BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
TRƯỜNG CÁN BỘ QUẢN LÝ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT II
********
Lớp: Bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý Nhà nước ngạch Kiểm lâm viên
Khóa: KLV 34/2017
TIỂU LUẬN CUỐI KHÓA
“XỬ LÝ TÀI SẢN TRÊN ĐẤT SAU KHI THU HỒI, HỦY GIẤY
CHỨNG NHẬN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT CẤP TRÙNG
TRÊN ĐẤT LÂM NGHIỆP TẠI KHU RỪNG
PHÒNG HỘ DẦU TIẾNG
TỈNH TÂY NINH”
Họ và tên học viên: Cao Thị Kim Ngân
Đơn vị công tác: Chi cục Kiểm lâm Tây Ninh
Tháng 05 năm 2017
MỤC LỤC
trang
MỤC LỤC .............................................................................................................. i
CHỮ VIẾT TẮT ................................................................................................... ii
1. ĐẶT VẤN ĐỀ ............................................................................................ 1
2. PHÂN TÍCH VẤN ĐỀ .............................................................................. 4
3. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ .......................................................................... 10
3.1. Mục tiêu giải quyết vấn đề.................................................................. 10
3.2. Cơ sở giải quyết vấn đề ...................................................................... 10
3.2.1. Cơ sở pháp lý để giải quyết vấn đề .............................................. 10
3.2.2. Đường lối, quan điểm xử lý, giải quyết vấn đề ............................ 12
Nghị định
QĐ
Quyết định
UBND
Ủy ban nhân dân
PTNT
Phát triển nông thôn
TCĐC
Tổng cục Địa chính
TT
Thông tư
TTg
Thủ tướng
ii
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Tuy nhiên, trong nhiều năm qua công tác quản lý bảo vệ và phát triển
rừng tại Khu rừng phòng hộ Dầu Tiếng còn gặp nhiều khó khăn. Đặc biệt, vấn
đề sử dụng đất quy hoạch rừng phòng hộ để sản xuất nông nghiệp tại Khu rừng
phòng hộ Dầu tiếng diễn ra hết sức phức tạp, đã trở thành nỗi nhức nhối cho Ban
quản lý cũng như chính quyền địa phương. Do là khu rừng phòng hộ đầu nguồn
xung yếu, công tác bảo vệ diện tích rừng hiện có, nâng cao chức năng phòng hộ
là viêc làm ưu tiên hàng đầu, việc phá rừng, mở rộng lấn, chiếm đất rừng để
canh tác nông nghiệp là vấn đề hết sức nghiêm trọng, ảnh hưởng rất lớn đến
chức năng phòng hộ của rừng, giảm độ che phủ rừng, làm tăng cao nguy cơ xói
mòn, xạc lở, gia tăng lũ lụt, hạn hán, ngập úng vào mùa mưa và thiếu nước vào
mùa khô ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường sinh thái và vấn đề an sinh xã hội.
Năm 2009, UBND tỉnh Tây Ninh đã ban hành Quyết định số 875/QĐ-UBND
ngày 13/9/2009 về việc ban hành Kế hoạch giải quyết tình trạng bao, lấn chiếm
và sử dụng đất lâm nghiệp không đúng mục đích trên địa bàn tỉnh Tây Ninh.
Qua 5 năm thực hiện, Kế hoạch giải quyết tình trạng bao, lấn chiếm và sử dụng
đất lâm nghiệp sai mục đích trên địa bàn tỉnh Tây Ninh cơ bản đã hoàn thành
vào năm 2014, đã thu hồi được 3.974,89 ha/4.114,7 ha đạt 96,60% tổng diện tích
đất Lâm nghiệp phải giải quyết theo kế hoạch. Tuy nhiên, qua thống kê và điều
tra trên thực tế lại phát sinh thêm một vấn đề là việc cấp trùng Giấy CNQSDĐ
trên đất Lâm nghiệp của UBND hai cấp xã, huyện đây là một trong những
nguyên nhân chính dẫn đến chưa thể giải quyết việc sử dụng đất quy hoạch Lâm
nghiệp sai mục đích một cách dứt điểm trên địa bàn toàn tỉnh Tây Ninh.
Cũng như tình hình chung của toàn tỉnh, đến nay việc thu hồi đất có Giấy
CNQSDĐ cấp trùng trên đất lâm nghiệp thuộc quy hoạch Khu rừng phòng hộ
Dầu Tiếng đang gặp nhiều khó khăn, vì người được cấp Giấy, mặc dù đã đồng ý
giao lại Giấy CNQSDĐ cấp trùng, song BQL vẫn chưa thể thu hồi lại diện tích
đất do người dân đòi bồi thường cây trồng trên đất (theo Quyết định 875 chỉ đề
cập về Giấy CNQSDĐ cấp sai, không quy định về bồi thường tài sản trên đất).
còn nhiều bất cập, lỏng lẻo, các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý rừng và
đất lâm nghiệp chưa chặt chẽ và đồng bộ; việc xử lý vi phạm không kiên quyết,
triệt để, kéo dài; công tác quản lý, thực hiện quy hoạch, kế hoạch bảo vệ và phát
triển rừng không đạt mục tiêu, kế hoạch đề ra. Theo số liệu thống kê đến cuối
năm 2011, diện tích đất lâm nghiệp bị lấn chiếm và sử dụng không đúng mục
đích trên địa bàn tỉnh là 4.114,7 ha.
Để giải quyết tình trạng trên, nhằm lập lại kỷ cương pháp luật về quản lý,
bảo vệ rừng và sử dụng đất lâm nghiệp đúng quy hoạch theo quy định của pháp
luật, UBND tỉnh Tây Ninh đã ban hành Quyết định số 875/QĐ-UBND ngày 13
tháng 9 năm 2009 về ban hành Kế hoạch giải quyết tình trạng bao, lấn chiếm và
sử dụng đất lâm nghiệp không đúng mục đích trên địa bàn tỉnh Tây Ninh, với
chủ trương xử lý kiên quyết các đối tượng vi phạm theo đúng quy định của Pháp
luật, phù hợp với thực tế quy hoạch bảo vệ phát triển rừng; xử lý phải đảm bảo
công khai, minh bạch, đúng đối tượng, công bằng, nghiêm minh theo quy định
của Pháp luật, mọi trường hợp vi phạm đều phải được xử lý, không tạo tiền lệ
xấu cho việc phát sinh các vi phạm tiếp theo; xử lý đến đâu, tổ chức quản lý đất
đến đó, đồng thời triển khai trồng lại rừng theo quy hoạch; trong quá trình xử lý,
chú trọng công tác tuyên truyền, vận động để mọi người hiểu và chấp hành; hạn
chế đến mức thấp nhất lãng phí xã hội, ổn định cuộc sống người dân. Qua 5 năm
thực hiện, Kế hoạch giải quyết tình trạng bao, lấn chiếm và sử dụng đất lâm
nghiệp sai mục đích trên địa bàn tỉnh Tây Ninh cơ bản đã hoàn thành vào năm
2014, đã thu hồi được 3.974,89 ha/4.114,7 ha đạt 96,60% tổng diện tích đất Lâm
nghiệp phải giải quyết theo kế hoạch, số còn lại chưa được giải quyết dứt điểm
là do phần diện tích có Giấy CNQSDĐ cấp trùng trên đất lâm nghiệp và có Hợp
4
đồng, giấy xác nhận cho trồng cây không đúng mục đích, sai quy hoạch. Cụ thể,
một số hồ sơ cấp Giấy CNQSDĐ sai quy định như sau:
quy hoạch trên đất Lâm nghiệp. Trong báo cáo cho biết, Tổng số Giấy
CNQSDĐ cấp trùng trên đất Lâm nghiệp trên địa bàn toàn tỉnh là 239 Giấy, diện
tích 386,83 ha (diện tích phải thu hồi tăng so với số liệu kế hoạch tăng trên 200
ha). Cụ thể, tại Khu rừng phòng hộ Dầu Tiếng tổng số Giấy CNQSDĐ cấp trùng
trên đất Lâm nghiệp là 87 Giấy/176,49 ha, trong đó diện tịch rừng phòng hộ bị
cấp trùng là 10 Giấy/29,66 ha, rừng sản xuất là 77 Giấy/146,83 ha. Đến nay, đã
thu hồi, hủy Giấy CNQSDĐ và thu hồi đất được 7 Giấy/15,9 ha toàn bộ là diện
tích rừng phòng hộ, đồng thời tiến hành chuyển sang trồng rừng được 3 trường
hợp, diện tích là 6,5 ha; đã thu hồi, hủy giấy nhưng chưa thu hồi được đất là 80
Giấy/160,59 ha, trong đó 3 Giấy/13,76 ha là diện tích rừng phòng hộ, còn 77
Giấy/146,83 ha là diện tích rừng sản xuất.
Việc cấp Giấy CNQSDĐ trùng trên đất Lâm nghiệp thuộc quy hoạch của
Khu rừng phòng hộ Dầu tiếng, xuất pháp bởi các nguyên nhân chính như sau:
- Về khách quan: từ năm 1993, khi mới thành lập các Ban quản lý rừng
(song song với thời điểm thực hiện chương trình 327) được Nhà nước giao đất
trên bản đồ, nhưng công tác phân ranh, đóng mốc ngoài thực địa chưa được thực
hiện, dẫn đến việc chính quyền địa phương xã, huyện không biết chính xác ranh
giới nên huyện đã cấp Giấy CNQSDĐ trùng trên đất Lâm nghiệp. Thời điểm cấp
Giấy CNQSDĐ hầu hết đều được huyện cấp sau năm 1993.
- Về chủ quan: do hai cấp xã, huyện trên địa bàn Khu rừng phòng hộ Dầu
Tiếng không chấp hành nghiêm các văn bản của Trung ương, không có hồ sơ
cấp Giấy CNQSDĐ nào đầy đủ theo đúng quy định. Mặc khác, việc phối hợp
giữ các xã với BQL Khu rừng phòng hộ Dầu Tiếng để xác định sơ đồ, vị trí
trước khi tiến hành cấp Giấy CNQSDĐ nông nghiệp cho các hộ gia đình không
được chặt chẽ, đồng bộ đẫn đến cấp trùng trên đất Lâm nghiệp.
Đến nay, Ban quản lý Khu rừng phòng hộ Dầu Tiếng vẫn chưa có một
giải pháp hữu hiệu để giải quyết tình trạng nêu trên, việc thu hồi lại đất đã cấp
trùng cứ thế mà kéo dài, trì trệ; vấn đề trên xảy ra bởi các nguyên nhân trực tiếp,
gián tiếp và sâu xa như sau:
thuê mướn, nguồn thu nhập thấp và bấp bênh, không đủ trang trải chi phí hàng
ngày, thiếu lương thực, họ cần đất để sản xuất nông nghiệp phục vụ như cầu
thiết yếu hàng ngày. Vì vậy, mà công tác tuyên truyền vận động người dân tự
nguyên giao đất, tham gia nhận khoán bảo vệ rừng là việc làm thiếu khả thi.
7
- Do sự phối hợp giữa các ngành, các cấp còn hạn chế, nguyên nhân trực
tiếp này xuất phát từ các nguyên nhân sâu xa như:
+ Năng lực quản lý và năng lực lập kế hoạch sử dụng đất còn hạn chế, bao
gồm cả do thiếu quy hoạch sử dụng đất liên ngành, thiếu sự phối hợp, thống nhất
giữa ngành Nông nghiệp và ngành Tài nguyên môi trường. Nên khi quy hoạch
đã không định hướng khu vực tái đinh cư và bố trí đất sản xuất nông nghiệp cho
họ từ trước, đến nay không còn quỹ đất để thực hiện theo quy định.
+ Quyền hạn, trách nhiệm về sự phối hợp liên ngành chưa được làm rõ
hoặc chưa phù hợp.
+ Sự phối hợp thông tin giữa các cấp các ngành liên quan với chính quyền
địa phương các cấp chưa thật sự gắn kết, chưa kịp thời và thiếu sự đồng bộ.
+ Công tác kiểm tra, đấu tranh xử lý tài sản trên đất khi thu hồi, hủy Giấy
CNQSDĐ cấp trùng trên đất Lâm nghiệp chưa nghiêm, chưa kịp thời và chưa có
sự phối hợp chặt chẽ, đồng bộ giữa các cơ quan bảo vệ pháp luật với ngành Lâm
nghiệp, ngành Tài nguyên Môi trường và chính quyền địa phương;
+ Công tác đấu tranh, xử lý các hành vi vi phạm Luật bảo vệ và phát triển
rừng còn nhiều hạn chế, nhiều quyết định xử lý không được đối tượng vi phạm
chấp hành, tính răn đe thấp.
+ Việc phân định ranh mốc biên giới giữa hai quốc gia Việt Nam và
Campuchia chậm thực hiện, đồng thời ranh giới đất nông lâm cũng chưa được
xác định, vì vậy BQL Khu rừng phòng hộ Dầu Tiếng gặp khó khăn, lúng túng
trong công tác đo đạc, chậm phát hiện những diện tích đất trong quy hoạch trồng
rừng bị bị cấp nhầm cho sản xuất nông nghiệp.
kháng giữa cá nhân đối với cơ quan quản lý lâm nghiệp trên địa bàn. Từ đó, làm
giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng và cơ quan hành chính nhà nước ở địa
phương, gây ra bất bình trong nhân dân, dẫn đến việc thực thi pháp luật trong
cộng đồng dân cư bị hạn chế.
Việc xử lý chưa triệt để còn tạo dư luận xấu trong xã hội về việc thực thi
pháp luật và quy định của nhà nước trong lâm nghiệp. Tốn kém chi phí đầu tư
cho bảo vệ rừng nhưng hiệu quả không cao.
9
3. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
3.1. Mục tiêu giải quyết vấn đề
- Giải quyết, xử lý dứt điểm diện tích đang trồng cây nông nghiệp trên đất
quy hoạch Lâm nghiệp tại Khu rừng phòng hộ Dầu Tiếng còn tồn tại, phát sinh
sau khi tổng kết thực hiện Quyết định số 875/QĐ-UBND ngày 13 tháng 05 năm
2009 của UBND tỉnh;
- Nhắm lập lại trật tự kỷ cương pháp luật về quản lý, bảo vệ rừng và sử
dụng đất Lâm nghiệp đúng quy hoạch, theo quy định của Pháp luật;
- Thu hồi, chuyển toàn bộ diện tích đất lâm nghiệp đang trồng cây nông
nghiệp sang trồng lại rừng, bảo vệ rừng và khoanh nuôi tái sinh rừng theo quy
hoạch.
3.2. Cơ sở giải quyết vấn đề
3.2.1. Cơ sở pháp lý để giải quyết vấn đề
Để làm rõ vấn đề xử lý tài sản trên đất sau khi thu hồi, hủy Giấy
CNQSDĐ tại Khu rừng phòng hộ Dầu Tiếng, những văn bản pháp luật sau đây
có liên quan đến những quy định bắt buộc khi một khu rừng phòng hộ nào đó có
người dân đang sinh sống và canh tác nông nghiệp bên trong và những gì cho
phép cũng như quyền lợi của những người dân được gì để từ đó đề xuất các giải
pháp giải quyết một cách thấu đáo nhất, vừa phù hợp với các quy định của pháp
khoán bảo vệ rừng, quy định: “Hộ gia đình được nhận tiền công khoán để trồng
rừng, bảo vệ rừng, khoanh nuôi tái sinh rừng theo hợp đồng giao khoán; được
thu hái các lâm sản phụ (như dầu, nhựa, hoa, quả…) và khai thác cây phù trợ,
trồng xen trên diện tích giao khoán”.
- Quyết định số 07/2012/QĐ-TTg ngày 08/02/2012 của Thủ tướng Chính
phủ ban hành một số chính sách tăng cường công tác bảo vệ rừng; Tại Điểm d,
Khoản 1, Điều 2: “Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về quản lý, bảo
vệ, phát triển rừng, sử dụng rừng và đất lâm nghiệp...”.
- Điều 5 Quyết định số 147/2007/QĐ-TTg ngày 10/09/2007 của Thủ
tướng Chính phủ về một số chính sách phát triển rừng sản xuất giai đoạn 20072015 quy định về “hỗ trợ đầu tư trồng rừng và khuyến lâm”.
- Quyết định 875/QĐ-UBND quyết định của UBND tỉnh Tây Ninh ngày
13/9/2009 về Kế hoạch giải quyết tình trạng bao, lấn chiếm và sử dụng đất lâm
nghiệp sai mục đích trên địa bàn tỉnh Tây Ninh. Tại tiểu mục 2.2 mục III việc xử
11
lý di dời, hủy bỏ cây trồng, các công trình xây dựng không đúng quy hoạch,
không đúng mục đích đối với rừng phòng hộ có nội dung “các hộ được ký hợp
đồng nhận khoán trồng rừng ổn định, lâu dài với chủ rừng và được hưởng các
quyền lợi quy định của Nhà nước”, “các hộ được đền bù vốn đầu tư quy định
theo tỉ lệ cây bị chặt hạ và được sử dụng phần cây cao su, cây ăn quả bị chặt
hạ”; tại tiểu mục 2.5 mục III đối với trường hợp cấp Giấy CNQSDĐ sai trong
đất quy hoạch lâm nghiệp “đề nghị UBND các huyện Tân Châu, Tân Biên,
Dương Minh Châu và Thị xã 1 chỉ đạo các phòng chức năng liên quan rà soát,
thống kê và tiến hành thu hồi ngay các Giấy CNQSDĐ đã cấp sai trong quy
hoạch đất lâm nghiệp…”
Từ các căn cứ quy định pháp luật nêu trên, việc thu hồi lại diện tích đất
quy hoạch lâm nghiệp đã bị cấp trùng cho các hộ dân trong tại Khu rừng phòng
hộ Dầu Tiếng sẽ được xử lý triệt để và trồng lại rừng theo quy định nhà nước.
3.2.2. Đường lối, quan điểm xử lý, giải quyết vấn đề
thực hiện hiệu quả. Phương án xử lý này đã nhận được nhiều sự đồng thuận từ
phía người dân, chính vì thế mà đến nay 100% diện tích đất quy hoạch lâm
nghiệp bị cấp trùng đã được thu hồi và chuyển sang trồng rừng theo đúng quy
hoạch.
3.2.4. Cơ sở thực tiễn và điều kiện đảm bảo tính khả thi của việc giải quyết
vấn đề
Sau hơn 2 năm, xử lý giải quyết thu hồi, hủy Giấy CNQSDĐ cấp trùng
trên đất quy hoạch lâm nghiệp. Tại Khu rừng phòng hộ Dầu Tiếng, đã giải quyết
dứt điểm được 3 trường hợp, thu hồi được 6,5 ha đất và đã được đưa vào trồng
rừng theo đúng quy hoạch. Trên cơ sở những kinh nghiệm trong quá trình thực
hiện xử lý tài sản trên đất khi thu hồi, hủy Giấy CNQSDD cấp trùng trên đất lâm
nghiệp tại những Khu rừng khác trên địa bàn tỉnh nên việc xử lý tài sản trên đất
khi thu hồi, hủy Giấy CNQSDD cấp trùng trên đất lâm nghiệp một cách dứt
điểm tại Khu rừng phòng hộ Dầu Tiếng là hoàn toàn có thể thực hiện được.
3.3. Đề xuất phương án giải quyết vấn đề
Trên cơ sở lý luận và qua tình hình thực tế, tôi đề xuất hai phương án triển
khai thực hiện để giải quyết đối với 80/87 trường hợp có Giấy CNQSDĐ cấp
trùng trên đất lâm nghiệp thuộc Khu rừng phòng hộ Dầu Tiếng, diện tích 160,59
ha. Sau khi đã thu hồi, hủy Giấy CNQSDĐ, nhưng chưa xử lý tài sản trên đất và
thu hồi đất được tiến hành xử lý như sau:
3.3.1. Phương án 1
13
Giao Chủ tịch UBND huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh chỉ đạo thực hiện
đúng theo quy định của Pháp luật, thu hồi đất giao cho BQL Khu rừng phòng hộ
Dầu Tiếng quản lý, người sử dụng đất được BQL rừng ưu tiên giao khoán đất
trồng lại rừng theo quy hoạch, biện pháp giải quyết cụ thể như sau:
- Rà soát, cấp đổi lại Giấy CNQSDĐ nông nghiệp đối với những trường
hợp đã cấp Giấy CNQSDĐ nông nghiệp, nhưng trùng một phần trên đất lâm
- Ưu điểm:
+ Đảm bảo đúng quy định, tính nghiêm minh của Pháp luật;
+ Nâng cao được vai trò, trách nhiệm của người thực hiện nhiệm vụ Nhà
nước giao;
+ Sớm hoàn thành kế hoạch trồng rừng trên diện tích đất Lâm nghiệp
được giao;
- Nhược điểm:
+ Gây lãng phí xã hội, nhất là những trường hợp trồng cây cao su chưa
đến hạn thanh lý vườn cây trên đất Lâm nghiệp thuộc quy hoạch Khu rừng
phòng hộ Dầu Tiếng;
+ Ngân sách Nhà nước chi để giải quyết đền bù tài sản (cây trồng) trên đất
sau khi thu hồi đất là khá lớn;
+ Sẽ phát sinh khiếu nại, khiếu kiện.
3.3.2. Phương án 2
Giao Chủ tịch UBND huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh chỉ đạo:
- Ra soát, cấp đổi lại Giấy CNQSDĐ nông nghiệp đối với những trường
hợp trước đây cấp Giấy CNQSDĐ trùng một phần trên đất Lâm nghiệp;
- Tiếp tục vận động người được cấp Giấy CNQSDĐ đã cấp trùng trên đất
Lâm nghiệp (sau khi đã thu hồi, hủy Giấy) chuyển đất sang trồng lại rừng đúng
mục đích theo quy hoạch đất Lâm nghiệp giai đoạn 2011 – 2020. Những trường
hợp không tự nguyện chuyển đất sang trồng lại rừng, áp dụng các biện pháp giải
quyết cụ thể như sau:
Đối với diện tích thuộc quy hoạch rừng phòng hộ:
+ Loại đất ghi trên Giấy CNQSDĐ là cây hàng năm, đất lúa; hiện trạng
đang trồng cây nông nghiệp ngắn ngày, đất trống; vận động chuyển sang trồng
rừng; trường hợp không chấp nhận trồng rừng thi cho các đối tượng này sử dụng
15
đến hết 20 năm (kể từ năm được cấp Giấy CNQSDĐ trùng trên đất Lâm
- Ưu điểm:
+ Vẫn đảm bảo chấp hành theo đúng Pháp luật;
+ Giảm lãng phí xã hội do chặt bỏ cây trồng không đúng mục đích trên
đất Lâm nghiệp (so với phương án 1);
+ Nhận được nhiều sự đồng thuận từ phía người dân (so với phương án
1);
+ Giảm thiểu tối đa tình hình khiếu nại, khiếu kiện (so với phương án 1).
- Nhược điểm:
+ Thời gian thu hồi đất kéo dài, dẫn đến chậm hoàn thành kế hoạch trồng
rừng trên diện tích đất Lâm nghiệp đã bị cấp trùng.
Chọn phương án:
Từ những ưu điểm, nhược điểm của 2 phương án nêu trên; trên quan điểm
cá nhân tôi chọn phương án 2 làm phương án để giải quyết vấn đề xử lý tài sản
trên đất khi thu hồi, hủy Giấy CNQSDĐ cấp trùng trên đất lâm nghiệp tại Khu
rừng phòng hộ Dầu Tiếng, tỉnh Tây Ninh. Vì phương án 2 có tình linh hoạt, khả
thi, phù hợp với thực tế hiện nay từ đó đem lại hiệu quả cao hơn cho việc giải
vấn đề nêu trên.
17
4. KIẾN NGHỊ VÀ KẾT LUẬN
4.1. Kiến nghị
Để thực hiện tốt giải pháp nêu trên, đảm bảo ổn định và phát triển bền
vững diện tích rừng của tỉnh nói chung và của Khu rừng phòng hộ Dầu Tiếng
nói riêng, tôi kiến nghị một số vấn đề sau:
Đối với Chính phủ và các Bộ, Ngành Trung ương:
- Đề nghị Chính phủ, Bộ Nông nghiệp và PTNT, Bộ Tài nguyên và Môi
để để tăng thu nhập cho người dân địa phương theo quy định.
- Chỉ đạo BQL Khu rừng phòng hộ Dầu Tiếng tổ chức kiểm tra, quản lý
và hướng dẫn chăm sóc tốt diện tích rừng đã trồng, bảo đảm đạt chất lượng, tăng
cường chức năng phòng hộ của rừng;
- Chỉ đạo UBND hai cấp huyện, xã phối hợp chặt chẽ với BQL Khu rừng
phòng hộ Dầu Tiếng trong quá trình xử lý thu hồi diện tích đất bị cấp trùng, để
thu hồi đến đâu thì tiến hành trồng rừng ngay đến đó để nhanh chóng hoàn thành
quy hoạch đã đề ra.
Đối với UBND cấp huyện, đề nghị:
Tăng cường trách nhiệm quản lý Nhà nước về rừng và đất Lâm nghiệp
trên địa bàn huyện; đồng thời, chỉ đạo cơ quan Tài nguyên và Môi trường và
Kiểm lâm hỗ trợ BQL rừng và các chủ rung khác xử lý, giải quyết triệt để vẫn
đề sử dụng đất Lâm nghiệp không đúng mục địch quy hoạch.
Đối với UBND cấp xã, đề nghị:
- Tăng cường vai trò quản lý Nhà nước về Lâm nghiệp của UBND xã,
thường xuyên tổ chức tuyên truyền, giáo dục nhân dân tham gia bảo vệ và phát
triển rừng.
- Xây dựng quy ước bảo vệ rừng ở các cộng đồng dân cư gần rừng.
4.2. Kết luận
Thu hồi và tiến hành trồng lại rừng số diện tích đất bị cấp trùng trên đất
quy hoạch Lâm nghiệp tại Khu rừng phòng hộ Dầu Tiếng là một vấn đề cần thiết
và cấp bách để nâng cao khả năng phòng hộ của rừng, giữ vững được kỷ cương,
Pháp luật của Nhà nước. Việc đề xuất các giải pháp xử lý tài sản trên đất trên cơ
sở hạn chế tối đa mức thiệt hại về tài sản, thu nhập của người dân; đồng thời gắn
cuộc sống của người dân với các hoạt động về bảo vệ và phát triển rừng thông
qua hình thức giao, khoán lâu dài được tổ chức sản xuất nông, ngư nghiệp kết
19
hợp trên diện tích đất chưa có rừng, diện tích rừng chưa khép tán, tạo công ăn
HIỆN TRẠNG
1994
Cây hàng năm
Đang trồng Cao su
1996
Cây hàng năm
Đang trồng Cao su
1977
DIỆN
TÍCH
(Ha)
1
0,45
1
0,45
1
1,4842
1,5
Lúa
Đang trồng Cao su
2
3,819
16
35,0811
1998
Cây hàng năm
Đang trồng Cao su
5
9,75
Cây lâu năm
Đang trồng Cao su
3
0,387
Đất lúa
Đang trồng Cao su
2
1,45
Không xác định
Đang trồng Cao su
1
5,23
4
6,0759
2,8315
Cây hàng năm
Đang trồng Cao su
1
4
15,9404
Đang trồng Cao su
1
0,945
Chỉ cất nhà
1
0,455
Cây lâu năm
Đang trồng Cao su
1
13,3295
Đất lúa
Đang trồng Cao su
1
2004
SỐ
GIẤY
Cây hàng năm
Đang trồng Cao su
1
1,07
Đất lúa
Đang trồng Cao su
1
0,05
Cây lâu năm và đất ở
Chỉ cất nhà
2
0,2092
Đang trồng Cao su
2
1,77
8
11,8463
Cây hàng năm
2005
Cây hàng năm
Đang trồng Cao su
1
2,08
Cây lâu năm
Đang trồng Cao su
2
4,8066
Cây lâu năm và đất ở
5
10,357
Cây lâu năm
Chỉ cất nhà
1
0,0644
Đất ở
Chỉ cất nhà
1
0,015
7
4,6571
2007
Cây hàng năm
Đang trồng Cao su
1
1,426
3
2,61
Cây lâu năm và đất ở
Đang trồng Cao su
1
1
Cây lâu năm
Chỉ cất nhà
1
0,385
Cây hàng năm
Đang trồng Cao su
1
1,225
1
0,6744
1
0,6744
87,000
176,490
Cây lâu năm
TỔNG CỘNG
Đang trồng Mì
1 TH có nhà
Có nhà
1,681
Đang trồng Cao su
Không xác định
1 TH có nhà