh
hướng ngữ học hoá ấy tạo một cách hiểu hẹp không nên có. Một số nhà ngữ
học xem trần thuật học là một bộ phận của ngôn ngữ học diễn ngôn đem vận
dụng vào văn học. Trần thuật học trong ý thức một số nhà nghiên cứu chỉ
nghiên cứu diễn ngôn, lời kể với những người kể, điểm nhìn...trong khi đó tự
sự học bao gồm cả hệ thống sự kiện, cách tổ chức các sự kiện đó, các mô típ
truyện, sự phân loại chúng, lịch sử vận dụng của tự sự...những vấn đề rộng
lớn hơn trần thuật rất nhiều. Đồng thời khái niệm tự sự xưa nay không bao giờ
chỉ riêng loại hình nghệ thuật tự sự, phân biệt với trữ tình và kịch. Tự sự là
một phương thức biểu đạt mà văn học, báo chí, thông tin, lịch sử đều sử dụng.
Ngày nay, vận dụng ngôn ngữ học nghiên cứu văn học là xu hướng
chung của thời đại, nhưng đồng nhất nghiên cứu văn học vào ngữ học là
3
không cần thiết. Trần thuật học có một vị trí không thể thiếu trong tự sự học
và ta cũng cần có sự phân biệt rõ ràng giữa hai thuật ngữ này.
Tên gọi Tự sự học (Narratology) là do nhà nghiên cứu Pháp gốc
Bungari Tz.Todorov đề xuất năm 1969 trong sách Ngữ pháp “Câu chuyện
mười ngày”, làm cho ngành nghiên cứu tự sự trước nay có được một cái tên
chính thức và trở thành một khoa nghiên cứu có tính độc lập vì nội hàm văn
hoá của nó. Kể từ khi ông đề xuất, lý luận tự sự đã thay thế cho lý luận về tiểu
thuyết và trở thành một bộ môn nghiên cứu liên ngành có tính quốc tế, nó liên
ngành vì nghiên cứu tự sự học phải liên kết với ngôn ngữ học, sử học, nhân
loại học, tự sự học không đóng khung trong tiểu thuyết mà vận dụng cả vào
quả để phần tích diễn ngôn tự sự và đọc hiểu văn bản tự sự. Tuy nhiên đối
tượng nghiên cứu của tự sự học kinh điển chủ yếu là các tác phẩm tương đối
đơn giản như truyện cổ tích, truyện kể thời Phục Hưng nên không thích hợp
với các hình thức tự sự phức tạp. Các công trình tự sự hậu kinh điển đều cố
gắng khắc phục các nhược điểm đó.
Nhà nghiên cứu Hà Lan Mieke Bal đã kết hợp nghiên cứu cấu trúc
chuyện với văn bản và định nghĩa khác hẳn Todorov: "Tự sự học là lý luận về
trần thuật, văn bản trần thuật, hình tượng, hình ảnh sự vật, sự kiện cùng sản
phẩm văn hoá “kể chuyện”" [43,tr.12]. Bà chia tự sự làm ba tầng bậc: văn bản
trần thuật (narrative text), chuyện kể (story), chất liệu (fabula). Công trình của
bà được đánh giá là đã cung cấp một hệ thống khái niệm được định nghĩa khá
chính xác, chặt chẽ và hệ thống, có thể làm cơ sở cho các công trình nghiên
cứu tự sự.
Tự sự học hậu kinh điển còn quan tâm đến mối quan hệ giữa tự sự và
tiếp nhận, các quy luật động trong tự sự, mở rộng phạm vi liên ngành của tự
sự học hay các khuynh hướng mới như tự sự học so sánh, tự sự học văn hoá
học...Tự sự học đến nay vẫn nhận được sự quan tâm nghiên cứu rộng rãi trên
thế giới.
5
2.1.2. Tự sự học ở Việt Nam
Tự sự học khi được giới thiệu vào Việt Nam đã được hưởng ứng rộng
rãi của giới nghiên cứu, đặc biệt là các trường đại học. Hội thảo Tự sự học
năm 2001 tại Đại học sư phạm Hà Nội và việc xuất bản tập công trình tuyển
chọn Tự sự học, một số vấn đề lí luận và lịch sử (Trần Đình Sử chủ biên) đã
đánh dấu một bước khởi đầu mới trong nghiên cứu tự sự học ở nước ta có rất
nhiều nhà nghiên cứu tiến hành dịch thuật các công trình của các tác giả trên
thế giới như Mieke Bal, Roland Barthes, Hayden White...Các nhà nghiên cứu
nhiều nhưng thành quả văn học ông để lại cho chúng ta lại rất lớn.
Đã có hàng trăm bài viết và sách viết về nhà văn, tiêu biểu là các công
trình: Nam Cao nhà văn hiện thực xuất sắc - Hà Minh Đức, Nam Cao, đời
văn và tác phẩm - Hà Minh Đức, Nam Cao, phác thảo sự nghiệp và chân
dung - Phong Lê, Nghĩ tiếp về Nam Cao - Hội nhà văn, Nam Cao - Nhà văn
hiện thực xuất sắc, nhà văn nhân đạo chủ nghĩa lớn - Trần Đăng Xuyền, Chủ
nghĩa hiện thực Nam Cao - Trần Đăng Xuyền, Nam Cao về tác gia và tác
phẩm - Bích Thu sưu tầm, tuyển chọn. Đặc biệt cuốn Nam Cao về tác gia và
tác phẩm là một tài liệu quý cho người nghiên cứu.
Đây là những công trình khoa học toàn diện và hệ thống của những
chuyên gia hàng đầu đã gần 40 năm đầu tư với di sản văn học phong phú và
đặc sắc của Nam Cao. Trong quá trình nghiên cứu, GS. Hà Minh Đức đã luôn
luôn nỗ lực tìm hiểu và ghi nhận những giá trị văn hóa phong phú và tiềm ẩn
của tác phẩm Nam Cao. Ông cho rằng, qua thời gian và những đổi thay của xã
hội, tác giả Nam Cao “vẫn ở giữa chúng ta và ngày càng được quý mến”. Còn
GS. Phong Lê thì “nghiện” đọc Nam Cao, ông nhấn mạnh đọc văn Nam Cao
không phải chỉ biết được “nội dung” mà thực chất để chiêm nghiệm các ý
tưởng của Nam Cao, những ý tưởng cùng với cách thể hiện và dẫn dắt câu
7
văn trong cách viết của tác giả là “bí quyết” cho một sự hấp dẫn thực sự dài
lâu.
Khi viết lời giới thiệu cho tập Đôi lứa xứng đôi (1941) nhà văn Lê Văn
Trương cho rằng Nam Cao đã dám nói và dám viết những cái khác người,
đem cho người đọc những khoái cảm mới mẻ và Nam Cao là một con người
can đảm. Nhà văn Vũ Bằng rất mến mộ Nam Cao, ngay khi đọc được một
truyện của nhà văn, Vũ Bằng đã thích lối hành văn với những câu kệch cỡm,
nghịch ngợm, có khi dớ dẩn nhưng đậm đà có duyên.
Nhà nghiên cứu Phong Lê trong bài viết Nam Cao - nhìn từ cuối thế kỷ
đã nhận xét về văn Nam Cao: "...Ở văn Nam Cao gần như có đủ các chất liệu:
hài và bi, trào phúng và chính luận, triết lý và trữ tình, nghịch dị và nhàm tẻ,
thô nhám và chất thơ... cho đến nay, sau hơn nửa thế kỷ, bất chấp mọi biến
động xã hội, ngôn ngữ Nam Cao vẫn cập được các bến bờ thời sự" 33,tr.113.
Vấn đề điểm nhìn gắn với người kể chuyện, về đối thoại đã được nhà
nghiên cứu Trần Đình Sử phân tích rất tâm đắc trong những truyện ngắn của
Nam Cao.
Có một số nhà nghiên cứu đi sâu tìm hiểu về không gian- thời gian tự sự
trong văn Nam Cao. Nhà nghiên cứu Đào Duy Hiệp trong cuốn Phê bình văn
học từ lý thuyết hiện đại tiếp cận vấn đề thời gian trên cơ sở ứng dụng lý thuyết
của Genette trên ba cấp độ: trật tự, thời lưu, tần suất để phân tích truyện Chí
Phèo. Bài viết cho thấy trong một văn bản tự sự, người nghiên cứu luôn phải
tìm tòi khám phá về nghệ thuật thời gian ở tác phẩm Nam Cao chứ không chỉ
đơn thuần nghiên cứu thời gian xuất phát từ nội dung, không chỉ khảo sát các
từ ngữ chỉ thời gian để tìm sự vận động của cốt truyện. Những trang văn của
Nam Cao thấm đẫm nước mắt xót xa, buồn tủi cho kiếp người. Kiếp người như
Chí Phèo ám ảnh mãi trong ta cũng bởi thời gian mang đậm chất suy tư về cuộc
sống và con người của người sinh ra nó. Đây là nhân vật say độc nhất vô nhị
9
trong văn học Việt Nam bắt đầu ngay từ những dòng đầu tiên của tác phẩm,
say trong suốt hơn ba mươi trang thời gian văn bản, và còn say cho đến khi hắn
kết thúc cuộc đời.
Dựa trên khái niệm đưa ra của R.Barthes, nhà nghiên cứu Nguyễn Thái
Hoà với bài viết Chức năng chỉ dẫn trong đoạn mở đầu truyện ngắn Nam Cao
đã làm sáng rõ hơn tài năng của nhà văn là “một trong những người kể chuyện
hay nhất của thế kỷ”. Bằng lí thuyết tự sự học, dựa trên sự thống nhất những
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn kết hợp vận dụng nhiều phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp thống kê - phân loại.
- Phương pháp phân tích tổng hợp.
- Phương pháp so sánh - đối chiếu.
6. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo nội dung chính
được triển khai trong 3 chương.
Chương 1. Người kể chuyện trong truyện ngắn Nam Cao.
Chương 2. Nghệ thuật tổ chức cốt truyện trong truyện ngắn Nam Cao.
Chương 3. Giọng điệu tự sự và ngôn ngữ tự sự trong truyện ngắn Nam Cao.
11
NỘI DUNG
CHƢƠNG 1
NGƢỜI KỂ TRUYỆN TRONG TRUYỆN NGẮN NAM CAO
Vấn đề người kể chuyện là một vấn đề trung tâm trong lí thuyết tự sự đó là hình tượng ước lệ về người trần thuật trong tác phẩm văn học, chỉ xuất
hiện khi nào câu chuyện được kể bởi một nhân vật cụ thể trong tác phẩm. Đó
có thể là hình tượng của chính tác giả xưng "tôi", dĩ nhiên không nên đồng
nhất hoàn toàn với tác giả ngoài đời, có thể là một nhân vật đặc biệt do tác giả
sáng tạo ra (ví dụ: người điên trong Nhật ký người điên của Lỗ Tấn) hoặc có
thể là một người biết một câu chuyện nào đó. Một tác phẩm có thể có một
hoặc nhiều người kể chuyện.
Từ đầu thế kỉ XX vấn đề người kể chuyện đã được các nhà hình thức
chủ nghĩa Nga và nhóm các nhà nghiên cứu Bắc Âu đặc biệt quan tâm đến.
Tuy nhiên, trải qua công trình của những nhà nghiên cứu thế hệ sau như
W.Kayser, Iu.Lotman. R.Barthes Tz.Todorov, G.Genette, M.Bal…mới đưa ra
được quan điểm tương đối rõ ràng về người kể chuyện.
trong truyện, có sự "khác nhau tự nhiên" giữa thế giới người kể chuyện và thế
giới hành động.
Nhà nghiên cứu M.Butor có ý kiến: "Tiểu thuyết là một hình thức đặc
biệt của trần thuật. Tam giác tự sự ba chiều" tác giả - nhân vật - độc giả" dần
được thay thế bởi sự huyền diệu và phức tạp hơn của tứ giác tự sự với "tác giả
- người tự sự - nhân vật - độc giả" 39, tr.32. Ý kiến đó đã bao quát được cả
tầm quan trọng của người kể chuyện với các tác phẩm tự sự nói chung và với
truyện ngắn nói riêng.
Trong truyện ngắn Nam Cao, người kể chuyện thực sự là một sản phẩm
của sự sáng tạo nghệ thuật, là một công cụ do nhà văn hư cấu nên để kể một
câu chuyện.Việc tác giả lựa chọn kiểu người kể chuyện nào để kể sẽ mang
13
tính quan niệm, nhằm mục đích chuyển tài tư tưởng, nội dung một cách hiệu
quả nhất, có thể là người kể chuyện từ ngôi thứ nhất, người kể chuyện từ ngôi
thứ ba, người kể chuyện bên trong, người kể chuyện bên ngoài.
1.1. Điểm nhìn tự sự
Khái niệm người kể chuyện có liên quan mật thiết với điểm nhìn tự sự,
điểm nhìn là một vấn đề then chốt của kết cấu. M.Bakhtin xem điểm nhìn
chính là lập trường mà xuất phát từ đó câu chuyện được kể, hình tượng được
miêu tả hay sự việc được thông báo. Theo G.Genette có thuật ngữ tương
đương là "sự tiêu điểm hoá" (focalisation) trong đó phân biệt rất rõ giữa người
kể chuyện (narrtor) và người tiêu điểm hoá hay còn gọi là người quan sát
(focalizer) - nhân vật mà nhận thức của anh ta sẽ định hướng cho sự phát triển
của truyện.
Như vậy, điểm nhìn chính là sự lựa chọn cho một cự li trần thuật nào
đó để kể lại câu chuyện, mà có thể giảm thiểu hoặc loại trừ khả năng can thiệp
của tác giả vào các sự kiện miêu tả, làm cho tác phẩm trở nên tự nhiên, gần
những câu kể lại hành động truyện có một số câu chứa đại từ nhân xưng ngôi
thứ nhất "tôi", "tôi" đồng nhất với một nhân vật trong truyện.
- Một văn bản truyện kể theo điểm nhìn khách quan: nếu như những
câu kể lại hành động truyện đều là những câu ở ngôi thứ ba (ông, bà, anh, chị,
nó ...); trường hợp đặc biệt, nếu xuất hiện ngôi thứ nhất "tôi, ta" với tư cách
người kể chuyện nhưng không phải là nhân vật nào trong truyện kể.
- Một văn bản truyện kể theo hình thức di chuyển điểm nhìn: nếu văn
bản được kể theo điểm nhìn di chuyển từ điểm nhìn khách quan sang điểm
nhìn chủ quan, từ điểm nhìn tác giả sang điểm nhìn nhân vật, hoặc từ điểm
nhìn của nhân vật này sang điểm nhìn của nhân vật khác.
Khảo sát truyện ngắn Nam Cao từ khía cạnh điểm nhìn chúng ta nhận
thấy có ba tình huống trần thuật.
15
1.1.1. Trần thuật theo điểm nhìn khách quan
Đây là cái nhìn bên ngoài không được nhân vật hoá mà ẩn đằng sau là
hình bóng tác giả, như vậy sẽ tạo ra được một khoảng cách nhất định với nhân
vật, sự kiện được miêu tả, nhà văn cố gắng tối đa trong việc giảm sự can thiệp
của mình vào tác phẩm, tạo cho độc giả độ tin cậy cao vào các sự kiện được
kể lại. Truyện được kể từ ngôi thứ ba, người kể chuyện vắng mặt, không qui
chiếu vào một nhân vật nào trong truyện, người kể chuyện chỉ có vai trò dẫn
truyện và là người sắp xếp, thông báo các tình tiết, sự kiện có thể xảy ra hoặc
sắp xảy ra.
Trong truyện ngắn Nam Cao trước Cách mạng, số lượng truyện được
trần thuật theo điểm nhìn khách quan chiếm số lượng lớn hơn những truyện
được trần thuật theo điểm nhìn chủ quan.
Tình huống trần thuật theo điểm nhìn khách quan có hai dạng tồn tại là
trần thuật theo điểm nhìn tác giả và trần thuật theo điểm nhìn bên trong của
giữa một bên là ông lý, một bên là ông khoá: "Mối hiềm bắt đầu từ một cái
trần ngôn. Ông lý Nhưng ngờ cho ông lý khoá Mẫn làm”. Thực chất cuộc trả
thù này có nguyên do từ việc các ông bóp nặn tiền từ dân và được một vụ trót
lọt: "Nguyên có vợ chồng nhà kia, lúc lấy nhau, bởi quá nghèo nên chẳng
cưới cheo gì. Họ ăn ở với nhau theo kiểu vợ chồng theo. Mới đây chị vợ đẻ
được một đứa con. Ông lý nhà ta biết thóp anh chồng non mặt, nên đến loè
anh ta đủ thứ…". Từ đó cuộc trả thù của hai ông bắt đầu với những suy tính
mưu mô mà không ai chịu ai.
Như vậy, so với cách kể chuyện truyền thống (hoàn toàn ngôi thứ ba),
truyện kể xen kẽ ngôi thứ nhất - ngôi thứ ba theo điểm nhìn tác giả rất ít,
song, sự linh động trong cách đưa cái "ta" khách quan khác nhau trong mỗi
câu chuyện thể hiện sự tìm tòi của nhà văn về cách kể.
19
1.1.1.2. Trần thuật theo điểm nhìn bên trong của nhân vật trong truyện.
Kể chuyện theo điểm nhìn bên trong của một nhân vật trong truyện là
cách để tác giả rút ngắn khoảng cách giữa độc giả và nhân vật, tạo cảm giác
không có sự can thiệp của tác giả - người kể chuyện. Người kể chuyện có vẻ
như rút lui hoặc ẩn sau nhân vật chính mà chúng ta gặp, độc giả có thể nhập
thân để hiểu, đồng cảm với nhân vật theo mỗi lứa tuổi, giới tính, suy nghĩ,
ước mơ...
Theo M.Jahn, đó là các truyển kể mà các sự kiện diễn ra trong truyện
được nhìn dưới con mắt của một người phản ánh bên trong ở ngôi thứ ba ...
Một trong những hiệu quả chính của điểm nhìn bên trong là thu hút sự chú ý
tới ý nghĩ của nhân vật - người phản ánh và bỏ qua người kể chuyện và quá
trình sắp xếp trần thuật. Theo quan niệm của M.Jahn, truyện kể theo điểm
nhìn này đem lại những cái nhìn sinh động của các nhân vật trong truyện. Đó
là góc nhìn của những em nhỏ phải chịu khổ sở (Từ ngày mẹ chết, Bài học
bệnh tật, đói nghèo, dường như hiện hữu ở khắp nơi. Tác giả đã bóc tách từng
mảng của cuộc sống trần trụi, phơi bầy ra trước mắt bạn đọc. Truyện Một bữa
no đề cập đến chuyện muôn thuở của con người là cái ăn, sự đói ăn. Một bà
lão đói triền miên, bà chỉ mong được ăn một bữa, nhưng ngờ đâu sau khi
được ăn no, thoả mãn cơn đói thì bà đã phải lìa bỏ cõi đời. Tâm trạng của bà
lão được tác giả thể hiện rất chân thực: "...Người đói mãi, vớ được một bữa,
tất bằng nào cũng chưa thấm tháp. Những người no mãi, người ta có cần ăn
nhiều lắm đâu. Vậy thì bà cứ ăn đi. Ăn đến kỳ no. Để ăn rình thì ăn ít cũng là
ăn ... Bà ăn như không biết gì. Đến khi bà đã tạm no, thì cơm vừa hết. Chỉ còn
một ít bám dưới đáy và chung quanh nồi. Bà vẫn tiếc… Bà bỗng nhiên nhận
ra rằng bà no quá. Bụng bà tưng tức. Bà nới thắt lưng ra một chút cho dễ thở.
Bà tựa lưng vào vách để thở cho thoả thích. Mồ hôi bà toát ra đầm đìa. Bà
nhọc lắm. Ruột gan bà xôn xao. Bà muốn lăn kềnh ra nghỉ nhưng sợ người ra
21
cười. Ôi chao! Già yếu thì khổ thật. Đói cũng khổ mà no cũng khổ. Chưa ăn
thì người rời rã. Ăn rồi thì có phần còn nhọc hơn chưa ăn. Ôi chao! ...".
Rồi bà lão suốt nửa tháng trời tức bụng, nôn mửa, tả lỵ và bà chết. Cái
khổ và cái đói đeo đuổi cuộc đời con người ta cho đến lúc chết, đáng lẽ ra một
người già như bà lão phải được con cháu mang ơn chăm sóc nhưng không
phải người già nào cũng được hưởng niềm an ủi từ con cháu. Chồng bà chết
sớm, con bà cũng chết, con dâu bà bỏ đứa cháu lại bà nuôi để đi lấy chồng
khác, bà nuôi cháu lớn chút thì cũng phải cho nó đi làm con nuôi lấy tiền
trang trải cuộc sống, ốm đau bệnh tật cũng sinh ra. Chuỗi dài đau khổ đói
nghèo của con người ta cứ kéo dài mãi vô tận như vậy, kết cục của bà lão
khiến ta thấy thật đau xót.
Có thể nói, trong những truyện được trần thuật theo điểm nhìn khách
quan, tác giả có thể lúc thì bước vào thế giới nội tâm của nhân vật này, lúc lại
Trong truyện Cái mặt không chơi được, "tôi" luôn phải đi tìm một tiếng
đồng lòng với mình nhưng sao thật khó, tất cả chỉ vì tôi có "cái mặt không
chơi được". Bất cứ ai gặp "tôi" lại thấy không thể gần gũi được lâu dài. Con
người đôi khi rất kỳ lạ là đã lấy hình thức, vẻ bên ngoài làm thước đo cho việc
xem xét anh ta có thể là bạn mình hay không. "Tôi" rất buồn, buồn vì không
ai muốn tìm hiểu mình, "tôi" rất muốn được chia sẻ với người khác nhưng họ
cứ lánh xa. Trong cuộc hành trình vào Nam "tôi" mong muốn tìm được bạn
nhưng điều ấy cũng không thể. Cuối cùng "tôi" cũng tìm thấy được người có
thể chia sẻ với mình, gặp một cách giản dị không ai ngờ sau bao lâu tìm kiếm.
Có thể thấy nhân vật "tôi" trong truyện ngắn luôn phải cố gắng, nỗ lực
và trăn trở để vượt qua khỏi những ranh giới nhất định để gần người khác, để
được chứng tỏ mình và muốn họ hiểu được mình. Ranh giới đó chỉ là "cái mặt
không chơi được" của anh ta, mà bao người xa lánh. Ai cũng biết rằng cuộc
sống luôn có những ranh giới, giới hạn, có những điều trong giới hạn đó hết
25