Hệ thống kiểm soát nội bộ bảo hiểm xã hội thành phố hồ chí minh thực trạng và giải pháp - Pdf 44

1

CHƯƠNG 1
GIỚI THIỆU CHUNG
1. 1. Giới thiệu đề tài
1.1.1 Đặt vấn đề
Hiện nay, với sự cạnh tranh khốc liệt trên thị trường toàn cầu, áp lực suy
thoái và những khó khăn nhiều chiều từ nền kinh tế, các doanh nghiệp đòi hỏi để
ngăn chặn gian lận, giảm thiểu sai sót, khuyến khích hiệu quả hoạt động và nhằm
đạt được sự tuân thủ các chính sách và quy trình thiết lập thì Doanh nghiệp ngày
càng quan tâm nhiều hơn đến hệ thống kiểm soát nội bộ (KSNB) nhằm giúp tổ
chức hạn chế tối đa những sự cố, mất mát, thiệt hại, gian lận đảm bảo số liệu kế
toán, báo cáo tài chính được chính xác và tăng hiệu quả hoạt động của tổ chức. Sử
dụng tối ưu các nguồn lực nhằm đạt được mực tiêu đề ra vì vậy việc thiết lập cho
Doanh nghiệp một hệ thống KSNB thích hợp với quy mô, đặc điểm của đơn vị và
phù hợp đảm bảo có hiệu quả và điểm quan trọng là hệ thống KSNB phải hữu hiệu
góp phần duy trì công tác quản trị của đơn vị đạt hiệu quả .
Tuy nhiên, khi đề cập đến hệ thống KSNB, mỗi tổ chức lại hiểu khác nhau;
việc triển khai hệ thống KSNB trong các tổ chức cũng theo những cách thức khác
nhau và thường theo kinh nghiệm tích lũy được.
Do đó việc thiết lập hệ thống KSNB là xác lập một cơ chế giám sát mà ở đó
quản lý không bằng lòng tin, kinh nghiệm mà bằng những quy định rõ ràng, nhất
là hiện nay kinh tế nước ta đang dần hội nhập với thế giới thì đòi hỏi phải xây
dựng hệ thống KSNB theo chuẩn quốc tế là vô cùng bức bách và tối quan trọng
cho mọi tổ chức. Tuy nhiên, hệ thống KSNB bao gồm những thành phần gì,
phương pháp xây dựng ra sao, phương pháp nào để đánh giá tính khả thi của
hệ thống KSNB, phương pháp nào để cải tiến hệ thống KSNB, v.v… vẫn còn
là thắc mắc của rất nhiều tổ chức.
Một số tổ chức còn mơ hồ về hệ thống kiểm soát nội bộ. Một số khác
nhầm lẫn về mặt chức năng giữa KSNB và kiểm toán nội bộ. Nhiều tổ chức
mơ hồ về phương pháp tiến hành xây dựng hệ thống KSNB. Nhiều tổ chức không

cho người lao động một cách tốt nhất nhằm ổn định cuộc sống khi có những rủi ro
xảy đến khi mất đi nguồn thu nhập, khi ốm đau, khi về già …
Vì vậy, từ sự phát triển của nền kinh tế thị trường, đối tượng tham gia
BHXH ngày càng được mở rộng không ngừng, do đó nguồn thu BHXH ngày càng
lớn, đòi hỏi BHXH cần có cơ chế quản lý quỹ, cơ chế quản lý tài chính ngày càng
phải đổi mới hoàn thiện hơn, phù hợp với yêu cầu đòi hỏi ngày càng cao của


3

ngành BHXH để đáp ứng việc quản lý nguồn quỹ vô cùng lớn và phù hợp với xu
thế quốc tế, theo kịp sự phát triển của đất nước trong tình hình mới.
Theo số liệu báo cáo của ngành BHXH: Công tác thực hiện thu BHXH,
BHYT năm 2012 đạt khoản 125.120 tỷ đồng, tổng số tiền chi trả lương hưu và
trợ cấp BHXH là 98.941 tỷ đồng. Thanh toán chi phí khám chữa bệnh BHYT
cho 121.145.823 lượt người, tăng 6.953678 lượt người (6,1%) so với cùng kỳ
năm 2011. Tổng số tiền thanh toán khám chữa bệnh BHYT là 28.940 tỷ đồng(1)
Do vậy, với nhiệm vụ quản lý một nguồn quỹ to lớn, ảnh hưởng đến an sinh
xã hội của đại bộ phận người lao động trên cả nước. Với những lý do trên, đòi hỏi
cơ quan BHXH phải có một hệ thống kiểm soát nội bộ (KSNB) hữu hiệu, do đó
việc dựa trên những lý thuyết hiện đại về kiểm soát nội bộ để nâng cao năng lực
quản lý, phòng tránh rủi ro tại BHXH là một yêu cầu cấp thiết.
Trong tất cả BHXH của 64 Tỉnh Thành phố trong cả nước, thì Bảo Hiểm xã
hội Thành phố Hồ Chí Minh là đơn vị có mức đóng góp cao nhất (chiếm 30% )
là một địa bàn có diện tích rộng lớn, có nhiều thành phần kinh tế tập chung, số lao
động lớn, với nhiều khu công nghiệp, Công ty nước ngoài, Công ty liên doanh,
Cty TNHH, Khối cơ quan nhà nước, Văn phòng đại diện ….Do vậy khối lượng
công tác thực hiện BHXH tại thành phố Hồ Chí Minh rất lớn và phức tạp nhất là
trong việc thu BHXH và Chi các chế độ BHXH. Tuy vậy BHXH TP.HCM luôn là
cánh chim đầu đàn của Ngành BHXH; Đơn vị luôn đi đầu trong công tác cải cách

COSO 1992 và hướng dẫn INTOSAI 1992 có bổ sung năm 2001.
- Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng của hệ thống tổ chức và hoạt
động kiểm soát nội bộ tại cơ quan Bảo Hiểm Xã Hội Thành Phố Hồ Chí Minh
thông qua việc trao đổi, phỏng vần , khảo sát thực tế với Ban Lãnh đạo Bảo hiểm
xã hội TP.HCM và tại các Phòng nghiệp vụ tại trụ sở BHXH TP.HCM và 24
BHXH Quận, huyện trên địa bàn TP HCM, đặc biệt trong công tác quản lý thu
BHXH và chi chế độ chính sách BHXH tại đơn vị .
- Qua việc khảo sát và nghiên cứu, đề ra những ưu khuyết điểm trong công
tác tổ chức hoạt động hệ thống kiểm soát nội bộ tại đơn vị ảnh hưởng đến: Báo
cáo tài chính tin cậy, các luật lệ và quy định được tuân thủ, hoạt động của đơn vị
hữu hiệu và hiệu quả .


5

- Từ các kết quả nghiên cứu trên sẽ đưa ra kết luận, giải pháp, kiến nghị, đề
xuất các giải pháp hoàn thiện tổ chức hoạt động hệ thống kiểm soát nội bộ trong
thời gian tới cho Bảo Hiểm Xã Hội Thành Phố Hồ Chí Minh .
1.2.2. Nội dung nghiên cứu
1.2.2.1. Phương pháp luận
- Nghiên cứu hệ thống kiểm soát nội bộ theo báo cáo của COSO 1992, cũng
như hệ thống KSNB trong khu vực công theo tổ chức INTOSAI ban hành. Từ cơ
sở lý thuyết, tác giả lập bản câu hỏi để khảo sát thực trạng hệ thống KSNB của
BHXH TP.HCM cho các nội dung:


Lịch sử hình thành phát triển và cơ cấu tổ chức quản lý của BHXH




Phạm vi nghiên cứu :
-

Thời gian nghiên cứu: đề tài và số liệu sơ cấp thu thập từ : 01/2011 đến
12/2012.

-

Không gian nghiên cứu: Khảo sát thực trạng xây dựng hệ thống KSNB
tại Bảo Hiểm Xã Hội Thành Phố Hồ Chí Minh( bao gồm 11 Phòng
nghiệp vụ và 24 BHXH Quận Huyện trên địa bàn TP HCM ).

-

Giới hạn của đề tài:


Đối tưởng khảo sát: Bảo Hiểm Xã Hội Thành Phố Hồ Chí Minh.



Tiếp cận hệ thống KSNB theo 5 bộ phận cấu thành chứ không theo
từng chu trình nghiệp vụ nên hệ thống KSNB được thể hiện dưới
góc nhìn chung nhất.



Tiếp cần khảo sát theo hướng “Có” hoặc “Không có ” , chỉ xây
dựng một số yếu tố trong các bộ phận cấu thành hệ thống KSNB,
chưa định lượng được chất lượng của toàn bộ hệ thống KSNB.

đảm sự hợp lý để đạt được các mực tiêu của tổ chức”(5)
Như vậy trong định nghĩa trên của COSO và INTOSAI, có 4 nội dung cơ
bản là : quá trình, con ngưởi, đảm bảo hợp lý và mục tiêu . Chúng được hiểu như
sau :

(2 )



Kiểm soát nội bộ là một quá trình.



Kiểm soát nội bộ được thiết kế và vận hành bởi con người.



Kiểm soát nội bộ cung cấp một sự đảm bảo hợp lý.

Định nghĩa của Hiệp hội kế toán viên công chứng Hoa kỳ( AICPA)
Định nghĩa của Liên đoàn kế toán quốc tế (IFAC)
(4 )
Định nghĩa của Treadway Commission- Sách KSNB-ĐH Kinh tế TP HCM-Bộ môn Kiểm toán
(5)
Định nghĩa của Tổ chức quốc tế các cơ quan kiểm toán tối cao- />(3 )


8





9

1.3.2.2. Chế độ chính sách của BHXH
Chế độ BHXH là một bộ phận quan trọng trong chính sách kinh tế và xã
hội của Nhà nước, là những chủ trương, quan điểm, nguyên tắc BHXH để giải
quyết các vấn đề xã hội liên quan trực tiếp đến một tầng lớp đông đảo người lao
động và có ảnh hưởng quan trọng đến các vấn đề kích thích phát triển kinh tế và
ổn định chính trị của đất nước. Trong mỗi giai đoạn phát triển kinh tế khác nhau,
chính sách BHXH được Nhà nước đề ra và thực hiện phù hợp với mục tiêu, nhiệm
vụ phát triển kinh tế, xã hội từng giai đoạn.
Các chế độ mà BHXH đang thực hiện :
- Chế độ Hưu trí – BHXH 1 lần.
- Chế độ Tử tuất.
- Chế độ Ốm đau
- Chế độ Thai sản.
- Chế độ tai nạn lao động – bệnh nghề nghiệp.
- Chế độ BHYT
- Chế độ Bảo hiểm thất nghiệp .
1.3.2.3. Hệ thống tổ chức BHXH
Bảo hiểm xã hội Việt Nam là đơn vị trực thuộc Chính phủ, được quản lý
bởi Hội đồng quản lý và được Phân cấp tổ chức, quản lý theo hệ thống dọc, tập
trung thống nhất từ Trung ương đến Địa phương, gồm có :
1. Ở Trung ương là Bảo hiểm xã hội Việt Nam.
2. Ở Tỉnh, Thành phố trực thuộc trung ương là Bảo hiểm xã hội tỉnh, thành
phố trực thuộc Bảo hiểm xã hội Việt Nam.
3. Ở Huyện, Quận, Thị xã, Thành phố thuộc Tỉnh là Bảo hiểm xã hội
Huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc Bảo hiểm xã hội Tỉnh, Thành phố .


mực của khuôn mẫu KSNB.
Trong khu vực công, một số quốc gia như Mỹ đã có những công bố chính
thức về áp dụng KSNB cho khu vực công: Chuẩn mực về kiểm toán của Tổng Kế
toán Nhà nước Hoa Kỳ (GAO)(9)(1999) đưa ra KSNB đặc thù trong tố chức lĩnh
vực công. GAO cũng đưa ra năm yếu tố về KSNB gồm: Môi trường kiểm soát,
đánh giá rủi ro, các hoạt động kiểm soát, thông tin và truyền thông, giám sát.
Trên bình diện quốc tế,với vai trò tiên phong trong kiểm toán khu vực công
Hệ thống kiểm toán Nhà nước do Tổ chức Quốc tế các cơ quan kiểm toán tối cao
(INTOSAI) cũng ban hành hướng dẫn quốc tế về hệ thống KSNB trong khu vực
công tương tự cũng như báo cáo của COSO tuy nhiên khía cạnh giá trị đạo đức
được nhấn mạnh nhằm ngăn chặn sự gian dối và tham nhũng trong khu vực công.

(8) Theo Rezaee Coso ,1995
(9 ) United States General Accounting office


12

Đánh giá
rủi ro

Hoạt động
kiểm soát

Thông tin và
truyền thông

Môi trường
kiểm soát


13

- Đề tài “Hoàn thiện chính sách bảo hiểm xã hội Việt Nam trong thời kỳ
đổi mới ” năm 2005 do Thạc sĩ Đỗ Quang Khánh . Đề tài khái quát thực trạng hệ
thống tổ chức BHXH VN trong giai đoạn trước đây với những thành tụ và hạn chế
đồng thời đưa ra các biện pháp hoàn thiện chính sách BHXH trong thời gian tới.
Đề tài chỉ phân tích hệ thống BHXH theo hướng kinh tế học một cách khái quát ,
cũng chưa đi sâu vào hệ thống kiểm soát nội bộ của BHXH .
- Đề tài “ Hoàn thiện quản lý Quỹ BHXH ở Việt Nam ” năm 2004 của
Tiến sĩ Nguyễn Văn Sinh . Luận án đã tập trung phân tích tình hình tài chính quỹ
BHXH qua các thời kỳ và đưa ra các giải pháp liên quan đến quản lý và cân đối
quỹ BHXH.
1.3.3.3. Các vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu
Sau khi tìm hiểu và nghiên cứu các đề tài trên, nhận thấy các đề tài trên đã
đáp ứng được một số nội dung trong công tác hoạt động của BHXH. Tuy nhiên do
thời kỳ này vẫn chưa ban hành Luật BHXH (2006) , Luật BHYT(2008), và nghị
định 116/2011/NĐ-CP ngày 14/12/2011 quy định cơ cấu tổ chức BHXH Việt Nam
nên đến thời điểm hiện nay nhiều điểm không còn phù hợp. Chưa nêu lên được hệ
thống kiểm soát nội bộ trong việc kiểm soát tính hữu hiệu trong việc thu chi
BHXH, cũng chưa đi sâu vào hệ thống kiểm soát nội bộ của BHXH TP.HCM.
Tóm lại, để bổ sung những khiếm khuyết nêu trên, nội dung luận văn cần
tiếp tục nghiên cứu là:
- Hệ thống hóa hệ thống kiểm soát nội bộ của COSO và những hướng dẫn
chuẩn mực KSNB trong khu vực công do INTOSAI thực hiện vào nghiên cứu
thực trạng tại Bảo Hiểm Xã Hội Thành Phố Hồ Chí Minh, đề xuất giải pháp hoàn
thiện hệ thống KSNB tại đơn vị này.
- Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng của hệ thống tổ chức và hoạt
động kiểm soát nội bộ tại cơ quan Bảo Hiểm Xã Hội Thành Phố Hồ Chí Minh
trong công tác quản lý thu BHXH và chi chế độ chính sách BHXH tại đơn vị, đề ra
những ưu khuyết điểm trong công tác tổ chức hoạt động hệ thống kiểm soát nội

Hình thức ban đầu của KSNB là kiểm soát tiền và bắt đầu bằng cuộc cách
mạng công nghiệp. Thuật ngữ Kiểm soát nội bộ bắt đầu từ giai đoạn này .
Năm 1929, Thuật ngữ Kiểm soát nội bộ được đề cập chính thức trong một
công bố của Cục Dự trữ Liên ban Hoa Kỳ (Federal Reserve Bulletin), và được
định nghĩa là một công cụ để bảo vệ tiền và các tài sản khác đồng thời thúc đẩy
nâng cao hiệu quả hoạt động, và đây là một cơ sở để phục vụ cho việc lấy mẫu thử
nghiệm của kiểm toán viên.
Năm 1936, Hiệp hội kế toán viên công chứng Hoa kỳ ( AICPA-American
Institute of Certified Public Accountants) đã định nghĩa kiểm soát nội bộ “… là
các biện pháp và cách thức được chấp nhận và được thực hiện trong một tổ chức
để bảo vệ tiền và các tài sản khác, cũng như kiểm tra sự chính xác trong ghi chép
của sổ sách ”.
Tuy nhiên trên thực tế, vào năm 1949, AICPA đã công bố công trình
nghiên cứu đầu tiên về KSNB với nhan đề “ Kiểm soát nội bộ, các nhân tố cấu
thành và tầm quan trọng đối với việc quản trị doanh nghiệp và đối với kiểm toán
viên độc lập ”. Sau đó AICPA đã ban hành nhiều chuẩn mực kiểm toán đề cập đến
những khái niệm và khía cạnh khác nhau của KSNB.


16

- Năm 1958, Ủy ban thủ tục kiểm toán ( CAP-Committee on Auditing
Procedure ) trực thuộc AICPA ban hành báo cáo về thủ tục kiểm toán SAP 29(
SAP-Statement on Auditing Procedure ) về “ Phạm vi xem xét KSNB của kiểm
toán viên viên độc lập ” trong đó lần đầu tiên phân biệt kiểm soát nội bộ về quản lý
và KSNB về kế toán. Năm 1962, CAP tiếp tục ban hành SAP 33 và SAP 54 năm
1972 đã làm rõ hơn khái niệm kiểm soát nội bộ về quản lý và KSNB về kế toán .
Sau đó, AICPA ban hành các chuẩn mực kiểm toán (SAS-Statement on
Auditing Standard) để thay thế các thủ tục kiểm toán (SAP), trong đó :
-SAS 1(1973), duyệt xét lại SAP 54 và đã đưa ra định nghĩa cụ thể hơn về

-

Hiệp hội quản trị viên tài chính (FEI)

-

Hiệp hội kế toán viên quản trị (IMA)

-

Hiệp hội kế toán viên quản trị (IIA).

Trước tiên , COSO đã chính thức sử dụng từ kiểm soát nội bộ thay vì kiểm
soát nội bộ về kế toán; AICPA cũng quyết định không sử dụng thuật ngữ kiểm
soát kế toán và kiểm soát quản lý. Đến năm 1988, chuẩn mực SAS 55(4/1988)
cũng đưa ra 3 bộ phận của kiểm soát nội bộ là: môi trường kiểm soát, hệ thống kế
toán và các thủ tục kiểm soát .
Năm 1992, COSO đã phát hành báo cáo đầu tiên trên thế giới đưa ra khuôn
mẫu kiểm soát nội bộ một cách đầy đủ nhất và có hệ thống. Báo cáo COSO đã đưa
ra 5 bộ phận của kiểm soát: Môi trường kiểm soát, đánh giá rủi ro, các hoạt động
kiểm soát, thông tin và truyền thông và giám sát. Báo cáo COSO 1992 đã cung cấp
một tầm nhìn rộng và mang tính quản trị trong đó KSNB không chỉ còn là một vấn
đề liên quan đến báo cáo tài chính mà được mở rộng ra cho cả các phương diện
hoạt động và tuân thủ. Kiểm soát nội bộ được quan tâm đặc biệt trong các lĩnh vực
thiết kế hệ thống và kiểm toán, chủ yếu hướng vào cách thức cải tiến hệ thống
KSNB và vận dụng trong các cuộc kiểm toán.
2.1.3. Giai đoạn từ năm 1992 trở về sau
Báo cáo COSO 1992 đã tạo lập được cơ sở lý thuyết cơ bản vể KSNB. Sau
đó hàng loạt các nghiên cứu khác về KSNB theo nhiều lĩnh vực khác nhau đã ra
đời:

- ISA 315 “ Hiểu biết về tình hình kinh doanh , môi trường hoạt động đơn
vị và đánh giá rủi ro các sai sót trọng yếu” yêu cầu kiểm toán viên cần có
hiểu biết đầy đủ về KSNB.
- ISA 265 “ Thông báo về những khiếm khuyết của kiểm soát nội bộ” yêu
cầu kiểm toán viên độc lập thông báo về các khiếm khuyết của KSNB do
kiểm toán viên phát hiện được cho những người có trách nhiệm trong
đơn vị.
 Phát triển theo hướng kiểm toán nội bộ:


19

Hiệp hội kiểm toán viên nội bộ (IIA) cũng đã đưa ra định nghĩa về KSNB,
tuy nhiên vì IIA là thành viên của COSO nên về nguyên tắc không có sự khác biệt
giữa định nghĩa của IIA và COSO.
 Phát triển theo hướng chuyên sâu vào các ngành nghề cụ thể:
Báo cáo Basel (1998) của Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng đã đưa ra
công bố về khuôn khổ KSNB trong ngân hàng. Nội dung cơ bản là đã vận dụng
các lý luận cơ bản của COSO vào lĩnh vực ngân hàng.
2.2. Sự phát triển của hệ thống KSNB trong khu vực công
Trong lĩnh vực công, KSNB rất được coi trọng và là đối tượng được quan
tâm đặc biệt của kiểm toàn viên nhà nước. Một số quốc gia như Mỹ, Canada đã có
những công bố chính thức về KSNB áp dụng cho các cơ quan đơn vị khu vực
công. Chuẩn mực về kiểm toán của Tổng kế toán nhà nước Hoa Kỳ (GAO)1999
đề cập đến KSNB trong đơn vị khu vực công. GAO đưa ra 5 yếu tố về KSNB bao
gồm: Môi trường kiểm soát, đánh giá rủi ro, các hoạt động kiểm soát, thông tin
truyền thông, giám sát.
Bên cạnh đó năm 1992, INTOSAI đã ra bản hướng dẫn về chuẩn mực
KSNB đề cập đến việc nâng cấp các chuẩn mực KSNB nhằm hỗ trợ cho việc thực
hiện và đánh giá KSNB. Tài liệu này đã tích hợp các lý luận chung về KSNB của

-Tuân thủ theo pháp luật hiện hành và các nguyên tắc quy định;
-Bảo vệ các nguồn tài sản, nguồn lực chống thất thoát, sử dụng sai mục
đích và gây tổn thất.
So với báo cáo của COSO 1992 và hướng dân INTOSAI 1992 thì khía
cạnh giá trị đạo đức trong hoạt động được thêm vào. Mục tiêu của KSNB được
nhấn mạnh hơn, đó chính là tầm quan trong trong hành vi đạo đức nhằm ngăn
chặn và phát hiện sự gian dối và tham nhũng trong khu vực hành chính công. Do
trong khu vực hành chính công thì hầu như các đơn vị đều hoạt động dựa trên
ngân sách nhà nước, do vậy cần phải có một cơ chế quản lý chặt chẽ nhằm đảm
bảo ngân sách được sử dụng đúng mục đích, các tài sản quản lý không bị thất thoát
hay lãng phí.
Đồng thời INTOSAI 2001 cũng cho rằng đạo đức của các công chức, viên
chức là khi họ thực thi nhiệm vụ một cách công tâm, đúng pháp luật đồng thời


21

trong việc phòng chống, phát hiện các gian lận, tham nhũng trong khu vực công
nhằm củng cố lòng tin của công chúng. Chính vì vậy mà lãnh đạo của các Chính
phủ quan tâm đến tài liệu này và xem tài liệu này là nền tảng để thực hiện và giám
sát KSNB trong các tổ chức khu vực công.
2.2.2. Sự phát triển của hệ thống KSNB trong khu vực công
Dựa trên nền tảng báo cáo COSO, hướng dẫn về KSNB của INTOSAI cũng
đưa ra các yếu tố cấu thành hệ thống KSNB gồm 5 yếu tố:


22

Giám sát Thường xuyên
Giám sát Định kỳ

Là sự phân chia trách nhiệm, quyền hạn giữa các bộ phận, một cơ cấu tổ
chức hợp lý sẽ đảm bảo cho việc thông suốt trong việc phân chia quyền hạn và
trách nhiệm giữa các bộ phận trong đơn vị. Cơ cấu tổ chức được thiết kế nhằm
có thể ngăn ngừa hành vi vi phạm các quy chế KSNB và loại được những hoạt


24

động không phù hợp có thể làm cho các thủ tục kiểm soát mất tác dụng, dẫn đến
hành vi vi phạm và che dấu sai phạm và gian lận.
Qua mô tả cơ cấu tổ chức đơn vị sẽ tạo cho mỗi thành viên trong đơn vị
hiểu được nhiệm vụ, trách nhiệm cụ thể của mình; qua đó giúp cho họ đề ra kế
hoạch thực hiện nhiệm vụ cụ thể để hoàn thành mục tiêu đề ra. Do đó đơn vị cần
có bảng mô tả công việc cụ thể hoặc quy định chức năng nhiệm vụ từng bộ phận
và phải cụ thể hóa bằng văn bản quy định.
- Chính sách nhân sự
Chính sánh nhân sự gồm: Tuyển dụng, huấn luyện, đánh giá, bổ nhiệm,
khen thưởng, kỷ luật …có ảnh hưởng vô cùng lớn với môi trường kiểm soát để có
thể hạn chế rủi ro của KSNB. Nhà quản lý cần phải lập các kế hoạch chương trình
thi đua, khen thưởng, khuyến khích nhân viên bằng các hình thức khen thưởng cụ
thể, đồng thời nhà quản lý cũng cần có những biện pháp nghiêm khắc đối với hành
vi vi phạm.
2.2.2.2. Đánh giá rủi ro

Đánh giá rủi ro là bộ phận thứ hai của hệ thống kiểm soát nội bộ. Rủi ro là
những nguy cơ làm cho mục tiêu của tổ chức không đạt được. Bất cứ đơn vị loại
hình, quy mô nào, cấu trúc ra sao đều có những rủi ro tiềm ẩn, nó phát sinh từ các
nhân tố bên trong lẫn bên ngoài. Do vậy để đạt được mục tiêu của đơn vị, tổ chức
việc đánh giá rủi ro là rất quan trọng để phân tích đánh giá rủi ro nhằm giảm thiểu
thu hẹp rủi ro.

việc thực hiện các hoạt động, bảo vệ tài sản và phân công phân nhiệm.
Xét về mục đích hoạt động kiểm soát bao gồm: Kiểm soát phòng ngừa,
kiểm soát phát hiện và kiểm soát sửa sai .
2.2.2.4. Thông tin và truyền thông

- Thông tin: Là điều kiện không thể thiếu của hệ thống KSNB, là điều kiện
đầu tiên đảm bảo để duy trì và nâng cao năng lực kiểm soát trong đơn vị thông qua
việc hình thành các báo cáo để cung cấp thông tin về hoạt động tài chính và tuân
thủ. Do đó đòi hỏi tất cả các nghiệp vụ phải lập đầy đủ các chứng từ, sổ sách ghi
chép. Thông tin cần thiết cho mọi cấp độ vì nó cung cấp cho việc đạt mục tiêu
kiểm soát khác nhau. Thông tin được cung cấp một khi được truyền đi phải đảm
bảm thích hợp, kịp thời, chính xác.
- Truyền thông: Đây là một thuộc tính của thông tin, truyền thông là sự
trao đổi thông tin từ cấp trên xuống cấp dưới và ngược lại, cả từ bên trong đơn vị



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status